8
Tôi
vẫn tiếp tục cất bước đi tới trước nhà ga Tango-Yura
trên đường xe lửa Miyazu. Ngày trước trong cuộc du ngoạn
do trường trung học Đông Maizuru tổ chức, chúng tôi đã tới
đây cũng theo con đường này và khi về cũng đáp tầu ở
nhà ga này. Trên con đường cho xe hơi chạy trước cửa nhà
ga không có một bóng người khiến ta có thể thấy ngay dân
miền này kiếm ăn vào những ngày hạ ngắn ngủi khi có nhiều
du khách lũ lượt đổ về đây.
Tôi
quyết định dừng chân trong một quán trọ nhỏ bé, nơi tôi
thấy treo một tấm bảng: “Quán Yura - Lữ quán dành cho người
tắm biển.” Tôi kéo tấm cửa kính mài ở cổng và đánh
tiếng. Nhưng không có ai trả lời. Cát bụi phủ đầy các
bậc thềm trước cửa. Cửa sổ khép kín và trong nhà tối
om. Chẳng thấy một bóng người nào hết.
Tôi
đi ra cửa sau. Có một mảnh vườn nho nhỏ, gọn ghẽ với
vài khóm cúc úa tàn. Một xô nước ngất ngưỡng trên một
giá gỗ cao dành cho khách đi nghĩ hè dùng thay cái hoa sen để
dội hết những hạt cát bám vào mình mẩy sau khi tắm biển
lên.
Cách
căn nhà chính một khoảng ngắn có một căn nhà nhỏ, chắc
là nơi chủ quán sống với gia đình. Tôi nghe thấy tiếng
máy thu thanh lọt qua những khung cửa kính khép kín. Trong tiếng
máy mở to một cách vô ích có một vẻ trống rỗng khiến
tôi nghĩ rằng thực ra không có một người nào ở trong nhà
cả. Trước cửa ngoài ra có đôi ba đôi guốc gỗ nằm lăn
lóc. Tôi đứng ở ngoài và cứ mỗi lần tiếng máy thu thanh
bớt rầm rĩ là lại lên tiếng gọi. Nhưng, như tôi đã đoán
trước, trong nhà cũng chẳng một ai trả lời hết.
Một
bóng người hiện ra ở đàng sau. Mặt trời mờ nhạt thấm
qua bầu trời đầy mây. Mãi đến khi chợt nhìn thấy đường
vân gỗ trên cái hộp dựng người đàn bà đang nhìn tôi chằm
chằm. Bà ta béo múp nên đường nét tấm thân trắng nõn hơi
phệ ra; hai mắt ti hí bé đến nỗi mình khó có thể nói là
ba ta có mắt hay không nữa. Tôi hỏi thuê một phòng. Cũng
chẳng thèm bảo tôi đi theo, người đàn bà lẳng lặng quay
gót bước về phía cổng ngoài của lữ quán.
Người
ta dẫn tôi lên một căn phòng nhỏ trong góc tầng nhìn, quay
mặt ra biển. Phòng này đã đóng kín từ lâu và ngọn lửa
yếu ớt từ cái lò sưởi mà người đàn bà đã đem vào
cho tôi chẳng mấy lúc bốc khói um lên làm không khí trong
phòng khét lẹt hầu như không chịu nổi. Tôi mở cửa sổ
rồi vươn cả thân mình ra ngoài hướng về làn gió từ phương
bắc thổi lại. Về phía mặt biển các đám mây này hình
như là phản ánh của một xung động vô mục đích nào đó
của thiên nhiên. Ở một vài chỗ giữa các đám mây mình
có thể nhìn thấy những mảng trời - những kết tinh nho nhỏ,
xanh xanh - của lý trí minh mẫn. Còn chính biển cả thì lại
chẳng thấy đâu hết.
Đứng
gần cửa sổ, tôi bắt đầu theo đuổi những tưởng niệm
trước kia của mình. Tôi tự hỏi tại sao tôi lại không nghĩ
đến việc giết chết Lão sư phụ trước khi nghĩ đến việc
hỏa thiêu Kim Các Tự nhỉ. Bấy giờ tôi mới thấy là ý
định giết chết Lão sư phụ đã có lần thoáng qua óc tôi;
nhưng tôi tức thời hiểu ngay làm như vậy thực là vô hiệu.
Vì lẽ giả như tôi có giết được Lão sư phụ đi nữa thì
cái đầu thầy chùa trọc lóc và cái ác tính vô lực ấy
của ông vẫn sẽ cứ ẩn ẩn hiện hiện mãi mãi ở chân
trời tối om. Thường thường, sự vật như Kim Các Tự được
phú cho một cuộc sống thì không có cái nhất hồi tính nghiêm
mật là chỉ hiện hữu có một lần vào rồi cho mãi mãi.
Nhân gian chỉ được chia cho có một phần những thuộc tính
của thiên nhiên, và nhờ phương pháp thay thế hữu hiệu,
con người đã đem phần ấy ra truyền bá và làm cho nó sinh
sôi nẩy nở. Nếu đối tượng của sự giết người là tiêu
diệt cái nhất hồi tính của nạn nhân, thì sự giết người
ấy đã căn cứ trên một sự tính toán vĩnh viễn sai lầm.
Cứ thế tư tưởng của tôi đưa tôi tới chỗ nhận định
càng lúc càng rõ ràng hơn rằng giữa sự tồn tại của nhân
gian có một sự tương phản hoàn toàn. Một mặt, có một
ảo tưởng về sự bất tử thoát ra từ dáng vẻ khả diệt
của nhân gian; mặt khác, vẻ đẹp dường như bất hoại của
Kim Các Tự lại làm cho nhân gian thấy được khả năng tiêu
diệt chính ngôi chùa ấy. Chẳng thể làm sao mà tuyệt trừ
tận gốc những sinh vật có sống có chết như con người,
nhưng những sự vật bất diệt như Kim Các Tự thì lại có
thể bị tiêu diệt. Tại sao chưa ai nhận ra điều này nhỉ?
Không ai có thể nghi ngờ tính chất độc sáng trong kết luận
của tôi cả. Nếu rồi đây tôi có nổi lửa hỏa thiêu Kim
Các Tự từng được chỉ định là Quốc bảo từ năm Minh
Trị thứ ba mươi (1897) tức là tôi đã có một hành vi phá
hoại thuần túy và một hành vi phá diệt không sao cứu chữa
được, một hành vi thực sự đã làm suy giảm trong số khối
lượng của cái đẹp mà nhân gian đã tạo tác trên cõi đời
này.
Trong
khi tiếp tục suy nghĩ về những dòng này, tôi lại còn thấy
hài hước nữa mới lạ chứ. Tôi tự nhủ nếu thiêu hủy
Kim Các Tự thì tức là tôi đang làm một việc có hiệu quả
giáo dục lớn lao. Bởi lẽ việc làm này của tôi sẽ dậy
cho người đời biết suy loại mà thấy rằng nói đến bất
diệt thực là vô nghĩa. Người đời sẽ hiểu rằng Kim Các
Tự vẫn tiếp tục tồn tại, vẫn tiếp tục đứng sừng
sững gần Kính Triều trì trong suốt năm trăm năm mươi năm
qua thật chẳng phải là một sự bảo chứng nào cho nó hết.
Người đời sẽ đắm chìm trong một không khí bất an khi
ý thức rằng cái tiền đề tự - minh mà cuộc sống chúng
ta đã gán trước cho ngôi chùa có thể sụp đổ chỉ trong
sớm tối mà thôi.
Quả
thực như vậy, cuộc đời chúng ta được bảo tồn là nhờ
đã được bao quanh bằng chất ngưng đọng của thời gian
kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Hãy lấy ví
dụ một cái ngăn kéo nhỏ mà người thợ mộc đã đóng để
làm đồ gia dụng. Với thời gian trôi qua hình thái thực sự
của cái ngăn kéo này đã bị chính thời gian vượt qua, và
sau vài chục năm, vài trăm năm thì dường như thời gian đã
trở nên ngưng đọng và mang lấy hình thái ấy. Một khoảng
không gian nhỏ bé nhất dịnh mà vật thể này chiếm cứ ban
đầu bây giờ bị thời gian kết đặc thay thế. Thật ra nó
đã trở thành hóa thân của một thứ linh thần nào đó. Trong
phần mở đầu cuốn Phó Tang Thần Ký, một tập truyện thần
tiên Trung cổ, có đoạn sau đây: “Âm Dương tạp ký có viết
rằng qua một trăm năm thì khí vật hóa thành tính linh, lòng
người đã bị lừa dối, và cái đó được gọi tên là Phó
tang thần ký. Thế tục vẫn có thói quen mỗi năm trước ngày
lập xuân đều dọn dẹp các đồ dùng cũ kỹ trong nhà rồi
đem vất những thứ đó và ngõ hẹp và người ta gọi việc
ấy là ‘Môi phất’ hay ‘Quét dọn trong nhà’. Cũng theo
khuôn phép đó cứ trong một trăm năm thì có một trăm con
người phải chịu những tai nạn của Phó tang thần.” Như
vậy hành vi của tôi sẽ làm loài người mở mắt trước
những tai nạn của Phó tang thần và cứu nạn cho họ. Bằng
hành vi của mình, tôi sẽ nhét cái thế giới có Kim Các Tự
vào trong một thế giới không có Kim Các Tự. ý nghĩa của
thế giới chắc chắn sẽ đổi thay.
Càng
nghĩ về việc đó tôi càng cảm thấy vui thích là sự sụp
đổ và chấm dứt của thế giới - của cái thế giới lúc
này đang bao vây và nằm trước mắt tôi kia - không còn xa
nữa. Ánh mặt trời lặn nằm vắt ngang mặt đất. Kim Các
Tự hẳn là sẽ tuột rơi khỏi kẽ tay người ta vậy.
*
*
*
Cuộc
nghỉ chân dừng bước của tôi tại quán Yura chấm dứt ba
ngày sau, khi bà chủ quán nghi ngờ, vì thấy trong suốt thời
gian này chẳng lúc nào tôi bước ra khỏi phòng, bèn đi gọi
cảnh sát. Khi nhìn thấy người cảnh sát sắc phục đàng
hoàng bước vào phòng, tôi sợ là ông ta có thể sẽ phác
giác ra kế hoạch của tôi; nhưng sau đó tôi thấy liền là
chẳng có lý do gì để tôi sợ điều đó cả. Để trả lời
những câu hỏi của ông ta, tôi kể hết đầu đuôi những
việc đã xẩy ra - tôi muốn xa lánh nếp sinh hoạt trong chùa
trong một thời gian ngắn và tôi đã đi trốn. Rồi tôi đưa
cho ông ta xem giấy tờ chứng minh tôi là sinh viên và sau đó
tôi lại dụng ý trả tiền thuê phòng ngay trước mặt ông
ta nữa. Kết quả là người cảnh sát đã có thái độ che
chở đối với tôi; ông ta tức khắc gọi điện về Lộc
Uyển tự để hỏi xem câu truyện tôi kể có đúng hay không,
rồi bảo tôi rằng chính ông ta sẽ đưa tôi về chùa. Để
tránh mọi sự tai hại có thể xẩy ra cho “tương lai của
tôi”, theo lời ông ta, ông ta sẵn lòng thay đổi bộ sắc
phục trong chuyến đi này.
Trong
khi chúng tôi đứng chờ xe lửa ở ga Tango Yura thì mưa rào
đổ xuống, và vì không có mái nên nhà ga lập tức ướt
sũng nước mưa. Người cảnh sát, lúc này mặc thường phục,
dẫn tôi vào trong phòng bán vé; tại đây ông ta tỏ ra hết
sức hãnh diện mà cho tôi biết rằng người xếp ga và các
nhân viên đều là bạn của ông ta cả. Thế mà vẫn chưa
hết truyện; ông ta lại còn giới thiệu với mọi người
rằng tôi là thằng cháu từ Kyoto đến thăm ông ta nữa.
Tôi
hiểu rõ tâm lý những nhà cách mạng. Những người viên chức
miền quê này, ông xếp ga và ông cảnh sát, bây giờ đang
cười cười nói nói tán gẫu với nhau quanh đám than hồng
trong chiếc hỏa lò bằng sắt, chẳng hề linh cảm thấy sự
biến động lớn lao của cái thế giới đang tiến dần đến
ngay trước mắt họ, về sự băng hoại của cái trật tự
nằm ngay trước mắt họ.
Một
khi Kim Các Tự đã bị thiêu hủy rồi - phải một Kim Các
Tự đã bị thiêu hủy thì thế giới của những con người
này sẽ thay đổi hẳn bộ mặt, cái trật tự vàng son trong
nếp sống của họ sẽ bị đảo lộn, cái thời khắc biểu
ghi các chuyến tầu tới tầu đi sẽ rơi vào hỗn loạn hoàn
toàn, luật pháp của họ sẽ trở nên vô hiệu. Tôi thấy
sung sướng khi nghĩ những con người này đã hoàn toàn không
biết rằng thằng bé dáng vẻ ngây thơ, vô tội đang ngồi
giơ hai tay sưởi ấm trên bếp lò ngay cạnh họ đây là một
phạm nhân tương lai.
Một
nhân viên hỏa xa trẻ tuổi, hoạt bát đang oang oang kể cho
mọi người nghe về một cuốn phim anh ta sắp sửa đi xem vào
ngày nghỉ sắp tới. Đó là một cuốn phim thật hay thế nào
cũng làm người ta nhỏ lệ va lại có tình tiết ly kỳ nữa.
Đúng thế, vào ngày nghỉ sắp tới thế nào anh ta cũng sẽ
đi xem chớp bóng! Người thanh niên này, trông lực lưỡng
hơn tôi nhiều, tràn trề nhựa sống hơn tôi nhiều, sắp sửa
đi xem chớp bóng vào ngày nghỉ sắp tới; anh ta sẽ ngồi
trong rạp chiếu bóng quàng tay ôm một thiếu nữ nào đó và
rồi sẽ đi ngủ với cô ta. Anh ta cứ tiếp tục vừa trêu
chọc ông xếp ga vừa kể truyện bông đùa vừa nhận những
lời trách mắng nhẹ nhàng của cấp trên và lăng xăng chạy
đi chạy lại hết bỏ thêm than vào lò sưởi rồi lại viết
những con số lên tấm bảng đen. Trong một chốc lát tôi cảm
thấy mình một lần nữa sắp sữa thành thằng tù làm tôi
mọi cho cái vòng mị hoặc của cuộc đời hoặc cho sự ghen
ghét đối với cuộc đời. Xét ra tôi vẫn có thể tự ngăn
chặn ý định hỏa thiêu Kim Các Tự, tôi có thể vĩnh viễn
xa rời ngôi chùa, cởi áo thầy tu hoàn tục và vùi mình vào
cuộc sống giống như anh chàng trẻ tuổi này. Nhưng tức khắc
những sức mạnh đen tối đã đưa tôi trở lại với chính
tôi và cưỡng bách tôi dứt bỏ những ý tưởng như thế.
Đúng vậy, thế nào tôi cũng phải hỏa thiêu Kim Các Tự.
Chỉ đến lúc đó một cuộc đời chưa từng nghe thấy đặt
riêng cho tôi mới thực sự bắt đầu.
Người
xếp ga trả lời điện thoại. Sau đó ông ta đi ra đứng trước
gương soi và cẩn thận đội lại cái mũ thêu kim tuyến trên
đầu. Ông ta hậm họe ho rồi ưỡn ngực bước ra sân ga như
thể đang bước vào phòng đại lễ. Trời đã tạnh mưa. Liền
sau đó người ta có thể nghe tiếng đoàn tàu ầm ầm, ướt
át khi lao mình chạy trên đường sắt xuyên qua vách đá và
một lúc sau lướt vào nhà ga.
Tôi
đến Kyoto lúc tám giờ thiếu mười, người cảnh sát trong
bộ thường phục dẫn tôi tới tổng môn Lộc Uyển tự. Đêm
tối giá lạnh. Vừa nhô đầu ra khỏi rừng thông tối tăm
và đi tới tổng môn sừng sững nghễu nghện, tôi thấy mẹ
tôi đang đứng ở đó. Bất đồ bà lại đang đứng ngay cạnh
tấm biển có viết chữ: “Kẻ nào vi phạm những luật lệ
này sẽ bị xử phạt theo quốc pháp.” Dưới ánh đèn ngoài
cổng, trông như thể từng sợi tóc bạc phơ đang dựng đứng
thẳng tắp trên cái đầu rối bù của bà. Ánh đèn phản
chiếu làm cho tóc bà thêm bạc phơ đang dựng đứng thẳng
tắp trên cái đầu rối bù của bà. Ánh đèn phản chiếu
làm cho tóc bà trông bạc trắng hơn thường lệ. Đóng khung
trong mái tóc bạc phơ dựng đứng này, khuôn mặt nhỏ bé
của bà trông không có một nét chuyển động nào hết.
Thân
hình nhỏ nhắn của Má trông có vẻ to lớn một cách lạ
lùng. Sau lưng bà bóng tối trải dài khắp tiền đình mà tôi
nhìn thấy qua cánh cửa bỏ ngỏ. Vóc dáng to lớn của bà
hiện ra lờ mờ trước bóng tối; bà mặc chiếc áo rách tả
tơi trông thật ngớ ngẩn, bên ngoài quấn một dải lưng thêu
chỉ vàng đến bây giờ đã nát bươm. Bà đứng đó trông
chẳng khác gì một người đã chết.
Tôi
ngần ngại không muốn tiến lại gần bà. Lúc ấy tôi không
hiểu làm thế nào mà bà ta lại đến đó được, nhưng về
sau hỏi ra tôi mới biết khi phác giác ra là tôi đã bỏ trốn.
Lão sư phụ đã thăm dò tin tức nơi Má ở, bà đã hết sức
chấn động và đã tới Lộc Uyển tự ở lại chờ cho đến
lúc tôi về.
Người
cảnh sát đẩy tôi đi tới. Lạ thay, khi tôi càng tiến lại
gần, thân mình Má lại càng nhỏ bé dần dần. Mặt bà ở
phía dưới mặt tôi. Và khi bà ngước lên nhìn tôi thì khuôn
mặt bà nhăn nhó, xấu xí không sao chịu nổi.
Hiếm
khi tôi lại bị cảm giác đánh lừa, nhưng bây giờ nhìn rõ
những con mắt sâu hoắm, giảo hoạt, nhỏ bé của bà tôi
thấy rõ rằng mình thực có lý làm sao khi đem lòng ghét bỏ
Má. Sự ghét bỏ dẳng dai thứ nhất là đối với việc bà
đã sinh ra tôi ra làm người, những hồi tưởng điều ô nhục
sâu xa ấy mà bà đã bắt tôi phải chịu - một sự ô nhục
như tôi đã giải thích nhiều lần không dành một miếng đất
thừa nào để cho tôi phục thù, nhưng thay vào đó chỉ làm
cho tôi tuyệt tình với má. Thật khó mà cởi gỡ được những
sợi dây ràng buộc ấy. Tuy nhiên, lúc này đây trong lúc phỏng
chừng thấy rằng bà đã chìm đắm tới nửa người trong
nổi bi thương của một người mẹ, tôi đột nhiên cảm thấy
là mình đã được tự do. Không hiểu vì sao, song tôi cảm
thấy Má chẳng bao giờ còn có thể ăn hiếp tôi được nữa.
Có
tiếng nức nở nghẹn ngào nghe như thể có ai đó đang bị
thắt cổ đến chết. Thế rồi Má đưa tay ra và bắt đầu
phát nhẹ vào má tôi.
“Thằng
con bất hiếu! Thế con không biết tri ân ai hết sao?”
Người
cảnh sát đứng lặng nhìn trong lúc tôi chịu đựng những
cái tát. Những ngón tay Má đã bắt đầu rối loạn và dường
như không còn một tí sức mạnh nào nữa; vì vậy đầu móng
tay bà đã lách cách đập vào má tôi như những hạt mưa đá
rơi rơi. Tôi nhận thấy mặc dù đang đánh tôi, Má vẫn nhìn
tôi với con mắt ai oán, van lơn và tôi quay nhìn đi nơi khác.
Sau
một lúc bà đổi giọng: “Con đã như thế - con đã như thế
và đã đi xa trên con đường ấy,” bà nói. “Con làm như
thế nào để có tiền được?”
“Tiền?
Má muốn biết ư? Con vay một thằng bạn đấy!”
“Có
thực không?” Má nói. “Con không ăn cắp rồi trốn đi đấy
chứ?”
“Không,
con không có ăn cắp.”
Má
buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm làm như thể đó là điều
duy nhất đã khiến bà thắc mắc lo âu.
“Thực
không? Như vậy thì con chưa làm điều gì bậy bạ hết, có
phải không?”
“Không.
Không đâu, Má.”
“Thực
hả? Vậy thì cũng chưa đến nỗi nào. Dĩ nhiên, dù sao con
cũng phải đến năn nỉ xin lỗi Phương trượng. Chính Má
đã xin lỗi người rồi, nhưng bây giờ con phải đến cắn
rơm cắn cỏ mà xin Phương trượng tha thứ cho. Phương trượng
là người rộng lượng và Má nghĩ người sẽ bỏ qua câu
truyện này. Nhưng rồi ra con sẽ phải ăn năn sửa mình bằn
không thì người mẹ già yếu, đáng thương của con chắc
đến chết mất thôi! Má nói thật đấy, con ạ. Nếu con không
chịu sửa mình thì chắc Má chẳng sống làm gì. Và con còn
phải trở thành một tu sĩ tiếng tăm nữa chứ… Nhưng, trước
tiên con phải đến và van lạy người đi đã.”
Tôi
và người cảnh sát lẳng lặng bước theo Má. Bị quá khích
động nên bà quên cả những lời chào hỏi thường lệ đối
với người cảnh sát. Bà bước những bước ngắn và nhanh.
Khi nhìn đến dải lụa mõng nhẹ buông thõng đằng sau lưng
bà, tôi tự hỏi không biết cái gì đã làm Má trông xấu
xí đến thế. Và rồi tôi hiểu. Cái đã làm cho bà trông
xấu xí chính là - hy vọng. Niềm hy vọng bất trị, ngoan cố,
giống như những vẩy nhọt cứng dắn, ươn ướt và đo đỏ
ăn sâu vào lớp da nhiễm độc, tạo nên sự nhức nhối thường
xuyên nhất định, không chịu lùi bước trước bất cứ một
ngoại lực nào.
*
*
*
Mùa
đông đã tới. Quyết tâm của tôi càng ngày càng trở nên
vững chắc hơn. Biết bao lần tôi phải trì hoãn việc thi
hành kế hoạch; tuy nhiên, tôi không thấy chán nãn vì sự
trì hoãn mãi mãi này. Suốt nữa năm ấy điều làm cho tôi
bận tâm lại là một việc hoàn toàn khác hẳn. Cứ cuối
mỗi tháng Kashiwagi lại thúc dục tôi trả lại món tiền nó
đã cho tôi vay. Nó thường báo cho tôi biết tổng số món
tiền kể cả vốn lẫn lời, rồi lại còn dùng đủ lời
lẽ tục tĩu để sỉ vả tôi nữa. Tuy thế, tôi vẫn không
có ý định trả lại món tiền đã mượn nó. Nếu mà tránh
mặt không đến trường nữa thì tôi đâu còn sợ phải gặp
mặt Kashiwagi nữa.
Mỗi
khi đã quyết tâm như vậy xem ra thì có vẻ kỳ lạ là tôi
đã không giải thích, tôi đã sớm trở nên nôn nả và xốn
xang làm sao. Sự thực là những sự nôn nả, xốn xang như
thế bây giờ đã thuộc về quá khứ. Trong suốt thời gian
nửa năm này mắt tôi cũng đăm đăm dán chặt vào một điểm
duy nhất trong tương lai. Rất có thể là vào giai đoạn tôi
hiểu biết ý nghĩa hạnh phúc.
Trước
hết là đời sống của tôi trong chùa trở nên vui thú hơn.
Khi tôi nghĩ rằng dù cho nó xẩy ra việc gì đi nữa, Kim Các
Tự cũng sẽ bị thiêu hủy, thì tôi lại thấy những điều
có vẻ không sao chịu đựng nổi lại trở nên hoàn toàn chịu
đựng được. Cũng như một người dự cảm là mình sắp
chết, bây giờ tôi bắt đầu tìm cách làm đẹp lòng tất
cả những người khác ở trong chùa. Cách ứng đối của tôi
trở nên trong sáng, dễ chịu hơn và tôi cố gắng hòa giải
lòng tôi với tất cả mọi việc. Tôi cũng hòa giải với
cả thiên nhiên nữa. Hết buổi sáng này đến buổi sáng khác
trong mùa đông khi nhìn mấy con chim bé nhỏ đến rỉa những
gì còn sót lại trên cây mai, tôi đều nhìn cái ức mịn lông
của chúng với con mắt thực là thân thiện.
Tôi
cũng quên cả sự ghét bỏ của mình đối với Lão sư phụ!
Tôi thấy mình được tự do - tự do đối với mẹ tôi, đối
với bạn bè, tự do đối với tất cả mọi thứ. Tuy nhiên,
tôi cũng không đến nỗi quá điên rồ mà nghĩ rằng cái nếp
sống an vui mới tìm thấy này là do sự thành tựu của tôi
trong việc làm thay đổi bộ mặt thế giới mà không cần
phải mó tay vào việc. Khi nhìn từ điểm chung cục thì bất
kỳ cái gì cũng thấy có thể tha thứ được. Khi khiến cho
chính mình nhìn sự vật từ điểm chung cục, khi khiến cho
chính mình cảm thấy rằng cái quyết định thực hiện chung
cục này nằm ngay trong tay mình - ý thức tự do của tôi căn
cứ ở điểm đó.
Tuy
quyết định hỏa thiêu Kim Các Tự của tôi đã nẩy sinh từ
một tưởng niệm một cách đột nhiên như thế, song nó lại
rất thích hợp với tôi hoàn toàn, giống như một bộ âu
phục được đo cắt cho thực vừa với thân mình tôi vậy.
Thật như thể đã ôm ấp cái chí ấy ngay từ khi mới lọt
lòng mẹ. Ít nhất thì ý nghĩ này dường như vẫn đang nẩy
nở trong con người tôi chờ đợi ngày khai hoa ngay từ lúc
tôi còn nhỏ theo Ba đến vãn cảnh Kim Các Tự lần đầu.
Việc Kim Các Tự làm một thằng bé như tôi phải lóe mắt
vì vẻ đẹp tuyệt vời tự nó cũng đã chứa đựng mọi
thứ lý do để đưa tôi đến việc phóng hỏa đốt chùa rồi.
Ngày
17 tháng 3 năm Chiêu Hòa thứ 25 (1950) tôi học xong khóa dự
bị ở Đại học Otani. Ngày 19 là ngày tôi vừa tròn hai mươi
mốt tuổi. Thành tích của tôi trong ba năm theo học Dự khoa
thật quá ư rực rỡ. Trong số 79 sinh viên tôi đã cố gắng
đứng tới hạng bảy mươi chín. Điểm thấp nhất của tôi
trong các môn học làvề môn Quốc văn, vì về mon này tôi
được có 42 điểm. Trong số 616 giờ học tôi đã vắng mặt
218 giờ - tính ra hơn 1/3 tổng số giờ. Tuy nhiên, vì ở đại
học này tất cả đều dựa vào lòng từ bi của nhà Phật
nên không có truyện đánh trượt ai, và nhờ thế ngày từ
đầu tôi được phép học lên khóa chính. Lão sư phụ cũng
mặc nhiên chấp nhận điều này.
Tôi
vẫn tiếp tục xao lãng việc học, và trong những ngày đẹp
trời từ cuối xuân đến đầu hạ, tôi thường đi chơi các
đền chùa ở nhiều nơi khác nhau mà vào cửa không phải trả
tiền. Tôi thường cuốc bộ cho đến khi nào chán thì thôi.
Tôi nhớ rõ một ngày như thế.
Đang
đi trên con đường chạy qua trước cửa chùa Diệu Tâm thì
tình cờ tôi để ý tới một sinh viên đang thả bộ ở đằng
trước cũng một nhịp bước như tôi. Người này dừng lại
ở một cửa hiệu bán thuốc lá nhỏ hẹp trong một tòa nhà
với những mái hiên cổ kính, và tôi để ý tới nét mặt
nhìn nghiêng dưới vành mũ sinh viên trong lúc anh chàng này
đứng đó mua một gói thuốc lá. Nét mặt nhìn nghiêng ấy
với cặp lông mày hẹp trông có vẻ trắng trẻo, sắc sảo.
Nhìn cái mũ anh chàng tôi có thể biết anh chàng là sinh viên
đại học Kyoto. Anh chàng liếc mắt nhìn tôi. Thật như thể
là hình ảnh đen ngòm các luồng ánh mắt đang chụm lại với
nhau. Trong thâm tâm tôi cảm thấy ngay rằng: “Đây là một
thằng mắc chứng điên ham phóng hỏa đốt nhà.
Lúc
đó là ba giờ chiều - chẳng phải thời gian thuận hợp cho
việc phóng hỏa. Một con bướm bốc cánh bay khỏi mặt đường
nhựa, nơi xe buýt qua lại rồi là đà bay đến đậu trên
một bông hoa xuân trà ủ rủ cắm trrong một cái bình ở trước
cửa hiệu bán thuốc lá. Những cánh hoa khô héo của bông
hoa xuân trà trắng phau trông như thể đã bị một ngọn lửa
vàng khè đốt cháy. Mãi sau mới có một chiếc xe buýt chạy
tới. Cái đồng hồ treo lửng lơ trên con đường đã ngưng
chạy.
Tôi
không hiểu tại sao, nhưng tôi biết chắc người sinh viên
này đang từ từ đi từng bước một tới chỗ đi phóng hỏa
đốt nhà. Tôi nghĩ chỉ vì hắn trông có vẻ một thằng điên
ham mê phóng hỏa. Hắn đã táo bạo chọn ngay giữa ban ngày,
thời gian khó khăn nhất để phóng hỏa. Và bây giờ hắn
đang từ từ cất bước về chỗ hắn đã quyết chí thực
hiện hành vi đó. Trước mặt hắn là lửa đỏ và phá hoại;
đằng sau hắn là cái thế giới của trật tự mà hắn đã
rời bỏ ra đi. Đằng sau bộ đồng phục của hắn có một
cái gì nghiêm khắc, ảm đạm đã khiến tôi cảm thấy điều
này. Có lẽ vì từ ít lâu nay tôi vẫn tưởng tượng rằng
cái lưng một thằng điên ham nổi lửa đốt nhà trông phải
giống như thế; cái lưng áo bằng nỉ xẹc đen ngòm của hắn
- trên đó ánh mặt trời đang chiếu rọi - chứa đầy những
sự bất tường và hiểm độc.
Tôi
chậm bước lại và quyết định đi theo người sinh viên này.
Trong khi theo sau hắn và thấy vai trái của hắn hơi sệ xuống
thấp hơn vai phải một chút, tôi cảm thấy lưng hắn quả
thật giống hệt lưng tôi. Hắn trông đẹp mã hơn tôi nhiều,
nhưng tôi biết chắc chắn cũng đang bị thúc đẩy nhúng tay
thực hiện một hành vi giống như chính tôi vì có cùng một
nỗi cô độc như tôi, một niềm bất hạnh như tôi, có cùng
những vọng niệm về cái đẹp như tôi. Trong lúc bước theo
hắn tôi bắt đầu cảm thấy mình đang tự mình nhìn thấy
trước hành vi của chính mình.
Những
sự việc như thế rất dễ xẩy ra vào một buổi chiều xuân
muộn vì ánh sáng trong trẻo và không khí buồn thảm. Tôi
phân thân trở thành hai con người và con người kia của tôi
đã mô phỏng trước những hành vi tôi sẽ làm như thế đã
cho tôi thấy rõ cái con người mà tôi không làm sao thấy được
một khi đã đến lúc thi hành kế hoạch của mình.
Xe
buýt vẫn chưa tới, tuỵêt đối không có một bóng người
đi trên đường. Cổng Nam Môn to lớn ở chùa Chính Pháp Diệu
Tâm dần dần lại gần. Hai cánh cửa to phía bên trái và bên
phải đều mở rộng và tổng môn hình như sẵn sàng nuốt
trọn đủ mọi hiện tượng có thể xẩy ra. Ở trong cái khung
cảnh tráng đại của nó, như tôi ngắm nhìn theo khía cạnh
đặc biệt của con mắt mình, cổng này đã tập trung các
hàng cột chập trùng của Sắc Sứ Môn với Sơn Môn hai tầng,
với những mái ngói Phật điện, những hàng thông, một mảnh
trời xanh bị tách hẳn khỏi toàn bộ và vô số những cụm
mây nhạt màu. Càng tiến lại gần cổng tôi càng thấy thêm
nhiều thứ khác nữa - lối đi trải đá chạy dọc chạy ngang
bên trong khuôn viên rộng lớn của ngôi chùa, các bức tường
bao quanh những ngọn tháp và biết bao nhiêu thứ khác nữa.
Và một khi đã bước qua cổng chính, mình thấy ngay rằng
kiến trúc thần bí này chứa đựng bên trong nó cả bầu trời
xanh xanh lẫn từng đám mây lẻ loi lơ lửng trên bầu trời
ấy. Một đại thần đường tất nhiên phải như thế.
Người
sinh viên bước qua cổng. Hắn đi vòng phía bên ngoài Sắc
Sứ Môn rồi dừng chân bên cạnh ao sen đằng trước Sơn Môn.
Rồi hắn ra đứng trên cây thạch kiều theo lối kiến trúc
đời Đường bắc ngang qua cái ao và ngước mắt nhìn lên
Sơn Môn sừng sững trên đầu hắn. Tôi nghĩ Sơn Môn này hẳn
phải là mục tiêu cho hắn phóng hỏa.
Cái
Sơn Môn tráng lệ thực rất đáng để cho ngọn lửa bao vây.
Vào một buổi chiều trong sáng như thế này có lẽ người
ta sẽ không nhìn thấy ngọn lửa. Làn khói sẽ cuồn cuộn
quanh cái cổng và bốc lên cao trong không khí; tuy nhiên mình
chỉ có thể nói những ngọn lửa vô hình ấy đang liếm tới
bầu trời khi quan sát xem nền trời trong xanh đã bị vít xuống
và đang run rẩy làm sao. Khi người sinh viên tới gần Sơn
Môn thì tôi đi tránh sang phía đông để khỏi bị hắn nhìn
thấy và để có thể dòm ngó hắn thật sát. Chính vào lúc
này các tăng sĩ khất thực trở về chùa và tôi nhìn thấy
một nhóm ba người trong bọn họ đang đi trên con đường
nhỏ phía đông. Họ bước đi sông hàng trên lối mòn nhỏ,
chân đi giầy cỏ và tay cầm nón mây đan. Lúc đi qua mặt
tôi, họ rẽ sang bên phải. Họ tiếp tục cất bước trong
im lặng hoàn toàn, giữ đúng qui luật của tu sĩ khất thực
theo đó họ không được phép đưa mắt nhìn quá ba bốn thước
về đằng trước cho đến khi trở về phòng kín.
Người
sinh viên vẫn còn lẫn quẩn gần Sơn Môn. Thế rồi hắn dựa
lưng vào cây cột và móc gói thuốc lá vừa mới mua từ trong
túi ra. Hắn nhìn quanh có vẻ luýnh quýnh. Thấy có một làn
khói tôi chợt nghĩ là, không còn nghi ngờ gì nữa, hắn sắp
sửa đốt cái cổng này. Như tôi đã đoán trước, sau đó
hắn liền đưa một điếu thuốc lá lên miệng quay mặt về
đằng trước và bật một que diêm.
Trong
nháy mắt chiếc diêm bùng lên một tia lửa sáng trong nho nhỏ.
Trong như thể, ngay cả người sinh viên ấy cũng không trông
thấy mầu lửa. Như vậy là vì vào lúc ấy mặt trời chiều
đã bao trùm ba mặt Sơn Môn chỉ có một mặt quay về phía
tôi chìm trong bóng tối. Vì chỉ trong một chớp mắt que diêm
đã sinh ra một cái gì giống như một bong bóng lửa, lóe sáng
gần ngay khuôn mặt người sinh viên trong lúc hắn đứng đó
tựa người vào cột cổng chùa bên ao thả sen. Thế rồi hắn
vung tay thật nhanh và tắt que diêm đi.
Ngay
cả khi que diêm đã tắt rồi, người sinh viên có vẻ vẫn
chưa hài lòng. Hắn vứt que diêm xuống một hòn đá xây móng
chùa rồi chăm chỉ lấy chân di đi di lại. Sau dó rít điếu
thuốc lá một cách thích thú, hắn băng qua thạch kiều rồi
đi qua Sắc Sứ Môn, hoàn toàn vô tình đối với sự thất
vọng của tôi đang đứng đó trong cô đơn và vắng lặng.
Sau cùng hắn mất hút sau Nam Môn mà qua đó người ta có thể
nhìn thấy đại lộ và một dẫy nhà mập mờ thấp thoáng
chạy dài mãi về phía xa.
Đây
không phải là thằng điên ham phóng hỏa mà chỉ là một sinh
viên đi tản bộ phất phơ. Rất có thể đây là một thanh
niên hơi nghèo túng, hơi chán chường.
Tôi
đã đứng ngắm nhìn hắn từng ly từng tí và tôi có thể
nói là trong con người hắn cái gì cũng làm tôi bực mình
hết - tính nhút nhát đã khiến hắn phải cẩn thận nhìn
quanh nhìn quẩn - không phải vì hắn sắp sửa phá bỏ quy
luật để hút một điếu thuốc lá; sự vui thích tầm thường,
rất điển hình của bọn sinh viên khi thoát khỏi khuôn phép
và cái cách hắn đã lấy chân cẩn thận di đi đi lại que
diêm đã tắt lửa rồi; và nhất là cái “dáng vẻ con người
có văn hóa có giáo dục” của hắn. Thật chính nhờ cái
dáng vẻ rẻ tiền của con nhà có giáo dục này mà ngọn lửa
nhỏ bé của hắn đã được kiểm soát an toàn. có lẽ hắn
đã lấy làm đắc ý rằng chính hắn đã là người kiểm
soát được que diêm của mình, người kiếm soát mau mắn,
vẹn tròn đủ che chở xã hội khỏi những ngọn lửa của
nguy hiểm.
Một
điều lợi của lối dậy dỗ này là kể từ thời Duy Tân
tới nay, những ngôi chùa cổ ở trong hay ngoài thành phố Kyoto
ít khi bị thiêu hủy. Ngay trong những dịp hiếm hoi khi chẳng
may có bùng lên đám cháy nào thì ngọn lửa cũng bị bao vây,
chia cắt và dập tắt ngay tức khắc. Trong quá khứ chẳng
bao giờ được như thế cả. Tri ân viện đã bị cháy rụi
vào năm Vĩnh Hương thứ ba (1431) và sau đó còn bị thần hỏa
thăm viếng nhiều lần nữa. Chính điện của Nam Thiền tự
bốc cháy vào năm Minh Đức thứ tư (1389), thiêu rụi mất
Phật điện, Pháp đường, Kim Cương điện, Đại Vân am và
nhiều tòa nhà khác nữa. Năm Nguyên Qui thứ nhì (1571) Diên
Lịch tự biến thành tro bụi. Kiến Nhân tự trở thành hoang
địa vì ngọn lửa vào năm Thiên Văn thứ 21 (1552). Năm Kiến
Trường nguyên niên (1249) Tam Thập Tam Gian đường cháy rụi,
Bản Năng tự bị thần hỏa thiêu hủy trong cơn binh lửa năm
Thiên Chính thứ 10 (1582).
Vào
thời đó những ngọn lửa thường thân thiện với nhau lắm.
Chúng không bị phân chia thành những mảnh nhỏ và bị coi
thường như ngày nay, mà đã được phép bắt tay nhau đến
độ vô số ngọn lửa cách biệt nhau có thể họp lại thành
một biển lửa to lớn. Con người thời đó có lẽ cũng như
vậy. Bất kỳ lúc nào hễ có một ngọn lửa ở nơi này thì
nó có thể kêu gọi ngay một ngọn lửa ở nơi khác và tiếng
gọi của nó được đáp lại tức thì. Trong các cuốn ký
lục về những đám cháy không bao giờ người thời đó cho
là vì có kẻ phóng hỏa mà luôn luôn cho là vì tai nạn hoặc
vì cháy lan hoặc vì binh lửa. Ví dù thời đó có thằng nào
giống như tôi nữa thì chắc hẳn cũng chỉ cần nén hơi nấp
mình ở một chỗ nào đó mà chờ đợi. Chẳng chóng thì chầy
các ngôi chùa cũng phải bị cháy rụi. Lửa thì rất nhiều
và luôn luôn được buông thả. Nếu hắn biết chờ đợi
thì ngọn lửa đang rình mò cơ hội sẽ bùng lên dễ dàng,
ngọn lửa này sẽ nắm tay ngọn lửa khác và chúng sẽ chung
sức làm xong công việc phải làm. Thật là nhờ may mắn ngẫu
nhiên hiếm có mà Kim Các Tự đã không bị làm mồi cho Thần
hỏa. Vì những nguyên lý và phép tắc của Phật giáo đã
chi phối chặt chẽ thế giới - lửa có bùng lên cũng là sự
tự nhiên, sự diệt vong và phủ định vẫn là những việc
xẩy ra hàng ngày, những ngôi chùa lớn lao đã được xây
cất từ lâu chẳng làm sao tránh khỏi bị cháy rụi. Dù cho
có những thằng điên thích phóng hỏa đốt nhà đi nữa chúng
cũng buộc lòng phải kêu gọi sức mạnh của Thần hỏa một
cách tự nhiên đến nỗi không một sử gia nào có thể tin
rằng sự tàn phá xẩy ra sau đó lại là kết quả của việc
có kẻ nổi lửa đốt nhà.
Mặt
đất thời đó là một nơi bất an. Bây giờ năm Chiêu Hòa
thứ 25 (1950) mặt đất cũng bất an không kém. Giả sử có
bao nhiêu ngôi chùa bị cháy rụi vì sự bất an này thì bây
giờ có lý nào Kim Các Tự lại không bị thiêu hủy được
nhỉ?
Mặc
dầu lười biếng không chịu đến nghe giảng ở đại học,
nhưng tôi vẫn thường lui tới thư viện, và một ngày tháng
năm tôi chậm trán với Kashiwagi mà từ lâu tôi đã cố ý
tránh mặt. Khi thấy tôi cố ý lánh mặt, nó liền hớn hở
đuổi theo. Thấy rằng nếu tôi bỏ chạy thì với đôi chân
què quặt nó không tài nào đuổi kịp, nên tôi ngừng chân
đứng lại. Kashiwagi chộp lấy vai tôi. Nó thở chẳng ra hơi.
Hôm ấy bài giảng đã chấm dứt và tôi đoán chừng lúc đó
vào khoảng năm giờ rưỡi. Để khỏi gặp Kashiwagi, sau khi
rời thư viện, tôi dã đi vòng phía sau trường rồi rẽ vào
con đường nhỏ nằm giữa bức tường đá cao và những căn
nhà trại rộng lớn, xấu xí dùng làm lớp học. Những cây
cúc dại mọc chi chít trên mảnh đất hoang, rải rác đó đây
là những mảnh giấy bẩn và những vỏ chai không mà người
ta vất ra đó. Một vài đứa trẻ lén chui vào trong và đang
chơi trò bắt bóng. Những tiếng la hét ầm ỉ của chúng làm
người ta cũng chẳng để ý đến những lớp học vắng không
mà người ta có thể nhìn thấy qua các khung cửa kính vỡ.
Sau giờ học tất cả sinh viên đã ra về hết và trong lớp
học chỉ còn lại hàng bàn ghế đầy bụi im lìm.
Tôi
đi qua dẫy nhà trại và tới tòa nhà chính của đại học
bên phía tây. Tôi dừng chân bên ngoài một căn phòng nhỏ
trên đó ban dậy cắm hoa có treo một tấm biển đề chữ
“Công phòng”. Mặt trời chiếu trên hàng cây nam mộc trồng
theo bức tường và bóng lá nhỏ nhắn dịu dàng phản ánh
khắp mái căn phòng nhỏ tới bức tường gạch đỏ của tòa
nhà chính. Những hòn gạch đỏ trông thật tươi tắn dưới
ánh tà dương.
Kashiwagi
đứng tựa người vào bức tường, thở hổn ha hổn hển.
Bóng lá cây nam mộc rọi sáng đôi má nó vốn đã tiều tụy
trông lại càng thêm tiều tụy hơn và làm đôi má nó có một
vẻ rập rờn lay động lạ lùng. Có lẽ vì phản ánh của
bức tường gạch đỏ, rất không thích hợp với Kashiwagi
nên đã làm cho tôi thấy thế.
“Năm
nghìn một trăm yen hồi đó cậu nhớ chứ!” nó nói “Tính
đến cuối tháng năm này là 5100 yen rồi đấy. Cậu tự làm
cho càng ngày càng khó trả lại tiền cho tớ hơn.”
Nó
móc tờ chứng vay nợ tôi đã ký từ túi áo trước ngực,
nơi lúc nào nó cũng dắt mang theo, rồi trải ra ngay trước
mặt tôi. Đoạn hẳn là nó sợ tôi sẽ thò tay ra cướp lấy
mà xé vụn tờ giấy nên nó vội vã gấp lại và bỏ vào
túi áo như cũ. Trước mắt tôi không còn thấy gì ngoại trừ
cái dự ảnh của vệt in tay độc địa, đỏ chót, cái vệt
in tay ấy của tôi trông thực thê thảm hết chỗ nói.
“Trả
tiền cho tớ sớm đi!” Kashiwagi nói. “Càng sớm càng lợi
cho cậu. Tại sao cậu không dùng tiền học hoặc món nào đó
để trả nợ cho xong có được không?”
Tôi
im lặng không trả lời. Liệu người ta có nghĩa vụ phải
trả nợ trả nần trước khi thế giới sụp đổ không nhỉ?
Tôi có ý định thoáng gợi cho Kashiwagi biết về điều tôi
đang ấp ủ trong đầu óc, nhưng ròi tôi tự ghìm lại được.
“Tớ
không hiểu nổi cậu cứ nhất định không nói năng gì cả.”
Kashiwagi nói. “Làm sao vậy? Cậu xấu hổ vì tật nói lắp
ư? Bây giờ cậu còn sợ gì nữa. Chứng nói lắp của cậu
ai mà không biết - kể cả cái này nữa. Đúng. Kể cả cái
này nữa! Nó đấm mạnh tay vào bức tường gạch mầu đỏ
đang phản chiếu ánh mặt trời lặn. Nắm tay nó dính một
làn phấn gạch nâu nâu, vàng vàng.
“Kể
cả bức tường này cũng biết thế nữa. Khắp trong trường
này có ai là người không biết điều đó đâu!”
Tôi
vẫn đứng im lặng đối diện với nó. Vào lúc ấy trong đám
trẻ con có một đứa bắt hụt quả bóng nên quả bóng lăn
tới giữa hai đứa chúng tôi. Kashiwagi bèn cúi gặp người
xuống cố nhặt quả bóng lên để ném trả về cho lũ trẻ
con. Nhìn thấy thế lòng tôi tràn ngập một hứng thú tai ác
là muốn nhìn xem Kashiwagi sẽ loay hoay với cặp chân què để
hất quả bóng đang nằm cách đó chừng một thước xa ra làm
sao để nó có thể lấy tay mà với tới được. Mắt tôi
hình như đã nhìn về phía cặp chân nó một cách vô ý thức.
Kashiwagi nhận thấy liền, nhanh chóng hầu như thần tốc. Trước
khi mình có thể nói liệu nó có thực sự cố gắng cúi mình
xuống hay không thì nó đã vươn thẳng người lên, lạnh lùng
nhìn tôi chằm chằm với một ánh mắt ghét bỏ ghê gớm hết
sức xa lạ đối với nó. Một đứa trẻ trong bọn rụt rè
tiến lại gần chúng tôi nhặt quả ở giữa hai đứa rồi
chạy vụt đi. Cuối cùng Kashiwagi nói với tôi: “Thôi được.
Nếu cậu có thái độ như thế thì tớ cũng có cách. Trước
khi trở về nhà vào tháng tới, thế nào tớ cũng lấy được
món tiền của tớ càng nhiều càng tốt cho mà xem. Rồi cậu
sẽ mở mắt ra. Cậu nên sửa soạn sẵn đi thì vừa.”
Sang
tháng sáu những giờ giảng trọng yếu càng ngày ít đi và
các sinh viên đang lục tục trở về quê. Ngày mồng mười
tháng sáu là ngày tôi sẽ bao giờ quên được. Trời mưa rả
rích từ sáng sớm và đến chiều thì lại mưa to như thác
đổ. Sau bữa dược thạch, tôi vào phòng riêng đọc một
cuốn sách. Vào khoảng tám giờ tối tôi nghe thấy tiếng chân
người tiến lại gần dọc theo hàng hiên giữa Khánh điện
và Đại Thư Viện. Đây là một trong những buổi tối hiếm
hoi mà Lão sư phụ lại không đi ra ngoài. Hiển nhiên là ông
có khách viếng thăm. Nghe những tiếng chân ấy thấy có gì
thực là kỳ dị. Vang vang như tiếng những hạt mưa lộp độp
nện vào một cánh cửa gỗ. Tiếng chân người đồ đệ mới
đi trước dẫn khách đến phòng Lão sư phụ thường êm nhẹ,
đều đều và hầu như luôn luôn bị những bước sải dài
của người khách nhận chìm làm cho những tấm ván cũ kỹ
lát hàng hiên kêu cót két một cách hết sức kỳ lạ.
Tiếng
mưa rơi vang ầm khắp Lộc Uyển tự. Mưa đêm đổ xuống
ngôi chùa cổ kính rộng lớn và tiếng mưa rơi tràn ngập
những căn phòng mốc thếch, trống rỗng, bao la. Ở trong nhà
bếp, trong am ông chấp sự, ông Điện ti, trong Khách điện
không nghe tiếng gì khác ngoài tiếng mưa rơi. Bây giờ tôi
nghĩ tới trận mưa đã đổ ụp xuống Kim Các Tự. Tôi khẻ
đẩy tấm cửa kéo phòng tôi. Cái sân giữa nhỏ bé, chỉ
có toàn đá, lúc đó đang ngập tràn nước mưa và có thể
nói là tôi nhìn thấy cái lưng của làn nước lấp loáng đen
ngòm khi nó len lỏi từ phiến đá này sang phiến đá khác.
Người
đồ đệ tân nhập từ khu phòng Lão sư phụ trở về thò
đầu vào phòng tôi.
“Ở
đó có thằng sinh viên tên là Kashiwagi đến thăm lão sư. Có
phải nó là bạn cậu không?”
Tôi
thấy xốn xang cả người. Người đồ đệ tân nhập đeo
kính trắng, ban ngày đi dậy ở một trường tiểu học, sắp
sửa cáo lui, nhưng tôi níu hắn lại và bảo hắn vào phòng
tôi. Tôi đang tưởng tượng ra đủ mọi thứ truyện về cuộc
đối thoại diễn ra trong Đại Thư Viện và tôi thấy nếu
ngồi một mình thì không thể làm sao chịu nổi.
Năm
sáu phút trôi qua. Bất chợt chuông phòng Lão sư phụ reo vang.
Tiếng chuông lanh lảnh giục giã át hẳn tiếng mưa rơi, rồi
ngưng bặt. Người đồ đệ và tôi nhìn nhau.
“Chuông
gọi cậu đó,” hắn nói. Tôi gắng gượng đứng dậy.
Khi
tới phòng Lão sư phụ, tôi quì ở bên ngoài. Tôi có thể
nhìn thấy tờ giấy vay nợ với dấu tay của tôi nằm trên
bàn giấy của ông. Lão sư phụ cầm một đầu tờ giấy lên
đưa cho tôi xem. Ông cứ để mặc tôi quì dưới hàng hiên
bên ngoài căn phòng.
“Đây
có phải là dấu tay của con không?”
“Thưa
phải”
“À,
thế ra con đã làm một việc hay thật là hay, phải vậy không?
Từ giờ trở đi nếu vì con ta còn phải gặp những chuyện
rắc rối như thế này nữa thì ta sẽ không làm sao có thể
để cho con ở lại trong chùa nữa đâu. Con nên thức tỉnh
nghĩ lại mà coi. Đây không phải là lần đầu tiên…” Có
lẽ vì có cả Kashiwagi ở trong phòng nên ông bỏ lửng câu
nói. “Ta sẽ bỏ tiền túi ra trả,” ông tiếp lời, “nên
bây giờ con có thể lui về phòng.”
Nghe
những lời này tôi mới dám nhìn thẳng vào mặt Kashiwagi.
Nó đang ngồi trên sàn nhà, nét mặt nhơn nhơn như vừa làm
xong một việc rất đáng ca ngợi. Tuy nhiên, nó cũng phải
nhìn đi phía khác. Khi làm một việc gì ác độc, Kashiwagi
luôn luôn có dáng vẻ hết sức thuần khiết, như thể người
ta đã hút ra cái nhụy trong tính chất của nó mà nó hoàn
toàn không hay biết gì cả. Chỉ có mình tôi là biết được
điều này.
Khi
trở về phòng riêng, tôi mới ý thức rằng đêm nay trong tiếng
mưa rơi dữ dội trong nỗi cơ đơn của riêng mình, tôi đã
được giải thoát.
“Ta
cũng không làm sao có thể để con ở lại trong chùa thêm nữa
đâu - lần đầu tiên tôi được nghe Lão sư phụ nói ra lời
này, lần đầu tiên ông đã nói cho tôi nghe lời đoan quyết
này. Đột nhiên, mọi sự đều trở nên rõ ràng. Lão sư phụ
đang nghỉ đến truyện tống cổ tôi khỏi chùa. Mình phải
cấp tốc thi hành quyết định mới được.
Nếu
Kashiwagi đã không hành động như nó đã hành động đêm ấy
thì có lẽ tôi đã không có cơ hội được nghe Lão sư phụ
thốt ra những lừi nói ấy và tôi vẫn còn trì hoãn chưa
thi hành quyết định của mình. Nghĩ rằng chính Kashiwagi là
người đã đem lại cho tôi sức mạnh để vươn qua sự trì
trệ của mình tôi thấy biết ơn nó một cách thực lạ lùng.
Không
có dấu hiệu gì là cơn mưa sẽ tạnh cả. Trời tháng sáu
mà thế này thì lạnh quá và căn hậu phòng nhỏ bé vách gỗ
bốn xung quanh trông thực hoang lạnh dưới ánh sáng yếu ớt
của ngọn đèn điện. Đây là nơi tôi đang ở và có lẽ
sắp bị trục xuất khỏi phòng. Chẳng có một vật trang trí
nào cả. Cái mép đen đen của cái chiếu nhạt màu tren sàn
nhà đã rách mướp, xoán lại quăn queo để lộ từng sợi
cói cứng nhắc. Thường thường khi bước vào căn phòng tối
om này và bật đèn lên tôi thường vướng những ngón chân
vào cái mép chiếu rách nát ấy, nhưng tôi đã không buồn
khâu vá lại. Sự tha thiết của tôi đối với cuộc đời
không có quan hệ gì với chiếu cói cả.
Bây
giờ sắp tới mùa hè, căn phòng nhỏ bé này nồng nực mùi
khen khét từ thân thể tôi tiết ra. Kể cũng buồn cười mặc
dù tôi là một thày chùa ấy thế mà thân mình tôi lại vẫn
có cái mùi riêng biệt của thân mình những thằng thanh niên
tầm thường. Mùi này đã thấm vào những cây cột đen bóng,
cũ kỹ ở bốn góc phòng và vào cả bức vách gõ nữa. Bây
giờ cái mùi hôi hám của một sinh vật trẻ tuổi rỉ ra ở
giữa những mắc gỗ mà thời gian đã làm cho bóng lên. Những
cây cột, những bức vách đã biến thành những vật sống
động - bất động nhưng tiết ra mùi gây gấy, tanh tanh.
Thế
rồi những bước chân là lạ tôi đã nghe thấy lúc trước
bây giờ đang tiến lại gần dọc theo hành lang Kashiwagi đang
đứng sững ở đó, giống như một bộ phận cơ giới bất
chợt dừng lại. Phía sau nó, ánh đèn từ khu phòng Lão sư
phụ chiếu sáng cây lục chu tùng hình chiếc thuyền ở trong
vườn và tôi có thể thấy cái lùm cây như mũi thuyền ở
trong vườn và tôi có thể nhìn thấy cái lùm cây như mũi
thuyền xanh đen, ướt át vươn cao trong màn tối.
Tôi
nhoẻn một nụ cười thấy thật thỏa mãn khi nhận ra rằng
lúc nom thấy nụ cười này Kashiwagi lần đầu tiên đã để
lộ nét mặt gần như là hoảng hốt.
“Sao
cậu không vào phòng tớ chơi cái đã!” tôi nói.
“Ừ
ừ. Đừng có làm cho tớ hoảng sợ chứ! Cậu thực là một
con người kỳ lạ, có phải không?”
Kashiwagi
bước vào phòng tôi; và liền sau đó nó loay hoay nghiêng người
ngồi xuống cái bồ đoàn với những động tác chậm chạp
quen thuộc khiến người ta tưởng nó đang cố gắng nằm bò
ra. Nó ngẩng đầu lên và nhìn quanh căn phòng. Bên ngoài, tiếng
mưa rơi vây chặt lấy chúng tôi giống như một tấm màn dầy.
Giữa tiếng nước bắn tung tóe trên đầu hàng hiên không
có mái che mình có thể nghe thấy những hạt mưa từ những
tấm cửa kéo giấy bồi dội bật ra khắp mọi nơi trong nhà.
“Phải,”
Kashiwagi nói, “cậu cũng chẳng nên oán tớ, cậu ạ. Kết
cục chỉ tại cậu mà tớ đã phải làm như thế. Thôi bỏ
qua đi là hết.” Nó rút từ trong túi ra một cái phong bì
trên đó có in hình Lộc Uyển tự rồi đếm các tờ giấy
bạc đựng ở bên trong. Tất cả chỉ có ba nghìn yen tiền
giấy - những tờ giấy bạc mới tinh rõ ràng là mới phát
hành từ tháng giêng năm nay.
“Những
tờ giấy bạc ở chùa này đều đẹp và sạch, có phải không?”
tôi nói. “Lão sư phụ của chúng tớ rất ư khó tính nên
cứ ba ngày một lần, ông lại bắt ông Phó ti ra ngân hàng
đem bạc lẻ đổi lấy tiền mới.”
“Nhìn
đây này!” Kashiwagi nói. “Tất cả chỉ có ba tờ. Cậu có
một ông hòa thượng tính toán thật xít xao, có phải vậy
không? Ông ấy bảo ông ấy không chấp nhận việc anh em bạn
học mà lại cho nhau vay tiền lấy lãi. Tuy vậy, chính ông
ta thì lại bóp hầu bóp cổ thiên hạ bằng thích.”
Thấy
Kashiwagi bị thất vọng bất ngờ, tôi cảm thấy hết sức
khoái ý. Tôi phá ra cười và Kashiwagi cũng cười theo. Trong
giây lát hai đứa chúng tôi làm lành với nhau nhưng bỗng dưng
Kashiwagi nín bặt tiếng cười và nhìn chằm chằm vào một
chỗ nào đó trên trán tôi rồi nói như thể nó đang lột
trần hết con người tôi ra. “Tớ biết”, nó nói, “mấy
ngày gần đây trong đầu óc cậu đã nẩy sinh ra một kế
hoạch phá hoại nào đó, có phải không?”
Tôi
thấy khó khăn lắm mới chịu đựng được cái ánh mắt nặng
nề của nó. Rồi tôi nhận thấy rằng nó hiểu chữ “phá
hoại” theo một nghĩa hoàn toàn khác với sự tính toán của
tôi, và tôi lấy lại dáng vẻ bình thường. Tôi trả lời
thật trơn tru, không hề có một dấu vết gì của tật nói
lắp. Tôi nói: “Không làm gì có.”
“Có
thực thế không?” Cậu là một thằng kỳ cục. Cậu thực
là thằng kỳ cục nhất từ xưa đến giờ tớ mới thấy
lần đầu.”
Tôi
biết nhận xét này đã bắt nguồn từ nụ cười thân thiện
vẫn chưa tàn hẳn trên miệng tôi. Rõ ràng là chảng bao giờ
Kashiwagi hiểu được ý nghĩa của sự cảm tạ bừng nở trong
lòng tôi; nghĩ như vậy tôi lại càng mỉm cười thích thú
hơn nữa.
“Kỳ
này cậu có trở về quê nhà không?” tôi hỏi nó với giọng
bạn bè thân thiết.
“Có
chứ, ngày mai tớ sẽ về. Mùa hè ở Sannomiya. Tuy vậy ở
đó cũng chán lắm”.
“Ờ,
hai đứa mình sẽ không gặp nhau ở đại học một thời gian”.
“Sao?
Cậu có bao giờ đến trường đâu mà nói.”
Vừa
nói Kashiwagi vừa vội vã cởi khuy áo trước ngực ra rồi
mò tay vào cái túi bên trong.
“Trước
khi về quê tớ quyết định mang cho cậu những cái này,”
nó nói. “Tớ nghĩ những cái này sẽ làm cho cậu vui lòng.
Cậu vẫn hằng đánh giá hắn cao lắm, có phải không?”
Nó
vứt xuống bàn học của tôi bó thư nho nhỏ. Tôi ngỡ ngàng
đọc tên người gửi trên phong bì.
“Hãy
đọc hết đi”, Kashiwagi nói với một giọng tự nhiên. “Đó
là tập lưu niệm Tsurukawa gởi cho tớ.”
“Thế
ra Tsurukawa và cậu là bạn bè với nhau hả?” tôi hỏi.
“Ừ,
xem nào. Đúng, tớ nghĩ là một người bạn theo cách riêng
của tớ. Hồi sinh tiền chính Tsurukawa rất ghét ai coi nó là
bạn của tớ. Đồng thời tớ cũng là người duy nhất nó
có thể thổ lộ nỗi lòng. Nó qua đời đã được ba năm
rồi, nên tớ nghĩ rằng đem những lá thư này cho mọi người
xem thì cũng chẳng sao. Cậu thân với nó lắm, nên tớ nghĩ
để riêng một mình cậu xem mà thôi. Từ trước tớ đã có
ý vào một ngày nào đó để cho cậu xem những lá thư này.”
Ngày
tháng ghi trên những lá thư này đều vào khoảng tháng năm
Chiêu hòa thứ 22 (1947) ngay trước khi nó chết. Nó viết những
lá thư ấy từ Tokyo và gửi cho Kashiwagi hầu như đều đặn
mỗi ngày. Nó chẳng gửi một lá nào cho tôi, nhưng đã viết
cho Kashiwagi đều đặn mỗi ngày sau khi trở về Tokyo. Chắc
chắn là những lá thư này là của Tsurukawa - làm sao mà lầm
được nét chữ trẻ con, gẫy góc, vụng về của nó. Tôi
cảm thấy hơi ghen tị. Hình như Tsurukawa chưa bao giờ thèm
để ý dấu tôi những cảm tình trong sáng của nó; đôi khi
nó đã nói xấu Kashiwagi và cố gắng ngăn cản tôi giao du
với thằng này, vậy mà chính nó đã giao du bí mật với chính
thằng này.
Tôi
bắt đầu đọc những lá thư theo thứ tự ngày tháng. Những
lá thư viết bằng thứ chữ nhỏ bé trên những tờ giấy
chép bài mong mỏng. Văn chương rất là vụng về. Tư tưởng
hình như hơi lộn xộn khiến cho người đọc khó có thể
theo dõi một cách dễ dàng. Tuy nhiên, đằng sau những câu
văn rối loạn, lộn xộn có cả một nỗi niềm thống khổ
mịt mờ; và khi tôi đọc đến lá thư cuối cùng tất cả
những thống khổ mà Tsurukawa đã trải qua hiện ra rành rành
trước mắt tôi. Trong lúc tôi tiếp tục đọc thư, nước
mắt tôi tuôn tràn và đồng thời tôi thấy bàng hoàng cả
người trước nỗi bất hạnh, thống khổ tầm thường của
Tsurukawa.
Chẳng
qua chỉ là một truyện tình vụn vặt, tầm thường - mối
tình đau đớn của một thanh niên thiếu kinh nghiệm trường
đời với một người con gái nào đó mà cha mẹ không bằng
lòng. Rồi trong lá thư có một câu đã làm tôi ngạc nhiên
hết sức. Có thể là Tsurukawa đã vô tình nói quá để tả
rõ tình cảm của mình, nhưng tác dụng chẳng kém phần mãnh
liệt.
“Bây
giờ mỗi khi nghĩ đến truyện ấy,” nó viết, “mối tình
đau khổ của tớ dường như đã là hậu quả trực tiếp
của tâm hồn bất hạnh của tớ. Tớ sinh ra đời với một
tấm lòng u tối. Tớ nghĩ tớ chưa hề bao giờ biết vui vẻ
và dễ chịu là thế nào.”
Lá
thư cuối cùng có một giọng điệu sôi sục khiến khi đọc
tới, tôi thấy lòng mình tràn ngập một nỗi nghi ngờ từ
trước đến giờ chưa hề bao giờ tôi có thể tưởng tượng
được.
“Có
lẽ nào nó đã…” tôi nói.
Kashiwagi
gật đầu và chặn lời tôi. “Phải, đúng thế. Nó tự tử
đấy. Mười phần tớ tin chắc cả mười là như vậy. Gia
đình nó có lẽ ỉm truyện đó đi để giữ thể diện nên
đã bịa ra câu truyện cái xe cam nhông và gì đó nữa.”
“Cậu
viết thư trả lời nó, có phải không?” tôi tức giận lắp
bắp hỏi dồn.
“Ừ,
nhưng tớ biết khi thư tới thì nó đã chết rồi.”
“Cậu
viết những gì?”
“Tớ
chỉ viết là nó không được chết. Có vậy thôi.”
Niềm
tin vững chắc của tôi cho rằng tôi không bao giờ có thể
bị những cảm giác riêng tư của mình đánh lừa đã tỏ
ra sai bét. Kashiwagi đã phá vỡ ảo tưởng này của tôi.
“Mà
này, cậu thấy thế nào?” nó nói. “Những lá thư này đủ
thay đổi quan điểm của cậu về cuộc đời phải không?
Các kế hoạch của cậu đã vỡ tan vỡ nát hết rồi chứ
gì?”
Bây
giờ tôi hiểu Kashiwagi đã cho tôi xem những lá thư này sau
ba năm dài đằng đẵng. Tuy nhiên, mặc dù bị xúc động,
tôi vẫn còn giữ vẹn một ký ức - ký ức về ánh mặt trời
buổi sáng đổ như suối tràn qua các cành cây rải những
bông hoa nắng trên chiếc áo sơ mi trắng của người thanh
niên nằm trên bãi cỏ rậm mùa hè. Tsurukawa đã chết và ba
năm sau đó đã bị biến dạng ra như thế này. Thật dường
như những gì tôi đã gửi gấm vào nó biến đi với cái chết
của nó, nhưng thay vào đó chính vào khoảnh khắc này nó đã
được tái sinh với một hiện thực tính mới mẻ. Thế rồi
tôi đâm ra tin tưởng vào thực chất của ký ức hơn là vào
ý nghĩa của ký ức ấy nữa, thì cuộc sống tự nó sẽ băng
hoại. Trong khi Kashiwagi đứng đó nhìn tôi với con mắt kẻ
cả, hiển nhiên nó hoàn toàn mãn nguyện là đã táo bạo giết
chết mối cảm xúc của tôi.
“Sao
vậy?” nó nói. “Bây giờ đã có một cái gì sụp đổ trong
lòng cậu có phải không? Nhìn một thằng bạn cứ ôm ấp
mãi trong lòng một cái gì lúc nào cũng sẵn sàng đổ vỡ
là tớ không sao chịu được. Tình thân thiết thực sự của
tớ là ở chỗ phá vỡ những cái như thế.”
“Và
nếu điều ấy vẫn chưa sụp đỗ thì sao?” tôi hỏi.
“Thôi
đừng có làm bộ làm tịch một cách trẻ con như thế nữa!”
Kashiwagi nói với nụ cười chế nhạo. “Tớ chỉ có ý làm
cho cậu hiểu mà thôi. Cái đã làm cho thế giới này thay đổi
hình dạng - chính là sự hiểu biết. Cậu có hiểu tớ nói
gì không? Chẳng có cái gì khác ngoài sự hiểu biết là có
thể làm thay đổi thế giới này đồng thời lại vẫn để
thế giới này trong trạng thái bất biến. Khi nhìn thế giới
với con mắt của sự hiểu biết cậu sẽ thấy rằng thế
giới thực ra vĩnh viễn bất biến và đồng thời cũng lại
vĩnh viễn biến mạo. Cậu có thể hỏi như vậy có lợi gì
cho ta. Thôi hãy nói theo cách này - con người có được sự
hiểu biết làm võ khí để có thể chịu đựng được cuộc
sống. Đối với súc vật những cái đó không cần thiết.
Súc vật không cần ý thức hoặc cái gì tương tự để có
thể chịu đựng được cuộc đời. Nhưng con người cần
phải có một cái gì đó và với sự hiểu biết con người
có thể làm cho chính cái tính cách không sao chịu nổi cuộc
đời trở thành một võ khí mặc dù lúc ấy cái tính cách
không sao chịu nổi của cuộc đời không hề giảm bớt lấy
mảy may. Tất cả chỉ có vậy.”
“Cậu
nghĩ có phương pháp nào khác để chịu đựng được cuộc
sống không?”
“Không.
Tớ không biết. Ngoài cái cách ấy ra thì chỉ còn điên cuồng
hoặc cái chết.”
“Hiểu
biết quyết chẳng bao giờ có thể làm thay đổi bộ mặt
thế giới”, tôi buộc miệng nói, suýt nữa phơi gan rạch
ruột một cách nguy hiểm. “Chỉ có hành động mới có thể
làm thay đổi bộ mặt thế giới. Chỉ có cách ấy mà thôi.”
Đúng
như tôi mong đợi, Kashiwagi tránh né câu nói của tôi với
một nụ cười lạnh lùng trông có vẻ như được dán trên
mặt nó.
“Cậu
tin thế hả!” nó nói. “Hành động, cậu nói. Nhưng cậu
không thấy rằng vẻ đẹp của thế giới mà cậu ham thích
đang thèm khát muốn ngủ; mà muốn có thể ngủ được nó
cần phải được sự hiểu biết che chở. Cậu có nhớ truyện
“Nam Toàn Trảm Miêu” mà tớ đã có lần kể cho cậu nghe
không? Con mèo trong truyện ấy đẹp tuyệt vời. Lý do khiến
các tu sĩ lưỡng đường cãi lộn với nhau là vì cả hai đều
muốn che chở con mèo, chăm nom săn sóc nó để cho nó ngủ
ngon êm ấm bên trong những tấm áo hiểu biết riêng biệt
của họ. Bấy giờ Thượng tọa Nam Toàn lại là một con người
hành động, vì thế ông đã lấy cái liềm và cắt cổ con
mèo đi. Nhưng đến khi Triệu Châu chợt tới, anh ta đã cởi
giầy và đội lên đầu. Ấy là Triệu Châu muốn nói thế
này. Anh ta hiểu rõ rằng cái đẹp là một cái gì cần phải
ngủ yên và khi ngủ cần phải có sự hiểu biết che chở.
Tuy nhiên, không làm gì có sự hiểu biết riêng rẽ, một thứ
hiểu biết riêng của một người hay của một nhóm nào. Hiểu
biết là biển cả của nhân gian, cánh đồng của nhân gian,
dạng thức tồn tại của tất cả cuộc sống nhân gian. Tớ
nghĩ đó là điều anh ta muốn nói. Bây giờ cậu muốn đóng
vai Nam Toàn phải không? Ừ, cái đẹp - cái đẹp mà câu ham
thích ghê gớm - là ảo ảnh của bộ phận còn lại, bộ phận
thặng dư đã được ủy thác cho sự hiểu biết. Nó là ảo
ảnh của ‘phương pháp khác để chịu đựng cuộc sống’
mà cậu đã nói. Người ta có thể nói thực ra không làm gì
có cái gọi là đẹp. Điều đã đem cho ảo ảnh một sức
mạnh như thế, điều đã làm cho ảo ảnh có nhiều hiện
thực tính như thế, đích thực là sự hiểu biết rồi còn
gì. Theo quan điểm của sự hiểu biết thì cái đẹp không
bao giờ là một niềm an ủi cả. Nó có thể là một người
đàn bà, có thể là một người vợ, nhưng chẳng bao giờ
nó là một niềm an ủi hết. Tuy nhiên, từ sự kết hôn giữa
cái đẹp vốn không bao giờ là niềm an ủi một bên với
sự hiểu biết một bên đã có nẩy sinh một cái gì đó.
Nó thường mong manh như một cái bọt nước và tuyệt đối
vô vọng. Song, đã có một cái gì đó ra đời. Đó là cái
thế gian gọi là “nghệ thuật”.
“Cái
đẹp…” tôi buột mồm lắp bắp một thôi một hồi thật
là dữ dội. Nó là một ý tưởng không bờ cõi, không giới
hạn. Trong óc tôi thoáng vụt một mối nghi ngờ rằng rất
có thể chính quan niệm của tôi về cái đẹp đã khiến cho
tôi mắc tật nói lắp. “Cái đẹp, những sự vật đẹp
đẽ”, tôi tiếp tục. “những cái ấy bây giờ là kẻ thù
tớ oán hận bậc nhất.”
“Cái
đẹp là kẻ thù cậu oán hận à?” Kashiwagi vừa nói vừa
trợn tròn đôi mắt. Thế rồi khuôn mặt đỏ ửng của nó
lại có dáng vẻ sảng khoái, quen thuộc của nhà triết học.
“Nghe cậu nói vậy tớ mới thấy trong con người cậu có
một sự thay đổi thực là lớn lao! Quả tình tớ phải điều
chỉnh lại cái lăng kính nhận thức của tớ mới được.”
Chúng
tôi tiếp tục một hồi lâu. Đã lâu lắm hai đứa mới lại
nghị luận với nhau một cách thân tình như thế. Mưa vẫn
chưa tạnh. Lúc sắp sửa ra về, Kashiwagi đã nói cho tôi hay
về Sannomiya và hải cảng Kobe. Tôi chưa bao giờ đến một
trong hai nơi này và bây giờ nó một tả những chiếc tầu
to lớn dang drời hải cảng vào mùa hè. Hồi tưởng lại Maizuru
tôi thấy những cảnh ấy thật là sống động. Ít nhất cũng
có một lần ý kiến chúng tôi phù hợp với nhau. Hai thằng
sinh viên nghèo kiết xác chúng tôi đã cùng nhau chia xẻ những
không tưởng và đồng ý với nhau rằng cả nhận thức lẫn
hành động, chẳng có cái nào có thể đem đến niềm vui cho
bằng niềm vui được giương buồm vượt biển đi xa.
Hết
phần 8