7
Kinh
nghiệm tổng quát của tôi về cuộc đời dường như chỉ
là một thứ số không. Giống y như trong một dẫy dài những
tấm gương soi dưới hàng hiên một hình ảnh cứ phản chiếu
mãi mãi cho đến vô hạn. Những sự vật mà tôi mới nhìn
thấy đã phản chiếu rõ rệt trên hình ảnh những sự vật
mà tôi đã nhìn thấy trong quá khứ và tôi cảm thấy mình
đang bị những sự vật trương tự dẫn dắt đi sâu tới
tận cùng hành lang, vào một căn phòng mênh mang tối tăm nào
đó. Chúng ta không bao giờ đụng đầu với vận mệnh của
mình một cách bất ngờ. Một người sau này bị hành án tử
hình - cứ mỗi khi nhìn thấy một cột điện trên đường
đi làm, cứ mỗi khi băng qua một khúc đường xe lửa - là
anh ta lại luôn luôn mường tượng trong óc mình hình ảnh
nơi hành án và rồi dần dần trở nên quen thuộc với hình
ảnh đó.
Do
đó, trong kinh nghiệm của tôi không hề có cái gì chồng chất
tích lũy. Không một lớp đất nào đủ dầy để có thể
làm nên một ngọn núi bằng cách chồng hết lớp đất này
đến lớp đất kia. Ngoài Kim Các Tự ra, tôi không hề cảm
thấy thân thiết với bất kỳ một sự vật nào trên đời,
thực vậy, tôi cũng thấy mình cách biệt chẳng hề thắm
thiết với những kinh nghiệm đã qua của chính mình nữa.
Tuy nhiên, có một điều tôi biết chắc là trong mớ kinh nghiệm
này có những tiểu bộ phận chưa bị cái biển thời gian
tối om nuốt chửng, chẳng hề tan biến trong sự lặp lại
vô nghĩa và bất tận - đã móc nối với nhau và sẽ làm thành
một bức họa xấu xí, gớm ghiếc nào đó.
Vậy
thì những tiểu bộ phận đặc biệt ấy là những cái gì
vậy? Tôi đã nghĩ đi nghĩ lại tới chúng. Tuy nhiên, những
mảnh kinh nghiệm vãi vung, chói sáng này lại cũng còn thiếu
cả phép tắc lẫn ý vị hơn cả những mảnh vỏ chai mà mình
thấy bên vệ đường nữa. Tôi không thể làm sao tin được
rằng những mảnh vụn này là những miếng vỡ nát của cái
mà trong quá khứ đã được tạo hình cho thành một sự vật
có dáng vẻ đẹp đẽ tuyệt vời. Bởi vì trong sự khiếm
khuyết hoàn toàn về ý vị và phép tắc hết sức khó coi
của chúng mỗi mảnh vụn đã bị vứt bỏ rã rời này đường
như vẫn còn mơ đến tương lai. Phải, tuy chúng chỉ là những
mảnh vụn mà thôi, song mỗi một mảnh vụn vẫn nằm ở đó
trơ trơ lặng lẽ để mơ đến tương lai! Đến một tương
lai! Đến một tương lai chẳng bao giờ có thể bình phục
hay là khôi phục, một tương lai chẳng bao giờ đưa tay với
tới được, một tương lai từ trước đến giờ chưa có
ai nghe thấy, nhìn thấy.
Những
hoài niệm mơ hồ như thế đôi khi cũng đem lại cho tôi một
miềm hưng phấn trữ tình mà chính tôi cũng phải thấy là
không thích hợp với mình. vào những dịp như thế nếu may
mắn vào đêm có trăng tôi sẽ mang sáo ra thổi ngay bên Kim
Các Tự. Bây giờ tôi đã đạt đến mức độ có thể chơi
bài “Ngự Sở Xa” của Kashiwagi mà không cần nhìn vào bản
âm nhạc. Âm nhạc thật giống như là mộng mơ. Ngược lại,
đồng thời nó cũng giống như một trạng thái thức tỉnh
còn rõ rệt hơn cả hình thức của những giờ tỉnh táo thông
thường của chúng ta nữa. Tôi vẫn thường tự hỏi trong
hai cái này cái nào thực sự là âm nhạc? Nhiều khi âm nhạc
có khả năng làm đảo lộn hai cái trái ngược nhau này. Và
có những lúc dường như tôi đã có thể hóa thân thành điệu
nhạc “Ngự Sở Xa” mà tôi đang chơi. Tinh thần tôi hằng
quen với niềm vui khi hóa thân thành âm nhạc. Bởi vì đối
với tôi, khác hẳn trường hợp Kashiwagi, âm nhạc quả thực
là một nguồn an ủi.
Lần
nào thổi sáo xong, tôi cũng thường tự hỏi: “Tại sao Kim
Các Tự lại làm ngơ trước sự hóa thân này của tôi? Tại
sao nó chẳng chê trách hoặc can thiệp khi tôi hóa thân thành
âm nhạc như thế này? Chưa có một lần nào ngôi chùa lại
làm ngơ đối với tôi khi tôi cố gắng hóa thân vào hạnh
phúc và khoái lạc của cuộc đời. Trong tất cả mọi trường
hợp như thế, ngôi chùa vẫn có thói quen ngăn cản tức khắc
cố gắng của tôi và ép buộc tôi quay về với chính mình.
Tại sao Kim Các Tự lại chỉ cho phép tôi được ngây ngất
hoạc tìm lãng quên trong âm nhạc mà thôi?”
Mỗi
khi nghĩ ngợi như thế, tôi lại thường thấy sức lôi cuốn
của âm nhạc phai tàn chỉ vì Kim Các Tự đã cho phép tôi
được hưởng nguồn vui đặc biệt này. Nhân vì ngôi chùa
đã mặc nhiên chấp nhận việc làm của tôi cho nên âm nhạc,
mặc dù có giống cuộc đời đến thế nào đi nữa, cũng
đã trở thành một hình thức đó thì sự hóa thân ấy tự
nó lại càng chỉ có thể là một cái gì tạm bợ.
Tôi
không muốn để thiên hạ nghĩ là mình đã cúi đầu cam chịu
và co đầu rút cổ lại chỉ vì đã hai lần điêu đứng với
đàn bà cuộc sống. Cho đến cuối năm Chiêu Hòa thứ hai mươi
ba (1948) tôi vẫn còn bao nhiêu là cơ hội nữa, kể cả sự
dẫn dắt của Kashiwagi; rồi chẳng hề sờn lòng nhụt chí,
tôi bắt tay vào việc. Tuy nhiên, kết quả luôn luôn vẫn như
thế.
Giữa
con gái và chính tôi, giữa cuộc đời và chính tôi, lúc nào
cũng có Kim Các Tự đứng sừng sững. Do đó, khi tôi cố nắm
lấy vật gì thì vừa chạm vào tay tôi vật đó tức thời
biến thành tro bụi và cái triển vọng trước mắt tôi biến
ngay thành bãi sa mạc.
Có
một lần khi dừng tay làm việc ngồi nghỉ trong thửa ruộng
sau nhà bếp tình cờ tôi có dịp quan sát một con ong sà xuống
một bông hoa cúc mùa hè nho nhỏ màu vàng. Nó bay tới giang
rộng đôi cánh màu vàng óng ánh. Chọn một bông giữa biết
bao hoa cúc rồi cứ vo vo bay lượn xung quanh. Tôi cố gắng
nhìn bông hoa qua con mắt của con ong. Bông hoa cúc đứng im
xòe rộng cánh vàng vàng và mượt mịn. Trông nó thật xinh
đẹp y như một Kim Các Tự nhỏ bé và thật hoàn toàn y như
Kim Các Tự vậy; tuy nhiên nó không biến dạng trở thành ngôi
chùa và vẫn giữ nguyên hình dạng chỉ là một bông hoa cúc
mùa hè. Đúng thế, nó vẫn cứ là một bông cúc chẳng hề
đổi thay, một bông hoa, một hình thái không hề bao hàm một
ám thị siêu hình nào hết. Nhờ biết giữ những tiết độ
trong cuộc sống, nó đã tỏa ra một mỹ cảm tràn tề và
trở thành một đối tượng thích hợp cho dục vọng của
con ong mật. Ẩn mình và thở hút nơi đó làm một đối tượng
cho cái dục vọng vù vù, bay lượn, quấn quít không có dạng
hình ấy mới thật là điều thần bí biết bao. Dần dà hình
thái ấy mỗi lúc một mong manh hơn trông như thể sắp sửa
tan vỡ, nó rung rinh và run rẫy. Điều này thật hoàn toàn
tự nhiên, bởi vì chính hình thái đoan chính của bông cúc
đã được đúc khuôn theo dục vọng của con ong và chính vẻ
đẹp của nó đã bừng nở trong dự cảm về dục vọng ấy.
Bấy giờ là lúc ý vị của hình thái bông hoa sắp sửa chói
rạng trong cuộc đời. Chính hình thái ấy là sự đúc khuôn
của cuộc đời. Luôn luôn trôi chẩy không có khuôn đúc;
đồng thời sư ïbay lượn của cuộc đời không hình dáng
lại là sự đúc khuôn cho tất cả mọi hình thái ở trần
gian này… Cứ như thế con ong mật nhào đầu châm sâu vào
bông hoa và khi phấn hoa đã bám đầy mình, nó say sưa ngất
lịm. Khi đã đón tiếp con ong mật vào trân thân thể mình,
bông cúc mùa hè đã tự trở thành như một con ong vàng óng,
rực rỡ, có mặc áo giáp và tôi ngắm bông hoa cúc lắc mình
dữ dội như thể sắp lìa cuống hoa mà bay đi bất kỳ lúc
nào.
Ánh
sáng và cái việc làm dưới ánh sáng hầu như đã làm tôi
choáng váng. Rồi đúng vào lúc rời bỏ cái nhìn của con ong
để trở về với cái nhìn của chính mình, tôi chợt nhận
thấy rằng con mắt tôi từ nẫy đến giờ vẫn ngắm cảnh
này ở đúng vị trí con mắt của Kim Các Tự. Quả thực là
như thế. Cũng như tôi đã rời bỏ cái nhìn của con ong trở
về cái nhìn của chính mình vào những giờ phút ấy cuộc
đời nhích lại gần tôi, tôi lại từ bỏ con mắt của chính
mình và đem con mắt Kim Các Tự làm mắt mình vậy. Và chính
vào những giây phút như thế ngôi chùa thường chen vào giữa
để ngăn cách thân tôi với cuộc đời.
Tôi
trở về với con mắt của chính mình. Trong thế giới sự
vật bao la, mông lung này, con ong mật và bông cúc mùa hè chỉ
còn đó để được “phối liệt”. Con ong mật bay lượn
và bông hoa cúc rung rinh chẳng khác nào ngọn gió rì rào lấy
mảy may. Trong cái thế giới băng gái im lìm này mọi vật
đều đồng cách với nhau, và cái hình thái đã tỏa ra một
sức lôi cuốn mãnh liệt như thế đã chết rồi, tuyệt rồi.
bông hoa cúc chẳng còn đẹp vì hình thái của nó nữa, nhưng
vì cái tên gọi mơ hồ là “hoa cúc” mà chúng ta gán cho
nó và vì sự hứa hẹn chứa đựng trong cái tên gọi ấy.
Vì không phải là con ong nên tôi không bị bông hoa cúc quyến
rũ và vì tôi không phải là bông cúc nên chẳng con ong nào
thèm muốn tôi hết. Mối ràng buộc thân thiết của tôi trước
đây đối với các hình thái và với dòng đời đến nay đã
tan biến mất rồi, thế giới đã bị vứt bỏ vào trong tính
cách tương đối và chỉ còn có thời gian là chuyển động
mà thôi. Tôi không muốn nhiều lời kể lể dài dòng, tôi
chỉ muốn nói là khi cái Kim Các Tự vĩnh viễn, tuyệt đối
xuất hiện và khi con mắt tôi biến thành con mắt Kim Các Tự
thì thế giới quanh tôi đã biến thành dạng theo chiều hướng
tôi đã mô tả, và theo chiều hướng là trong cái thế giới
biến đổi này chỉ có Kim Các Tự là giữ nguyên được hình
thái cùng vẻ đẹp riêng biệt của nó, đồng thời biến
tất cả những cái khác thành cát bụi. Kể từ khi giẫm chân
lên bụng cô gái điếm ấy ở trông sân chùa và đặc biệt
từ sau cái chết đột ngột của Tsurukawa, tôi vẫn hằng tự
mình nhắc đi nhắc lại câu hỏi này: “Thế nhưng có thể
nào vẫn có tội ác hay không?”
Một
ngày thứ bảy tháng giêng năm Chiêu Hòa, thứ 24 (1948), lợi
dụng một buổi chiều nhàn rỗi, tôi đến một rạp chiếu
bóng hạng ba. Sau khi xem phim xong, đây là lần đầu tiên sau
bao nhiêu lần tôi mới lại đi bộ một mình qua khu phố Shinkyogoku.
Giữa đám người đông đúc, bất chợt tôi thấy mình đang
đi cạnh một khuôn mặt rất quen thuộc, nhưng trước khi tôi
có thể nghĩ ra người đó là ai, khuôn mặt ấy đã chìm vào
trong làn sóng người đang cuồn cuộn trên hè phố rồi biến
mất đằng sau lưng tôi.
Đàu
đội mũ dạ mềm, mình khoác áo choàng hạng sang, cổ quấn
khăn quàng, người ấy đang đi với một người con gái mặc
chiếc áo nogài đỏ ửng, rõ ràng là một cô gái geisha. Khuôn
mặt hồng hào mụ mẫm, dáng vẻ sạch sẽ như trẻ con của
người đàn ông thật khác hẳn khuôn mặt, dáng vẻ của đa
số các thân sĩ, trung niên thông thường, cái mũi dài - đúng
rồi, tất cả là những nét đặc biệt của Lão sư phụ và
chỉ có cái mũ dạ mềm là che giấu được những nét đặc
biệt ấy đi trong chốc lát mà thôi. Tuy chẳng có gì phải
xấu hổ vì chính mình, song tôi sợ rằng tôi đã bị thượng
tọa nhìn thấy. Vì lẽ ngay sau đó tôi cảm thấy phải tránh
sao cho khỏi trở thành nhân chứng cho cuộc chơi hoang của
Lão sư phụ rồi âm thầm dây dưa tới truyện tin cậy hoặc
không tin cậy đối với ông.
Rồi
rôi thấy một con chó đi qua đám đông dưới trời đêm trong
sáng. Con chó này to lớn, lông sù sì và hiển nhiên đã quen
đi lại ở những chỗ đông người, vì nó len lách rất khéo
qua chân những người đàn bà ăn vận hoa mỹ và những người
đàn ông trong những bộ động phục quân đội chiếm đóng,
rồi thỉnh thoảng dừng lại đánh hơi bên ngoài một cửa
hiệu bán đồ cổ, chẳng hề thay đổi kể từ thời Shogoin
Yatsunashi. Lúc đó là lần đầu tiên tôi có thể nhìn rõ khuôn
mặt con chó dưới ánh đèn của hiệu ấy. Một mắt nó bị
bẹp dí, máu và mủ động lại ở nơi đuôi mắt trông giống
như một viên mã não. Con mắt lành lặn thì đang nhìn thẳng
xuống mặt đất. Phần lông sù sì trên lưng kết chặt lại
với nhau thành cụm lớn dắn chắc.
Tôi
không hiểu tại sao con chó này lại làm tôi chú ý. Có lẽ
bởi vì khi lang thang ngoài phố nó đã bướng bỉnh mang theo
trong mình một thế giới hoàn toàn khác hẳn đường phố
phồn hoa, sáng rực này. Nó đi qua một thế giới tối đen
tràn ngập khứu giác. Thế giới này chồng chất lên thế
giới phố xá của nhân gian và quả thực ánh đèn của đô
thị, lời ca phát ra từ những đĩa hát, tiếng cười vang
vang của con người đang bị những mùi tối tăm dai dẳng đe
dọa. Vì lẽ trật tự của mùi ấy xác thật hơn, và mùi
nước đái bám ở những cái chân ướt át của con chó quả
thực có dây dưa với cái mùi khó ngửi thoang thoảng do nội
tạng con người tiết ra.
Trời
rét như cắt. Mấy người thanh niên trông giống những tay
chạy hàng chợ đen trong khi đi xuống phố đã bẻ những cây
thông tang hoàn trong dịp đầu năm hãy còn bầy ở ngoài một
vài cửa hiệu mặc dù những ngày nghỉ lễ đã chấm dứt.
Họ xòe lòng bàn tay đeo găng da để xem ai đã bứt được
nhiều nhất. Một người trong bọn chỉ nắm được vài chiếc
lá thông trong tay; một người khác có cả một cành thông
nho nhỏ. Họ phá ra cười rồi đi mất hút.
Tôi
thấy mình đang đi theo con chó. Có lúc đã nghĩ là mất hút
nó rồi, nhưng lại thấy nó hiện ra ngay tức khắc. Nó rẽ
vào con đường dẫn tới Kawaramachi. Tôi cứ bước theo sau
nó và đi tới chỗ đường xe điện chạy. Khu này tối hơn
là khu Shikyogoku. Con chó biến đâu mất. Tôi dừng lại và
đưa mắt nhìn quanh khắp bốn phía.Tôi đi dến góc phố và
cứ tiếp tục kiếm tìm nó. Vừa lúc đó một chiếc xe hơi
có tài xế lái thuê, khung xe bóng lộn dừng lại trước mặt
tôi. Người tài xế mở cửa và liền đó một thiếu nữ
bước lên xe, tôi nhìn nàng chằm chằm. Người đàn ông sắp
sửa bước theo cô gái lên xe, nhưng khi nhận ra tôi, người
ấy chôn chân tại chỗ.
Đó
là Lão sư phụ. Tôi chẳng hiểu trời đất run rủi làm sao
mà Lão sư phụ lúc nẫy đã vượt qua tôi đến bây giờ lại
đụng đầu tôi đánh đốp như thế này. Dù sao đúng là Lão
sư phụ rồi, tôi còn nhớ rõ tấm áo người con gái mặc
bước vào trong xe màu đỏ thẫm.
Lúc
này thì không còn cách nào tránh né nữa. Những cuộc chạm
trán đã làm tôi bàng hoàng chấn động cả người mà chẳng
nói được câu nào. Trước khi tôi lắp bắp thốt ra được
một lời thì những âm thanh ngọng nghịu cứ sôi lên ở trong
miệng tôi. Cuối cùng khuôn mặt tôi phơi bầy một tình cảm
hoàn toàn ngoài ý muốn của mình. Thực ra, tôi đã làm một
điều hoàn toàn không đúng chỗ: tôi đã nhìn về phía Lão
sư phụ và bật ra một tiếng cười.
Tôi
không thể giải thích tiếng cười này. Hình như nó đã từ
bên ngoài đi tới rồi đột nhiên chui vào miệng tôi. Tuy nhiên,
khi Lão sư phụ nhìn thấy tôi cười, nét mặt ông thay đổi
hẳn.
“Thằng
nhãi con điên khùng này!” ông nói “Có phải mày định theo
dõi tao hay không thì bảo?”
Nói
rồi ông bước vào xe, đóng cửa đánh sầm như đập vào
mặt tôi. Khi chiếc xe đã đi rồi tôi mới biết ra Lão sư
phụ quả thực đã nhìn thấy tôi lúc ông và tôi chạm trán
nhau ở Shinkyogoku.
Ngày
hôm sau tôi cứ chờ đợi mãi Lão sư phụ gọi mình lên mắng
mỏ. Nếu vậy tôi sẽ có cơ hội để tỏ bầy tự sự. Nhưng,
cũng như lần trước, sau hôm tôi giẫm chân lên bụng con điếm,
lần này Lão sư phụ cũng vẫn hành hạ tôi bằng cách bắt
tôi chịu một cuộc khảo vấn không lời.
Vào
đúng lúc đó tôi nhận được một lá thứ nữa của Má.
Bà cũng vẫn chấm dứt lá thư bằng những lời dặn dò thường
lệ là chỉ sống trong hy vọng được nhìn thấy tôi trở
thành sư trưởng trụ trì Kim Các Tự.
“Thằng
nhãi con điên khùng kia có phải mày định theo dõi tao hay không
thì bảo?” khi tôi nhớ lại những lời Lão sư phụ đã gầm
lên với tôi thì mỗi lúc tôi lại càng thấy những lời đó
không xứng hợp chút nào. Nếu làmột tu sĩ Thiền tông thuần
thành hơn, có đầu óc rộng rãi và hài hước hơn thì có
lẽ Lão sư đã chẳng bao giờ dùng những lời mắng nhiếc
tầm thường như thế đối với môn đệ của mình. Đáng
lẽ ông phải ban ra một lời răn dậy đanh thép, hữu hiệu
hơn. Dĩ nhiên, bây giờ Lão sư phụ chẳng làm sao rút lại
lời nói của mình, nhưng tôi biết chắc thật ra ông đã hiểu
lầm khi cho rằng tôi có dụng tâm theo dõi ông và đã tỏ
ý cười nhạo ông như thể tôi đã gặp ông phạm vào một
điều phi pháp nào đó; do vậy ông phát cáu và tự nhiên tỏ
ra giận dữ một cách tầm thường.
Dù
sự thực có thế nào đi nữa việc Lão sư phụ không nói
một lời lại trở nên mầm mống khó chịu cứ càng ngày
càng đè nặng lên tôi. Sự tồn tại của Lão sư phụ đã
trở thành một sức mạnh vĩ đại, nó đã trở thành y như
hình bóng của con bướm đêm bay lượn chập chờn trước
mắt như trêu tức người ta.
Khi
có người mời đi làm lễ ở bên ngoài, Lão sư phụ có thói
quen mang theo một hoặc hai thị tăng. Ngày trước vào những
dịp này lúc nào cũng có mặt ông Phó ti, nhưng mới đây,
do đường lối gọi là dân chủ hóa nên thường thường năm
người chúng tôi - ông Phó ti, ông Điện ti, tôi và hai đồ
đệ nữa - thay phiên nhau tháp tùng Lão sư phụ. Ông quản
liêu, vốn nổi tiếng nghiêm khắc trong bọn chúng tôi, đã
bị gọi nhập ngũ và đã bị chết trận rồi. Công việc
của ông ta nay đã có ông Phó ti bốn mươi lăm tuổi kiêm
nhiệm. Sau khi Tsurukawa qua đời, có một đồ đệ mới xuất
gia đến bổ sung trong chùa.
Đúng
lúc ấy có một thượng tọa trụ trì một ngôi chùa (chùa
thuộc cùng một phái với Tướng quốc tự) mới qua đời
và Lão sư phụ của chúng tôi được mời đến dự những
nghi thức nhập viện của vị trụ trì tân mệnh. Thì ra đã
đến phiên tôi theo hầu Lão sư. Vì Lão sư phụ không tỏ
ý gì tránh né việc tôi theo hầu nên tôi hy vọng là có dịp
may để giãi bầy cho ông nghe trên đường đi hoặc lúc trở
về. Thế nhưng vào đêm trước buổi lễ lại có sự sắp
đặt cho người đồ đệ mới cùng đi. Thế là mọi hy vọng
của tôi bị đe dọa nặng nề.
Những
ai đã từng quen đọc văn học Ngũ sơn hẳn còn nhớ bài thuyết
pháp nhân dịp Ishimuro Zenkyu nhập viện ở Vạn Thọ tự tại
Kyoto vào Khang An nguyên niên (1361). Những lời thuyết pháp
hoa mỹ và vị tân mệnh trụ trì nói ra khi nhập viện và
khi đi từ sơn môn tới Phật điện qua Thổ Địa đường,
Tổ Sư đường và sau cùng đến biệt phòng Phương trượng
đã được truyền lại cho chúng tôi. Chỉ tay về hướng sơn
môn ông đã dõng dạc nói những lời giọng đầy vui thích
khi gánh vác trách nhiệm của vị tân mệnh trụ trì: “Đứng
trong Thiên vực cửu trùng, đứng trước cổng Đế thành Vạn
thọ, hai tay không ta mở khóa cổng, hai chân không ta trèo lên
đỉnh Côn Lôn linh thiêng.”
Lễ
dâng hương bắt đầu. Thoạt tiên vị tu sĩ làm lễ Tự pháp
hương để tỏ lòng báo ân vị Tự pháp sư. Thời xưa, khi
Thiền tông chưa bị giam hãm trong quán lệ và khi người ta
coi trọng hơn hết sự tỉnh ngộ của mỗi cá nhân thì người
đệ tử thường lựa chọn sư phụ của mình hơn là sư phụ
chọn lựa đệ tử. Vào thời đó, không những người đệ
tử thụ nghiệp nơi vị sư phụ đầu tiên đã dẫn dắt cho
mình mà còn ở nhiều vị sư phụ khác nữa; và trong buổi
lễ Tự pháp hương này, thường nêu tên vị sư phụ mình
nguyện sẽ tiếp nối nghiệp cho ai nấy cùng biết.
Trong
khi đứng xem nghi thức dâng hương trang trọng này, tôi tự
hỏi khi đến lượt mình hành lễ tự pháp hương ở Lộc
Uyển tự liệu tôi có theo tục lệ mà nêu tên Lão sư phụ
hay không. Có lẽ tôi sẽ phá vỡ cái tục lệ đã kéo dài
trong bảy trăm năm và nêu tên một vị nào khác. Sự giá lạnh
trong Phương trượng vào buổi chiều đầu xuân này, mùi thơm
ngào ngạt của năm loại hương, vòng anh lục lấp lánh đằng
sau bộ Tam cụ túc (bình hoa, đài nến và lò hương) và vòng
hào quang rực rỡ bao quanh pho tượng Phật, vẻ tươi sáng
và những tấm cà sa trên mình các tu sĩ được mời đến
dự lễ… và nếu một ngày kia tôi thấy chính mình phải
làm lễ dâng hương theo nghi lễ Tự Pháp? Tôi tưởng tượng
ra dáng vẻ của mình trong buổi lễ tân mệnh trụ trì. Làn
không khí giá lạnh buổi đầu xuân sẽ cổ vũ cho tôi vui
vẻ làm nghịch lại tập quán cổ truyền. Lão sư phụ sẽ
đến dự lễ; và ông sẽ ngỡ ngàng không nói nên lời và
sẽ giận dữ đến xám xanh mày mặt. Vì lẽ tôi sẽ đọc
một tên không phải tên ông. Một tên khác? Nhưng vị sư phụ
khác đã dậy đỗ tôi bước vào con đường tỉnh ngộ chân
thực là ai? Tôi đang tắc tị. Tật nói lắp của tôi đã
bít lối không cho cái tên vị sư phụ đó thoát ra khỏi miệng
tôi. Tôi lắp bắp; và trong lúc lắp ba lắp bắp thì một
cái tên khác bắt đầu buột ra - tôi bắt đầu nói “Cái
Đẹp” và “Hư Vô”. Thế là tất cả mọi người hiện
diện trong buổi lễ đều phá ra cười, và tôi đứng như
trời trồng, vụng về, cứng ngắc giữa tiếng cười của
mọi người.
Tôi
bất chợt tỉnh mộng. Lão sư phụ có vài việc phải làm;
và với tư cách một thị tăng, tôi có bổn phận tiếp tay
cho ông. Đối với một thị tăng được hiện diện trong một
dịp lễ như thế này thật là một điều rất đáng tự hào;
đặc biệt là trong trường hợp tôi, vì lẽ Thượng tọa
trụ trì Lộc Uyển tự là bậc thượng thủ trong hàng tân
khách. Khi Lão sư phụ của tôi đã niêm hương xong, ông lấy
cái chùy gọi là “bạch chùy” gõ một tiếng để chứng
minh rằng vị tân mệnh trù trì hôm nay không phải là một
Nhạn phù đồ, nghĩa là, một nhạn phường chủ hay một anh
tăng sĩ tiếm vị. Ông ê a tụng “Pháp duyên long tượng chúng
Đương quan đệ nhất nghi” rồi cầm bạch chùy gõ khẽ một
tiếng nữa. Lúc đó tôi mới thấy được quyền lực huyền
diệu của Lão sư phụ.
*
*
*
Tôi
không thể làm sao chịu được cảnh Lão sư phụ cứ lặng
lẽ buông trôi câu truyện vừa qua mà không nói một lời,
nhất là tôi không biết rồi ra sự im lặng này sẽ kéo dài
bao lâu. Nếu tôi được trời phú cho tình cảm nào đó của
con người thì tại sao tôi lại không hy vọng tìm thấy ở
người đời như ở Lão sư phụ mà tôi thường tiếp xúc,
những tình cảm tương ứng. Dù là yêu hay ghét cũng được.
Gần đây tôi có cái thói quen đốn mạt là mỗi khi có dịp
cứ quan sát vể mặt Lão sư phụ, nhưng chẳng một lần nào
có thể phát hiện những tình cảm đặc biệt trên khuôn mặt
ấy. Nét mặt thản nhiên của ông chẳng phải là lạnh lùng.
Có thể là khinh miệt, nhưng nếu quả như vậy, thì đó không
phải là sự khinh miệt đối với tôi như một cá nhân mà
với một cái gì tổng quát, một cái gì chẳng hạn ông đã
hướng về nhân gian nói chung hoặc về những khái niệm trừu
tượng khác nhau.
Vào
khoảng thời gian này tôi cố ép mình gọi ra hình ảnh cái
đầu tựa đầu loài thú của Lão sư và những hành vi nhục
thể khó coi của ông. Tôi tưởng tượng ra ông đang làm việc
bài tiết và tôi cũng mường tượng ra ông khi ông nằm ngủ
với người con gái mặc tấm áo choàng đỏ rực ấy! Tôi
nhìn thấy những nét thản nhiên, không chút tình cảm trên
khuôn mặt ông và một dáng vẻ có thể là tươi cười, có
thể là đau đớn chợt lộ trên khuôn mặt ông khi khuôn mặt
ấy đờ đẫn vì khoái cảm.
Da
thịt ông mềm mại, mịn mát khi tan biến vào da thịt cũng
mịn mát, mềm mại của người con gái và khi hai thân hình
ấy quyện chặt vào nhau không làm sao phân biệt được. Cái
bụng phưỡn của ông áp chặt vào cái bụng phình của cô
gái. Tuy nhiên, kể cũng kỳ lạ, dù có tưởng tượng đến
đâu đi nữa lúc nào tôi cũng chỉ thấy nét mặt lạnh lùng
thản nhiên không lộ chút tình cảm nào của Lão sư phụ với
dáng vẻ như loài thú trong khi bài tiết hoặc lúc tính giao
và chẳng bao giờ có một cái gì lấp kín khoảng trống giữa
hai cái này cả. Cực đoan này được trực tiếp biến sang
cực đoan kia, ở giữa chẳng hề có một sắc hợp tình cảm
nào trong cuộc sống thường nhật móc nối. Chỉ có một điều
duy nhất có chút xíu liên hệ đó là lời mắng mỏ có vẻ
thô lỗ của Lão sư phụ vào chiều hôm ấy: “Thằng nhãi
con điên khùng kia, có phải mày định theo dõi tao hay không
thì bảo?”
Sau
khi suy nghĩ và chờ đợi đến mệt đừ cả người, cuối
cùng tôi thấy mình có một thèm muốn hết sức mạnh mẽ,
dai dẳng: chỉ cần làm sao bắt gặp được một cái nhìn
ghét bỏ rõ rệt trên mặt Lão sư phụ. Kết quả của tất
cả những ý nghĩ đó là một sự sắp đặt hết sức điên
rồ, trẻ con và bất lợi rõ rệt cho tôi; nhưng tôi không
làm sao còn có thể tự kiềm chế nữa. Tôi cũng chẳng thèm
để ý là cái trò chơi ác này sẽ chỉ làm cho Lão sư phụ
hiểu lầm tôi thêm khi trước kia ông đã nghĩ rằng tôi đã
dụng tâm theo dõi ông.
Tôi
gặp Kashiwagi ở đại học và hỏi nó tên cùng địa chỉ
cửa hiệu ấy. Kashiwagi cho tôi biết liền mà chẳng hề hỏi
đến lý do. Tôi đi ngay đến cửa hiệu ấy xem xét tỉ mĩ
một lô ảnh khổ bưu thiếp chụp các cô danh kỹ trong khu
Kỳ viên. Mới đầu tôi thấy những bộ mặt trát phấn dầy
cộm của các cô gái ấy trông đều giống hệt như nhau, nhưng
nhìn kỹ một lúc tôi thấy nhiều nét khác biệt nhỏ nhặt
bắt đầu hiện rõ. Qua lớp son phấn lồ lộ bây giờ tôi
có thể phân biệt rõ những sắc điệu biểu hiện bản chất
từng khuôn mặt ấy - tối tăm hoặc sáng sủa, lanh lợi thông
minh hoặc đẹp đẽ đần độn, ủ dột hoặc hớn hở, bất
hạnh hoặc may mắn. Cuối cùng tôi giở tới tấm hình mình
đang muốn tìm. Dưới ánh đèn điện sáng trưng của cửa
hiệu, hình ảnh phản chiếu lấp lánh trên mặt giấy bóng
lộn thật khó mà nhìn rõ tấm ảnh, nhưng khi đã soi theo đúng
chiều ánh sáng tôi có thể nhận ra đích thực đấy là khuôn
mặt cô gái mặc áo choàng đỏ chót.
“Xin
cho tôi tấm ảnh này,” tôi nói với người bán hàng.
Sự
táo bạo đặc biệt của tôi vào lúc này tương ứng hoàn
toàn với việc tôi đã hoàn toàn thay đổi và thấy trong lòng
nhẹ nhõm, ngập tràn một niềm vui sướng không thể giải
thích được kể từ lúc quyết tâm thực hiện sách lược
của mình. Mới đầu tôi có ý định chọn lúc nào Lão sư
phụ đi vắng để cho ông không biết được là ai đã làm
việc đó, nhưng bây giờ nỗi hăm hở mới có của tôi đã
dẫn dắt tôi đến chỗ lựa chọn cái phương pháp nguy hiểm
là làm thế nào để không ai có thể lầm lẫn về trách nhiệm
của tôi cả.
Tôi
vẫn có bổn phận đem báo buổi sáng tới phòng Lão sư phụ.
Một buổi sớm tháng ba, khi trời hãy còn gái lạnh, như thường
lệ tôi đi ra cổng ngoài lấy báo đem vào. Tim tôi đập thình
thịch lúc tôi rút trong túi ra tấm ảnh cô gái ở khu Kỳ
viên để đem nhét vào trong tờ báo.
Mặt
trời buổi sáng chiếu vào cây tô thiết mộc ngay giữa tiền
đình có hàng rậu vây quanh. Vỏ cây tô thiết cứng dắn sù
sì biến màu rõ rệt dưới ánh sáng mặt trời. Bên trái là
cây bồ đề nhỏ. Một vài con chim nhược cuối màu đậu
trên cành cất mấy tiếng hót êm nhẹ nghe như tiếng tràng
hạt cọ vào nhau. Vào lúc này trong năm vẫn còn chim nhược
thì kể cũng lạ, nhưng cái mớ lông tơ vàng vàng, li ti ấy
mà tôi nhìn thấy trước ánh mặt trời xuyên qua cành cây,
thực chẳng thể thuộc về loài chim nào khác. Những hòn sỏi
trắng
óng nằm lặng lẽ trong tiền đình.
Tôi
cẩn thận đi men theo hành lang, cho chân khỏi bước vào những
vũng nước còn sót lại đó đay khi vừa lau nhà xong. Cửa
phòng Lão sư phụ trong Đại Thư Viện đóng kín mít. Hãy còn
sớm quá nên tấm liếp kéo bằng giây trắng còn chiếu sáng
chói lọi.
Tôi
quì ở ngoài hành lang và nói như thường lệ: “Thưa, con
có thể vào được không?” Nghe tiếng Lão sư phụ cho phép
tôi ẩn tấm cửa kéo bước vào phòng rồi đặt tờ báo gấp
nhẹ vào một góc bàn giấy. Lão sư phụ đang bận đọc một
cuốn sách nên không nhìn thẳng vào mắt tôi. Tôi lui bước,
khép cửa lại và vừa từ từ đi theo hành lang trở lại phòng
mình vừa cố gắng hết sức để giữ bình tĩnh.
Khi
tới phòng riêng, tôi ngồi xuống hoàn toàn buông mình theo
khích động rộn rã cho tới lúc rời chùa đi học. Chưa bao
giờ trong đời mình tôi lại trong chờ một cái gì với hy
vọng như thế. Mặc dù đã dụng ý làm cho Lão sư phụ tức
giận, song cái khung cảnh lúc này đây tôi đang đợi chờ
lại chỉ chứa đầy nguồn nhiệt tình của giây phút mà hai
con người đi đến chỗ hiểu biết lẫn nhau.
Có
lẽ Lão sư phụ sẽ bất thình lình nhẩy bổ vào phòng tôi
và tha thứ cho tôi. Và nếu ông tha thứ cho tôi, có lẽ lần
đầu tiên trong đời mình tôi sẽ đạt tới cái tình cảm
trong sáng, thuần khiết trong đó Tsurukawa đã luôn luôn sống.
Lão sư phụ và tôi sẽ ôm lấy nhau, và tất cả những gì
còn lại sau đó chỉ là sự tiếc rằng sao chúng tôi đã hiểu
nhau quá chậm.
Giấc
mơ này không kéo dài lâu, nhưng thực khó mà giải thích rằng
tại sao tôi lại có thể buông mình theo những không tưởng
dớ dẩn như thế dù chỉ trong một thời gian ngắn ngủi.
Khi lạnh lùng bằng cái hành vi ngu dại này tức là tôi đã
tự gạt bỏ tên mình khỏi danh sách những người có thể
kế nghiệp ông và như thế, tự mình tôi đã dọn đường
cho việc vĩnh viễn không bao giờ có hy vọng trở thành chủ
nhân Kim Các Tự nữa - trong suốt thời gian này tôi bị cái
mục tiêu tức thời lôi cuốn, chấp trước đến nỗi quên
hết sự tha thiết trọn đời của mình đối với Kim Các
Tự.
Tôi
vểnh tai nghe ngóng phía phòng Lão sư phụ trong Đại Thư Viện.
Tôi chẳng nghe thấy một tiếng động nào hết.
Bây
giờ tôi bắt đầu chờ đợi con thịnh nộ của Lão sư phụ,
chờ đợi tiếng la hét như sấm rền của ông. Về phần mình,
tôi cảm thấy nếu có bị đánh đập, đá cho ngã lăn xuống
sàn nhà và nện cho chảy máu lênh láng thì chẳng có gì đáng
hối tiếc nữa. Nhưng về phía Đại Thư Viện vẫn hoàn toàn
im lặng; trong lúc tôi ngồi trong phòng chờ đợi không một
tiếng động nào tới gần.
Rồi
lúc rời Lộc Uyển tự để đi đến trường, tôi thấy lòng
mình hoàn toàn trống rỗng, rã rời và hoang lạnh. Tôi không
thể tập trung tư tưởng vào bài giảng và khi vị giáo sư
hỏi tôi một câu thì tôi đã trả lời sai bét chẳng ăn thua
gì đến câu hỏi khiến cho ai nấy đều bật cười. Tôi liếc
mắt nhìn Kashiwagi và thấy rằng có mình nó là thờ ơ với
việc này và đang nhìn ra cửa sổ. Hẳn là nó cũng biết cái
bi kịch đang diễn ra trong lòng tôi.
Khi
tôi trở về chùa vẫn chẳng có gì thay đổi hết cả. Nếp
sinh hoạt vĩnh viễn, ngột ngạt, đen tối trong chùa đã trở
thành khuôn phép chắc chắn đến nỗi giữa ngày này với
ngày khác chẳng làm sao có được sự khác biệt nào cả.
Mỗi
tháng có hai buổi giảng nghĩa giáo điển; hôm nay chính là
ngày có buổi giảng bài như thế. Mọi người trong chùa đều
tụ tập ở phòng Lão sư phụ để nghe ông thuyết giảng.
Tôi trộm nghĩ là ông sẽ khéo léo lấy cớ giảng kinh Vô
Môn Quan để trách mắng tôi trước mặt tất cả mọi người.
Tôi có lý do đặc biệt để tin tưởng điều này. Tôi cảm
thấy có một thứ can đảm đầy nam tính đã thúc đẩy tôi
tôi ngồi ngay trước mặt Lão sư phụ trong buổi thuyết giảng
tối nay. Tôi thấy Lão sư phụ sẽ đáp lại bằng cách chính
ông bày tỏ một đức tính tốt đẹp của bậc nam nhi: ông
sẽ giẫm chân lên sự đạo đức giả và cáo bạch cho mọi
người trong chùa biết rõ hành trạng của mình rồi sau đó
sẽ chỉnh tôi một trận vì cái hành vi tồi tệ của tôi.
Tất
cả mọi người ở trong chùa đã tụ tập xong đâu vào đấy
dưới ngọn đèn lờ mờ, ai nấy đều cầm trong tay một bản
kinh Vô Môn Quan. Đêm tối lạnh lẽo, song chỉ có một cái
bếp lò nhỏ đặt ngay cạnh Lão sư phụ để sưởi ấm. Tôi
nghe thấy tiếng người hắt hơi. Họ ngồi đó, cả già lẫn
trẻ, bóng hình lúc đậm lúc nhạt in trên các khuôn mặt cúi
khom, và trên nét mặt họ có cái gì hết sức đờ đẫn.
Người đồ đệ mới, ban ngày đi dậy ở một trường tiểu
học, là một anh chàng cận thị và cái kính trắng cứ tuột
mãi xuống sống mũi xương xương của anh ta.
Chỉ
riêng tôi cảm thấy được sức mạnh trong cơ thể mình. Ít
nhất đó là điều tôi đã tưởng tượng. Lão sư phụ mở
cuốn kinh của ông, rồi đưa mắt nhìn quanh khắp một vòng
hết chúng tôi. Tôi đưa mắt nhìn theo cái nhìn của ông. Tôi
muốn ông thấy rõ là tôi hoàn toàn không hề cúi mặt nhìn
xuống. Nhưng khi cặp mắt có những múi thịt múp míp bao quanh
đưa đến chỗ tôi, chúng lại chẳng tỏ ra có mảy may cảm
hứng nào và rồi lướt nhìn qua các bộ mặt khác.
Bài
thuyết giảng bắt đầu. Tôi chỉ những chờ đợi cái giây
phút khi bất chợt bài giảng chuyển vào vấn đề của mình.
Tôi chăm chú lắng nghe. Giọng lão sư phụ cao vút kéo dài.
Không có một tiếng nói nào phát ra từ nội tâm ông hết.
Đêm
hôm đó tôi không sao ngủ được. Trong lúc trằn trọc, tôi
thấy lòng mình tràn ngập một sự khinh miệt đối với Lão
sư phụ và một niềm ước muốn chế diễu cái thói đạo
đức giả của ông. Thế nhưng, sau đó dần dần một cảm
giác hối hận chỗi dậy trong lòng tôi và bắt đầu xoa dịu
những ý nghĩ ngạo mạn của tôi. Sự khinh miệt của tôi
đối với thói đạo đức giả của Lão sư phụ, kỳ diệu
thay lại liên hệ với sự suy nhược dần dần của tâm hồn
tôi, và kết cục tôi đâm ra có ý nghĩ là riêng đối với
tôi thực ra Lão sư phụ chẳng là cái quái gì hết, vì vậy
dù cho tôi có năn nỉ xin ông tha thứ thì cũng chẳng phải
là một sự thất bại. Tâm hồn tôi sau khi đã trèo lên tận
đỉnh một con dốc thật cao bây giờ đang lao xuống chân dốc
thật nhanh.
Tôi
định tâm vào sáng hôm sau sẽ tới xin lỗi Lão sư phụ. Sáng
hôm sau, tôi lại quyết định sẽ tới xin lỗi vào một lúc
nào đó trong ngày. Tôi nhận thấy nét mặt Lão sư phụ chẳng
mảy may thay đổi.
Đó
là một ngày lộng gió. Sau khi ở đại học về, bất đồ
tôi mở ngăn kéo ra. Tôi nhìn thấy một cái gì gói kín trong
bao giấy trắng. Đó là tấm ảnh. Trên tờ giấy không có
một chữ nào. Hiển nhiên, Lão sư phụ đã chủ tâm dùng phương
pháp này để kết thúc vấn đề. Ông không có ý hoàn toàn
bỏ qua hành vi tôi, nhưng muốn tôi thấy rõ là hành vi đó
chẳng có hiệu lực gì hết. Tuy nhiên cung cách đem trả lại
tấm ảnh lạ kỳ của ông đã khiến cho trí óc tôi tưởng
tượng đến hàng chuỗi hình ảnh.
“Như
vậy Lão sư cũng đã đau khổ rồi!” tôi nghĩ vậy. Trước
khi xử sự như thế này hẳn ông đã phải trải qua bao nỗi
ưu phiền ghê gớm. Hẳn là bây giờ ông phải ghét tôi kinh
khủng. Chắc không phải ông đâm ra ghét tôi vì tôi đã làm
cho ông bó buộc phải cư xử một cách khó coi như vậy. Chỉ
vì một tấm ảnh này mà Lão sư phụ bó buộc phải hành động
lén lút ngay trong ngôi thiền tự của riêng ông. Ông đã phải
lén lút men theo hành lang vào lúc không có một ai ở đó. Rồi
lẻn vào phòng một tên đồ đệ, nơi từ trước đến nay
ông chưa bao giờ đặt chân tới và mở ngăn kéo của tôi
ra y như một kẻ phạm tội. Đúng thế, bây giờ ông đã có
đủ thập phần lý do để mà ghét tôi.”
Nghĩ
vậy tôi chợt thấy lòng mình tràn ngập một niềm vui khó
tả. Rồi tôi bắt tay vào một công việc thích thú. Tôi lấy
kéo cắt tấm ảnh cô gái ra thành nhiều mảnh nhỏ. Xong đâu
đấy tôi lấy một tờ giấy cứng ở cuốn vở của tôi gói
ghém cẩn thận những mảnh vụn ấy trong hai lớp giấy rồi
nắm chặt gói giấy trong tay đi ra tới chỗ gần Kim Các Tự.
Sự quân xứng u uất thường lệ vẫn tràn ngập ngôi chùa
nhô cao dưới bầu trời đêm sáng trăng lộng gió. Hàng cột
mảnh mai đứng xích lại gần nhau; dưới ánh trăng rọi thẳng
xuống những hàng cột trông tựa các sợi dây đàn còn chính
ngôi chùa lại giống như một nhạc khí khổng lồ dị dạng.
Mặt trăng lúc thấp lúc cao đã gây nên ấn tượng khác thường
này. Đêm nay thấy thực là rõ. Tuy vậy, gió lùa qua khoảng
trống giữa các sợi dây đàn câm nín ấy lại chẳng tạo
nên một tiếng đàn nào cả.
Tôi
cúi xuống nhặt một hòn đá, gói vào trong tờ giấy rồi
buộc thật chặt vào gói giấy. Thế rồi những mảnh vụn
của tấm hình khuôn mặt cô gái, do sức nặng của hòn đá,
chìm xuống đáy Kính Triều trì. Sóng nước lăn tăn trải
dài khắp bốn phía chẳng mấy lúc đã lan tới bờ nước
ngay dưới chân tôi.
Việc
tôi đột nhiên chạy trốn khỏi chùa vào tháng mười một
năm ấy là kết quả của sự tích lũy những sự việc này.
Về sau nghĩ lại tôi nhận ra rằng sự trốn chạy có vẻ
đột ngột thực ra đã được tiến hành từ lâu qua biết
bao thời kỳ phân vân và ưu lự. Tuy nhiên, tôi lại thích
nghĩ rằng đó là vì một vài rung động đột ngột thôi thúc.
Vì tự căn bản, trong con người tôi thực hoàn toàn thiếu
sót những xung động mô phỏng. Chẳng hạn trong trường hợp
một người tối hôm trước đã dự định đi thăm một thân
phụ vào ngày hôm sau, nhưng tới lúc ra khỏi nhà đứng trước
nhà ga, người đó lại đột nhiên đổi ý và quyết định
tới thăm một người bạn chè chén của mình, như vậy trong
trường hợp này người đời có thể nào nói là có một
xung động thuần túy hay không? Phải chăng sự đổi ý đột
nhiên của người đó là thứ hành vi phục thù đối với
ý chí của mình? Thực ra, có phải đó là cái gì có ý thức
hơn sự chuẩn bịtừ lâu để đi thăm mộ hay không?
Cái
động cơ trực tiếp đã khiến tôi phải bỏ chùa chạy trốn
là việc hôm trước Lão sư phụ đã nói rõ cho tôi hay: “Trước
đây đã có lúc ta định bụng cho con kế vị ta sau này, nhưng
bây giờ ta có thể nói thẳng cho con hay là ta không còn giữ
ý định đó nữa.”
Đó
là lần đầu tiên tôi nghe thấy một lời tuyên cáo như thế,
song lẽ ra tôi nên đoán trước và đợi chờ một lời tuyên
cáo như vậy mới phải. Tôi không thể làm rabộ là lời nói
của Lão sư phụ như một tiếng sét đánh ngang tai hoặc đã
làm cho tôi sững sờ hoảng hốt. Tuy vậy, tôi vẫn thích nghĩ
là những lời nói của Lão sư phụ đã va chạm làm nổ bùng
và một xung động đột nhiên đã gây ra việc tôi bỏ chùa
trốn chạy.
Sau
khi đã chắc chắn là làm cho Lão sư phụ ghét bỏ mình vì
cái trò chơi ác về tấm hình, tôi bắt đầu xao lãng việc
học hành tại trường; điều đó thực rành rành ai cũng thấy
rõ. Thành tích của tôi trong năm dự bị là 84 điểm trong
khi hai môn khá nhất: Hoa ngữ và Lịch sử và 748 điểm tổng
cộng tất cả các môn; như vậy được xếp hạng 24 trong
lớp học 84 người cả thảy. Tôi chỉ vắng mặt tất cả
có 4 giờ trong số 464 giờ học. Sang năm thứ nhì, tổng cộng
tôi chỉ được có 693 điểm và tụt xuống thứ 35 trong 77
sinh viên. Nhưng sang đến năm thứ ba tôi mới thực sự xao
lãng việc học hành - chẳng phải vì có tiền để rong chơi
mà chi vì thích biếng lười không chịu học. Và tình cờ
học kỳ mới trong năm thứ ba lại bắt đầu ngay sau câu truyện
về tấm ảnh.
Khi
học kỳ thứ nhất chấm dứt, nhà trường gửi giấy về
chùa yêu cầu chú ý đến sự thụt lùi của tôi và tôi bị
Lão sư phụ gọi lên trách mắng và thành tích quá tệ, số
giờ vắng mặt quá nhiều, nhưng điều làm Lão sư phụ giận
dữ nhất là trong một học kỳ chỉ có ba ngày giảng dậy
về “Tiếp tâm” (môn học đặc biệt cho tăng sĩ Thiền
tông) thì tôi đều trốn học cả ba. Cả một năm chỉ có
chín ngày giảng dậy về “Tiếp tâm” chia làm ba lần, mỗi
lần ba ngày trước những dịp nghỉ dầu mùa hạ, mùa đông
và mùa xuân, và mọi việc đều theo đúng các hình thức trong
những đạo trường chuyên môn.
Lão
sư phụ đặc biệt cho gọi tôi lên tận phòng riêng của ông
để nghe ông trách mắng, việc này tự nó là một điều hiếm
thấy. Tôi cúi đầu đứng yên. Trong thâm tâm tôi đang chờ
đợi Lão sư sẽ xoay sang một câu truyện nào đó; nhưng không,
ông đã chẳng hề đả động tí gì đến câu truyện tấm
ảnh cả, mà ông cũng chẳng nhắc nhở gì tới câu truyện
cô gái điếm cùng việc cô này đến làm tiền ông.
Chính
từ dạo này trở đi Lão sư phụ có thái độ lãnh đạm rõ
rệt đối với tôi. Nói cho đúng ra đó thực là điều tôi
hằng mong đợi, là chứng tích tôi thêm được thấy và tôi
coi điều này như là một thứ thắng lợi. Tuy nhiên, muốn
đạt được sự thắng lợi ấy thì tôi chỉ cần cứ việc
lười biếng. Trong học kỳ đầu tiên của năm thứ ba tôi
vắng mặt 60 giờ - gấp năm lần tổng số giờ vắng mặt
trong cả năm thứ nhất. Trong suốt những giờ vắng mặt ấy
tôi không hề đọc một quyển sách nào, mà tôi cũng chẳng
có tiền để đi tìm thú vui. Đôi khi tôi cũng có nói chuyện
với Kashiwagi, song thường thường tôi chỉ ngồi một mình
không làm gì hết; và như vậy những ký ức của tôi về
đại học Otani thường pha trộn một cách thân mật với những
ký ức về sự vô vi lười biếng. Sư vô vi lười biếng này
có lẽ là một lối thực tập “Tiếp tâm” đặc biệt của
tôi về Thiền học, và khi đã đắm mình vào sự thực tập
ấy, chẳng có một lúc nào tôi cảm thấy chán nãn hết.
Có
một lần tôi ngồi hàng giờ trên bãi cỏ ngắm một đàn
kiến thi nhau khênh những mẫu đất nhỏ xíu. Thực không phải
đàn kiến đã làm cho tôi thích thú. Một bận khác tôi đang
ngớ ngẫn không biết trong bao lâu bên ngoài đại học ngắm
đợt khói mong manh bốc lên từ ống khói xưởng máy ở đằng
sau nhà trường. Thực không phải làn khói đó đã lôi cuốn
cảm hứng của tôi. Vào những giờ phút như thế, tôi cảm
thấy dường như đã đắm mình trọn vẹn vào cuộc sống
của chính cái tôi. Thế gian bên ngoài nhiều phần đã nguội
đi và từ lúc ấy lại được hâm nóng lại. Tôi biết nói
ra sao nhỉ? Tôi cảm thấy thế giới bên ngoài đã lốm đốm
loang lở và lại có dọc vằn ngang nữa. Bản thân bên trong
của tôi và thế giới bên ngoài đã thay đổi vị trí một
cách từ từ không theo một quy tắc nào cả. Cái phong cảnh
vô ý vị vẫn hằng bao quanh tôi chợt sáng rực lên trước
mắt tôi; trong lúc sáng rực, phong cảnh ấy xông xáo, len lách
tìm đường chui vào trong tôi và chỉ những phần còn lại
không chui vào được là tiếp tục óng ánh ngoài xa một cách
sinh động. Những phần chói sáng ấy có thể là lá cờ trên
nóc một xưởng máy hoặc một vết dơ trên tường hay chiếc
guốc cũ kỹ nát mục vứt bỏ trên bãi cỏ. Dần dần tất
cả sống dậy trong tôi - và rồi chúng lại chết đi. Hoặc
giả liệu tôi có nên nói, tất cả mọi hình thức tư tưởng
không thành hình? Những sự việc trọng yếu dắt tay đi đôi
với những việc tầm thường nhất, và những sự kiện chính
trị ở châu âu mà tôi đọc thấy trong báo sáng nay trở nên
có liên hệ khắng khít với chiếc guốc gỗ cũ kỹ đang nằm
ở dưới chân tôi đây.
Tôi
suy nghĩ hàng giờ về cái góc nhọn do đầu một ngọn cỏ
tạo thành. Có lẽ từ ngữ “suy nghĩ” không được thích
đáng cho lắm. Cái quan niệm lạ lùng, vớ vẫn này của tôi
không có quá trình sinh hoạt liên tục, nhưng cứ xuất hiện
rồi lại biến đi như một điệp khúc trong bản nhạc nào
đó. Tại sao cái góc nhọn ấy lại phải nhọn hoắt đến
thế? Giả như nếu nó là một góc bẹt thì liệu sự xếp
loại của “cỏ” có bị mất đi không và liệu thiên nhiên
có tránh khỏi bị băng hoại từ một góc bẹt trong toàn thể
hay không? Khi một cái cực tiểu lấy ra khỏi thiên nhiên thì
liệu toàn thể thiên nhiên có biến dạng hay không? Cứ theo
phương pháp này tâm trí tôi vẩn vơ suy nghĩ hết từ quan
điểm này đến quan điểm khác.
Việc
Lão sư phụ trách mắng tôi chẳng mấy chốc trong chùa ai ai
cũng biết, do đó đối với tôi họ có thái độ thù nghịch
rõ rệt hơn. Người đồ đệ đã từng ghen ghét tôi về việc
tôi được gửi lên đại học bây giờ bất kỳ lúc nào nom
thấy tôi hắn cũng hinh hích cười một cách đắc ý.
Tôi
tiếp tục sống ở trong chùa trong suốt mùa hè và mùa thu,
và ít khi hé miệng chuyện trò với ai. Vào buổi sáng trước
ngày tôi bỏ chùa trốn đi Lão sư phụ bảo ông Phó ti gọi
tôi vào phòng Lão sư phụ. Hôm đó là ngày mồng chín tháng
mười một. Vì sắp sửa rời chùa lên trường nên tôi mặc
bộ đồ đồng phục.
Khuôn
mặt phúng phính của Lão sư phụ vẫn tươi tắn như thường
lệ, nhưng để sửa soạn nói cho tôi hay điều gì không vui,
khuôn mặt ấy chợt đanh lại một cách lạ kỳ. Tuy nhiên,
với riêng tôi thì tôi lại lấy làm thích thú là được thấy
Lão sư phụ nhìn tôi như thể đang nhìn một tên hủi. Đó
chính là nét mặt tôi thật tình mong được nhìn thấy nơi
ông một ánh mắt có mang tình cảm của con người.
Lão
sư phụ quay mặt nơi khác không nhìn tôi. Trong lúc nói, ông
xoa hai bàn tay vào nhau hơ trên lò sưởi. Hai bàn tay ông thịt
da mềm mại chỉ tạo nên một âm thanh khe khẻ, thế nhưng
tôi lại nghe thấy như vang vang và hình như phá tan vẻ trong
sáng của làn không khí buổi sáng sớm đầu mùa đông. Sự
cọ sát giữa da thịt một ông hòa thượng với chính da thịt
ông ta tạo nên một cảm giác thân mật không cần thiết.
“Ba
con ở dưới suối vàng sẽ buồn rầu xiết bao khi biết sự
thể đã đến như thế này!” Ông nói. “Hãy xem lá thư này!
Một lần nữa nhà trường lại gửi một lá thư lời lẽ
rất gay gắt. Con nên suy ngẫm xem nếu cứ tiếp tục như thế
này thì sự thể sẽ ra sao.” Và rồi ông bắt thẳng sang
những điều ông muốn nói. “Trước đây đã có lúc ta định
bụng cho con kế vị ta sau này, nhưng bây giờ ta có thể nói
thẳng cho con hay là ta không còn giữ ý định đó nữa.”
Tôi
ngồi im lặng một lúc lâu. Rồi tôi nói: “Như vậy tức
là thầy bỏ rơi con phải không?”
“Có
thực là con nghĩ rằng ta sẽ không bỏ rơi con sau vụ này
không?” Lão sư phụ nói sau một lúc im lặng.
Tôi
không trả lời, nhưng ngay sau đó tôi nghe thấy chính mình
lắp bắp thốt ra một điều gì về một việc hoàn toàn khác
biệt. “Bạch thầy, thầy biết rõ con từng chân tơ kẽ tóc.
Con nghĩ con không biết rõ về thầy từ kẽ tóc chân tơ.”
“Và
giả như thực sự con biết hết thì đã sao đâu.” Hòa thượng
nói, trong mắt ông hiện ra một ánh u-ám. “Con có biết hết
thì cũng chẳng đi đến đâu. Thật hoàn toàn vô ích mà.”
Từ
trước đến giờ chưa lần nào tôi nhìn thấy một khuôn mặt
nào lại hoàn toàn xa rời cuộc đời này đến như vậy. Từ
trước đến giờ chưa làn nào tôi nhìn thấy khuôn mặt một
con người mặc dù đã nhúng tay vào mọi thú vị của cuộc
sống, nào bạc tiền, nào đàn bà con gái, lại hoàn toàn khinh
miệt cuộc đời này cho đến thế? Lòng tôi tràn ngập những
hiềm ố như thể tôi đang đứng trước một cái xác chết
nhưng hãy còn âm ấm, da dẽ hãy còn hồng hào.
Vào
lúc ấy tôi thấy lòng mình tràn ngập ước muốn mãnh liệt,
thống thiết xa lánh tất cả mọi khung cảnh bao quanh mình,
dù chỉ trong một chốc lát. Sau khi lui gót khỏi phòng Lão
sư phụ, tôi thấy cái ước muốn đó lại càng dữ dội hơn
nhiều khiến tôi chẳng thể nghĩ đến điều gì khác nữa.
Tôi
lấy cái khăn gói cuộn quyển từ điển Phật giáo và chiếc
sáo Kashiwagi đã cho tôi lại. Khi tới trường mang theo cặp
sách và khăn gói này tôi thấy ý định ra đi cứ ám ảnh
mãi đầu óc.
Bước
vào cổng trường, tôi vui lòng hết sức khi thấy Kashiwagi
đang đi đằng trước, tôi kéo tay nó lại và dẫn ra vệ đường.
Tôi bảo nó cho tôi vay ba nghìn yen và giữ lấy cuốn tự điển
và chiếc sáo muốn làm gì thì làm. Lúc này, trên khuôn mặt
nó không hề có một dấu vết nào của cái dáng vẻ sáng
khoái triết học quen thuộc nó hằng có mỗi khi đưa ra một
nghịch thuyết. Nó nheo mắt lại nhìn tôi, ánh mắt như có
lờ mờ sương khói.
“Mày
có nhớ lời khuyên con trai của ông bố anh chàng Laerter trong
bi kịch Hamlet hay không? ‘Đừng bao giờ cho ai vay tiền mà
cũng đừng bao giờ đi vay tiền ai, vì cho vay tiền thì thường
mất cả tiền lẫn bạn.’
“Tớ
đâu còn bố nữa mà nói,” tôi đáp. “Nhưng hãy cùng nhau
bàn tính lại xem nào. Tớ không biết liệu có thể cào cấu
đâu được đủ ba ngàn yen hay không?
Tôi
đã định bụng nói phăng cho Kashiwagi nghe những lời thiếu
phụ dậy cắm hoa kể lại về cái mánh khóe móc tiền đàn
bà con gái của nó nhưng rồi đột nhiên tôi cố tự kiềm
chế lại.
“Trước
hết mình nên thu xếp cho xong cuốn từ điển và chiếc sáo
này đi đã.”
Nói
rồi Kashiwagi quay ngoát lại đi ra phía cổng trường. Tôi cũng
quay lại và bước theo, cất bước thật chậm để khỏi vượt
qua nó. Nó bắt đầu kể cho tôi nghe truyện thằng bạn sinh
viên làm chủ tịch câu lạc bộ Quang Minh đã bị bắt vì
bị tình nghi buôn tiền chợ đen. Thằng này đã được phóng
thích vào tháng chín và sau đó gặp nhiều khó khăn ghê gớm,
vì không được thiên hạ tin dùng như trước nữa. Ngay từ
mùa xuân, Kashiwagi đã đặc biệt chú ý đến thằng chủ tịch
hội Quang Minh và hai đứa chúng tôi vẫn thường hay nói chuyện
về thằng ấy! Cả hai chúng tôi đều tin chắc rằng thằng
ấy đối với xã hội hãy còn mạnh thế lắm; và hiển nhiên
là chúng tôi không thể ngờ rằng chỉ hai tuần lễ sau thằng
ấy đã tự tử.
“Cậu
cần món tiền ấy để làm gì vậy?” Kashiwagi đột nhiên
hỏi. Dường như nó đặt một câu hỏi thực là kỳ cục.
“Tớ
muốn đi lang thang đến một nơi nào đó.”
“Thế
rồi cậu có trở lại không?”
“Có
lẽ.”
“Tại
sao cậu lại chuồn vậy?”
“Tớ
muốn chạy trốn tất cả những gì vây bọc thân tớ, chạy
trốn cái mùi vô lực mà mọi người quanh tớ tiết ra nồng
nặc. Lão sư phụ cũng vô lực. Vô lực một cách khủng khiếp.
Tớ cũng biết rõ điều ấy nữa.”
“Thế
cậu cũng muốn xa lánh cả Kim Các Tự nữa ư?”
“Đúng
thế! Xa lánh cả Kim Các Tự nữa.”
“Thế
Kim Các Tự cũng vô lực à?”
“Không,
tất nhiên là Kim Các Tự không vô lực! Nó là căn nguyên tạo
ra sự vô lực của mọi người.”
“Phải
rồi, cậu nghĩ đến điều đó là phải,” Kashiwagi nói; và
nó vừa nhún nhẩy bước ra vừa chặc lưỡi một cách vui
vẻ. Tôi theo nó bước vào một cửa hiệu bán đồ cổ nho
nhỏ, giá lạnh, nơi nó bán chiếc sáo. Người ta chỉ trả
nó bốn trăm yen thôi. Sau đó, chúng tôi dừng lại ở một
cửa hiệu bán sách cũ và xoay xỏa bán cuốn từ điển được
có một trăm yen. Hãy còn thiếu hai nghìn năm trăm yen nữa.
Kashiwagi dẫn tôi về nhà trọ để lấy. Sau khi đã đưa cho
tôi mượn tiền nó mới đưa ra một đề nghị thực là kỳ
lạ. Nó giải thích, cái sáo là vật nó cho tôi mượn nên
tôi phải hoàn lại còn cuốn từ điển thì có thể coi như
món quà tặng. Vậy là tôi mới chỉ trả lại nó những gì
vốn là của nó, và số tiền bán đồ được năm trăm yen
cũng thuộc về nó nốt. Khi thêm vào hai ngàn năm trăm yen thì
số tiền cho vay đương nhiên là ba nghìn yen. Về số tiền
ba nghìn yen này, mỗi tháng Kashiwagi muốn nhận được mười
phân lãi đến khi nào tôi trả hết nợ. Theo lời Kashiwagi,
so với số tiền lời thực là cao ba mươi tư phần trăm của
câu lạc bộ Quang Minh thì vay lãi như thế này còn nhẹ hơn
nhiều. Và tính tiền lãi thấp như thế này ấy là nó đã
ban cho tôi một ân huệ. Nó rút ra một tờ giấy dầy, một
nghiên mực rồi thịnh trọng ghi lại các điều kiện cho vay.
Đoạn nó bảo tôi điểm chỉ vào từ giấy chứng vay tiền
đó. Vì chán chẳng buồn nghĩ đến tương lai, tôi liền nhúng
tay cái vào nghiên mực rồi ấn mạnh lên tờ biên nhận vay
nợ.
Tim
tôi đập thình thịch vì sốt ruột. Rời nhà trọ Kashiwagi
với ba nghìn yen trong túi tôi lên xe điện đến tận trước
công viên Thuyền Cương mới xuống xe. Tôi lao đầu chạy lên
các bậc thềm đá vòng vèo dẫn đến thần xã Kiến Huân.
Tôi định xin một quẻ thẻ để xem thánh dậy ra sao về cuộc
hành trình của mình. Ngay từ dưới chân các bậc thềm đá
người ta đã có thể nhìn thấy chính điện của thần xã
Nghĩa Chiếu Đạo Hà, màu đỏ sặc sỡ và cả hai con cáo
có lưới sắt vây quanh. Mỗi con cáo ngoạm một cuốn giấy
và bên trong những vành tai vểnh lên nhọn hoắt của chúng
cũng sơn màu đỏ choét.
Hôm
ấy trời giá lạnh. Thỉnh thoảng gió lại rập rờn len lách
qua những làn ánh sáng mặt trời mỏng manh. Ánh nắng yếu
ớt xuyên qua các hàng cây làm cho những bậc thềm đá trông
như có rải một lớp tro mịn. Trông như là tro bẩn vì ánh
sáng mờ nhạt quá.
Tôi
chạy thẳng một hơi ngược lên các bậc thềm đá, và khi
tới cái tiền đình rộng rãi trước Kiến Huân thần xã thì
người tôi ướt đẫm mồ hôi. Ngay trước mắt tôi là một
hàng thềm đá nữa dẫn thẳng tới Bái điện. Mái ngói bằng
phẳng chạy dài xuống phía các bậc thềm. Hai bên lối đi
dẫn tới ngôi đền có những cây thông nho nhỏ uốn éo vươn
mình dưới bầu trời mùa đông. Xã vụ sở với vách gỗ
mầu đã cũ thì ở bên phải và trên cửa có treo một tấm
biển ghi những chữ: “Sở Nghiên Cứu Vận Mệnh”. Giữa
Xã vụ sở và Bái điện là căn Thổ tàng màu trắng. Phía
ngoài có mấy cây sam cành lá lưa thưa, nhô lên dưới những
đám mây trắng đục, giá lạnh đang lửng lơ, rải rác trên
đầu tôi chứa đầy một thứ ánh sáng tang tóc. Từ đấy
người ta có thể nhìn thấy những ngọn núi phía tây thành
phố Kyoto.
Vị
thần chủ tể ở Kiến Huân thần xã là Nobunaga (Tín Trường).
Ngay con cả của vị thần này là Nobutada (Tín Trung) cũng được
thờ ở bên cạnh. Đây là một miếu thờ đơn giản chỉ
có hàng lan can màu đỏ chót vây quanh bái điện là làm tăng
thêm màu sắc.
Tôi
trèo lên các bậc thềm và cúi đầu vái lậy. Sau đó tôi
nhắc cái ống hình lục giác cũ kỹ đặt trên một cái giá
gần ngay hộp đựng tiền cúng tạ. Tôi lắc mạnh cái ống
gỗ, một thanh tre vót nhẵn có khắc chữ nhô ra khỏi miệng
ống. Trên đó có viết con số “14” bằng mực Tàu. Tôi
lui gót quay lại.
“Một
bốn, một bốn,” tôi lẩm bẩm một mình trong lúc đi xuống
các bậc thềm. Âm thanh của các con số dường như đông đặc
lại trên lưỡi tôi và dần dần có một vài ý vị.
Tôi
đi đến cổng ngoài của xã vụ sở và đánh tiếng. Một
người đàn bà dứng tuổi hiện ra. Hiển nhiên, mụ đang giặt
giũ gì đó và đang vội vã chùi tay vào cái khăn quấn trước
người. Mặt lạnh lùng như tiền, mụ nhận ở tay tôi số
tiền mười yen đã quy định trước.
“Số
bao nhiêu?” mụ hỏi.
“Mười
bốn.”
“Xin
đứng đợi đàng kia.”
Tôi
ngồi xuống đầu hè và đợi. Tôi chợt nghĩ nếu mà vận
mệnh tôi lại được quyết định bởi những bàn tay sần
sùi, ướt át của mụ đàn bà này thì thực là vô nghĩa quá
chừng. Tuy vậy cũng chẳng sao vì tôi tới thần xã này đúng
là để đánh bạc mà tìm kiếm một sự vô nghĩa như thế.
Phía bên trên kia cánh cửa kéo bằng giấy, tôi nghe tiếng
chuông ở ngăn kéo cổ lỗ kêu leng keng trong lúc rõ ràng là
mụ đàn bà đang gắng sức lôi ngăn kéo ra một cách khó khăn.
Rồi tôi lại nghe thấy tiếng xé giấy và một lúc sau cánh
cửa kéo hé mở.
“Đây
cậu ơi.” Người đàn bà vừa nói vừa đưa ra một tờ giấy
mỏng dính rồi sau đó đóng cửa lại. Ngón tay trỏ ướt
át của mụ ta đã để lại một vệt ướt trên một góc
tờ giấy.
Tôi
đọc quẻ thẻ “Số mười bốn - Hung,” quẻ thẻ ghi vậy.
“Nhữ hữu thử gian giả loại vi bát thập thần sở diệt.
- Nếu còn lẩn quất nơi này, người sẽ bị tám mươi vị
thần tiêu diệt. Sau khi đã bị đem dí những hòn đá nung
vào người, những mũi tên nhọn cấm sâu vào thịt và nhiều
cực hình khác nữa, theo lời dạy của tổ thần, hoàng tử
Okuri đã rời bỏ xứ này. Đây là điềm triệu người phải
lén lút trốn đi.”
Lời
giải thích in dưới toàn nói đến những điều bất an và
bất như ý trên con đường trước mặt tôi. Những lời giải
thích ấy không làm tôi hoảng sợ. Tôi tìm những điều khá
ghi ở phía dưới cùng tờ giấy và khoản mục nói về xuất
hành.
“Xuất
hành - Hung. Hết sức tránh đi về hướng Tây Bắc.”
Đọc
thấy thế rồi, tôi bèn quyết định đi về hướng Tây Bắc.
Xe
lửa đi Tsuruga rời ga Kyoto lúc bảy giờ kém năm sáng. Ở
chùa cứ năm giờ rưỡi sáng là lúc thức dậy ra khỏi giường.
Vào sáng mồng mười khi tôi thức dậy và thay ngay quần áo,
mặc bộ đồng phục sinh viên không một ai tỏ vẻ nghi ngờ
gì hết. Mọi người trong chùa vẫn có thói quen làm ra vể
không thèm nhìn đến tôi.
Trong
ánh sáng lờ mờ của buổi bình minh công việc trong chùa luôn
luôn hỗn độn một chút. Người thì bận quét dọn, người
thì lo lau chùi, công việc quét dọn lau chùi kéo dài cả tiếng
đồng hồ cho tới sáu giờ rưỡi. Tôi ra ngoài và bắt đầu
quét tiền đình. Tôi dự định ra đi ngay khỏi chùa không
mang theo vật gì hết, như thể tôi đã đột nhiên biến mất
một cách thần kỳ. Cái chổi và tôi lướt nhẹ trên lối
đi trải đá sỏi tỏa màu trắng nhợt dưới ánh sáng buổi
sớm tinh sương. Rồi bất chợt chiếc chổi sẽ rơi xuống,
tôi sẽ biến đi và không còn gì sót lại trong ánh bình minh
nhạt mờ ngoại trừ những viên sỏi trắng nằm im trên lối
đi. Đó, tôi tưởng tượng sự ra đi của mình phải như thế
đó! Chính cái lý do này tôi đã không cáo biệt Kim Các Tự.
Cần nhất là tôi phải bất chợt bứt mình khỏi toàn cảnh
đã vây hãm tôi và - cái toàn cảnh giam hãm này gồm có cả
Kim Các Tự. Tôi hướng ngọn chổi dần dần về phía tổng
môn. Qua các cành thông tôi còn nhìn thấy những ngôi sao lấp
lánh.
Tim
tôi đập thình thịch trong lồng ngực. Bây giờ tôi phải
ra đi. Từ ngữ này hình như đang rập rờn bay trong không khí.
Dù cho nó có xẩy ra điều gì đi nữa tôi vẫn phải ra đi
- ra đi khỏi cái hoàn cảnh, cái quan niệm của tôi về cái
đẹp đã từng kìm kẹp tôi bấy lâu, cái nỗi khảm kha bất
ngộ, cái tật nói lắp và mọi điều kiện trong cuộc sống
của tôi.
Cái
chổi buột khỏi tay tôi rơi vào bóng tối của làn cỏ giống
như một quả chín rụng khỏi cành cây. Tôi len lét bước
về phía tổng môn, núp mình sau các thân cây. Khi đãqua khỏi
tổng môn rồi, tôi bắt đầu co giò vắt chân lên vai mà chạy.
Chuyến xe điện đầu tiên buổi sáng chạy tới gần. Tôi
bước lên. Trên xe chỉ vẻn vẹn có mấy người; trong có
vẻ là những người lao động. Tôi dầm mình ngay dưới ánh
ngọn đèn điện chói chang trong toa xe. Tôi cảm thấy đường
như suốt cả đời chưa bao giờ mình đã ngồi vào một chỗ
sáng sủa như thế.
Tôi
ghi nhớ rõ mồn một từng chi tiết của cuộc hành trình.
Tôi đã trốn đi và biết rõ mình sẽ tới nơi nào. Tôi quyết
định đến một quận mà đã có lần tôi tới thăm trong một
cuộc du ngoạn với cả trường khi tôi còn ở trung học. Thế
nhưng trong lúc dần dần tiến tới nơi đó, những cảm xúc
của tôi về ra đi và giải phóng lại mạnh mẽ đến nỗi
tôi cảm thấy như thể đang tiến về một nơi chưa bao giờ
biết tới.
Tôi
đang đi trên toa tầu chạy trên con đường quen thuộc từng
dẫn tôi về cố quận của mình; những dưới mắt tôi, con
tầu cũ kỹ đen mầu bồ hóng này chưa bao giờ lại có vẻ
xa lạ như lúc này và cũng chưa bao giờ có những màu tươi
mát đến như thế. Nhà ga, tiếng loa phóng thanh rè rè vang
âm trong không khí bình minh, tất cả lặp lại cùng một tình
cảm duy nhất, gia tăng cường độ tình cảm ấy và phát tỏa
ra trước mắt tôi một triển vọng hết sức trữ tình. Ánh
sáng ban mai cắt sân ga rộng lớn thành nhiều khu. Tiếng giầy
dép chạy lẹp kẹp trên sân ga, tiếng chuông nhà ga dai dẳng
đều đều, tiếc guốc gỗ khua lép kép, màu sắc một quả
cam mật mà một người bàn hàng ở sân ga nhặt trong thúng
giơ lên - tất cả hiện ra đối với tôi như là một ám thị
hoặc điềm báo của một sự vật to lớn mà từ đây tôi
đã đem trao phó hết cả thân mình.
Từng
mảnh nhà ga đơn độc, dù nhỏ bé đến thế nào, cũng đều
tập trung vào cái tình cảm nổi bật của tôi về sự biệt
ly và xuất phát. Sân ga bắt đầu lui lại phía sau tôi với
một dáng vẻ rất chững chạc. Tôi cảm thấy rõ ràng như
vậy. Đúng thế, tôi cảm thấy cái mặt phẳng xi măng cốt
sắt không có chút tình cảm đã được rọi sáng ra sao bởi
cái vật đang chuyển động, xa rời và ra đi.
Tôi
ngả lưng vào thành tầu. Đây thực là một lối nói buồn
cười; tuy nhiên, không có một lối nói nào khác để bảo
chứng cho cái ý nghĩ mơ hồ và vị trí của tôi đang dần
dần xa cách và di chuyển khỏi nhà ga xe lửa Kyoto. Đã bao
đêm rồi, trong khi nằm trong Lộc Uyển tự, tôi đã từng
nghe thấy tiếng còi những chuyến tầu chở hàng hóa rúc lên
khi chạy qua gần vườn hoa trong chùa và tôi không khỏi lấy
làm lạ là chính mình lúc này lại đang ngồi một trong những
con tầu ấy ngày đêm cứ vun vút lao mình về phía không biết
mỏi mệt.
Bây
giờ chúng tôi đang đi mau men theo gần dòng sông Hozu mà trước
đây lâu lắm tôi đã nhìn thấy khi đi trên con tầu này cùng
với ông bố bệnh tật ốm đau. Miền đất nằm giữa nơi
này và Sonobe về phía tây dẫy núi Atago và dẫy núi Arashi
có một khí hậu hoàn toàn khác hẳn thành phố Kyoto. Có thể
đó là do ảnh hưởng của các luồng không khí. Trong ba tháng
mười, mười một và chạp cứ vào khoảng mười một giờ
đêm luôn luôn có một lớp sương mù từ mặt sông Hozu dâng
lên bao phủ khắp địa phương cho đến khoảng mười giờ
sáng hôm sau. Thật hiếm khi lại thấy một khoảng trống trong
lớp sương mù ấy khi nó từ mặt đất dâng lên rồi bồng
bềnh trôi về phía xa.
Cái
mảnh ruộng vườn trải rộng mờ mờ ở hai bên con tầu,
và những thửa ruộng đã gặt hái rồi và bây giừ đang khoác
một màu xanh thẫm. Một vài gốc cây rải rác, to nhỏ ngăn
cách những thửa ruộng với nhau. Người ta chặt hết những
cành lá sà thấp xuống và lấy những tấm chiếu rơm quấn
quanh: các thân cây khẳng khiu (trong quận gọi là “chưng lung”
hay nồi nấu hơi) để khi các thân cây lần lượt nhô ra khỏi
sương mù chúng sẽ trông giống như hồn ma của những thân
cây. Có lần một cây liễu to lớn hiện ra hết sức rõ rệt
ngay sát cửa sổ con tầu. Ở dưới là cánh đồng lúa màu
tro hầu như không nhìn thấy rõ; những cành liễu ướt át,
buông nặng rủ xuống một cách buồn thảm và toàn thân cây
liễu nhẹ nhàng đu đưa trong làn sương mù.
Lúc
mới ra khỏi Kyoto thì lòng tôi thật là vui thích, đến lúc
này đang bị những truy ức về những người đã chết đè
nặng. Khi tôi nhớ lại Uiko, ba tôi và Tsurukawa thì một niềm
thương yêu trìu mến khó tàn hai dâng lên trong lòng tôi và
tôi tự hỏi phải chăng trên đời này tôi chỉ có thể thương
yêu những người đã chết mà thôi. Dù sao đi nữa, đem so
với những người còn sống, những con người đã chết mới
thực dễ yêu làm sao.
Toa
xe lửa hạng ba không đông người lắm, người ta ngồi đó
- những con người sống mà mình thực khó lòng thương yêu
nổi - đang bận hút thuốc lá hoặc bóc vỏ cam mật mà ăn.
Bên cạnh tôi là một người viên chức già chắc là làm việc
ở một công đoàn nào đó. Ông ta đang nói tiếng oang oang
với một người đàn ông khác. Cả hai đều mặc những bộ
quần áo cũ kỹ, nhầu nát mà tôi nhìn thấy cả phần vải
rách mướp, vằn sọc lòi ra khỏi ống tay áo mỗi người.
Một lần nữa tôi lại thấy rõ rệt là khi người ta trở
nên già nua, vẻ tầm thường chẳng hề giảm bớt chút nào.
Những bộ mặt xạm nắng, nhăn nheo con nhà bách tính ấy,
những giọng nói khàn khàn vì hơi rượu ấy có thể nói đã
tiêu biểu cho tinh hoa của một loại tầm thường nào đó.
Họ
đang bàn bạc xem phải tìm đến những ai để xin gia công
đóng góp cho công đoàn của họ. Một ông lão hói đầu ngồi
đó, nét mặt điềm nhiên. Ông lão không góp lấy một lời
nào vào một câu truyện mà chỉ lấy cái khăn mặt bông lau
đi lau lại hai bàn tay khiến cho ban đầu chiếc khăn trắng
toát song bây giờ vì lau mãi nên đã hóa ra thành màu vàng
khè.
“Nhìn
hai bàn tay đen xì của tôi này!” ông lão khẻ nói. “Khói
than làm bẩn hết cả rồi vì tôi ngồi ở đây. Thật khó
chịu quá chừng!”
“Có
lần cụ viết thơ cho báo phàn nàn về truyện khói tầu có
phải không, thưa cụ?” Một người đàn ông khác, lúc này
đã bắt đầu góp chuyện lên tiếng.
“Dạ,
thưa không,” ông lão hói đầu nói, “Nhưng thật nó làm
mình khó chịu quá đi - cái khói tàu này này!”
Tuy
không lắng tai nghe, song tôi vẫn phải nghe những lời chuyện
trò của họ. nghe thấy trong câu truyện, những người này
cứ nhắc đi nhắc lại mãi đến Kim Các Tự và Ngân Các Tự.
Họ đều đồng ý với nhau là phải đòi hỏi cho kỳ được
sự đóng góp cụ thể của hai ngôi chùa này. Tiền thu vào
cửa của Ngân Các Tự chỉ bằng nửa ở Kim Các Tự, vậy
mà cũng đã là một món tiền khá lớn rồi. Một người đưa
ra tỉ dụ là hàng năm Kim Các Tự thu vào có lẽ tới hơn
năm triệu yen. Chi phí thực sự cho ngôi chùa Thiền tông, kể
cả tiền điện nước, cũng không thể vượt quá hai mươi
vạn yen trong một năm. Vậy thử hỏi số tiền thừa trữ
lại để làm gì? Thật là dễ hiểu quá mà. Hòa thượng trụ
trì đã bắt các chú tiểu của mình ăn cơm nguội trong khi
mỗi đêm ông đem tiền cho gái ở xóm Kỳ Viên. Hơn nữa,
chùa chiền lại được miễn thuế. Thật là như thể chùa
chiền ở xứ này đã được hưởng trị ngoại pháp quyền
vậy. Mình phải đốc thúc cho thật dữ dội để yêu cầu
những ngôi chùa ấy đóng góp mới được!”
Câu
truyện họ nói cứ thế mà tiếp diễn. Khi họ ngừng, ông
lão đầu hói, vẫn lấy cái khăn mặt bông lau chùi tay mình,
lúc đó mới cất tiếng: “Chà, khó chịu quá đi thôi!”.
Lời ông đã kết luận thay cho mọi người. Bấy giờ tay ông
không còn một vệt than đen nào nữa; hai bàn tay ấy đã được
lau chùi, đánh bóng và toát ra cái ánh bóng lộn giống như
một đồ gỗ chạm trổ đẹp mắt. Những bàn tay đã làm
sẵn của ông lão thực giống như một đôi găng tay hơn bất
kỳ một cái gì khác.
Nghe
có vẻ lạ, nhưng đây thực là lần đầu tiên tôi có dịp
được nghe những lời phê bình của thế gian. Sống trong Kim
Các Tự, chúng tôi thẩy đều thuộc về thế giới tăng lữ,
và ngay trường đại học cũng nằm trong thế giới ấy. Chưa
bao giờ chúng tôi trao đổi với nhau những lời phê bình liên
quan đến ngôi chùa cả. Vậy mà câu truyện giữa những người
viên chức già nua này chẳng hề làm tôi ngạc nhiên chút nào
hết. Những điều họ nói với nhau đối với tôi chỉ là
sự thực rành rành. Chúng tôi thì phải ăn cơm nguội. Hòa
thượng thì đi chơi ở xóm Kỳ Viên. Sự thực rành rành ra
đấy. Nhưng điều làm cho tôi tức tối không sao chịu nổi
ấy là chính bản thân tôi đã phải được hiểu bằng cái
phương pháp hiểu biết mà những viên chức già này vừa mới
phơi bầy ra. Nếu tôi đã được người ta hiểu bằng những
lời nói của thiên hạ thì thật là không chịu nổi. Vì lẽ
những lời nói của tôi thì khác hẳn. Xin nhớ cho rằng ngay
cả khi nhìn thấy Lão sư phụ đi chơi với cô danh kỹ xóm
Kỳ viên ấy tôi cũng chẳng hề vì đạo đức mà có ý ghét
bỏ ông lấy một mảy may.
Vì
những lý do này cuộc nói chuyện của mấy ông viên chức
già đã bay ra khỏi tâm trí tôi, chỉ còn rơi rớt lại một
sự ghét bỏ mơ hồ và một mùi vị tầm thường khó tan biến.
Tôi không có ý định cầu mong thiên hạ ủng hộ những tư
tưởng của chính mình. Mà tôi cũng chẳng có ý định tạo
nên một khuôn khổ cho những tư tưởng của mình để cho
thế gian có thể hiểu được dễ dàng hơn. Như tôi đã nói
nhiều lần, việc không được người khác hiểu thấu chính
là lý do tồn tại của tôi.
Đột
nhiên cánh cửa toa tầu mở ra và một người bán hàng xuất
hiện, trước ngực đeo lủng lẳng một cái rỗ lớn. Anh ta
rao hàng bằng một giọng khàn khàn. Bất giác tôi thấy bụng
rỗng và mua một hộp đồ ăn trưa. Bữa ăn gồm có miến
màu lục trong đó hải thảo hiển nhiên đã được dùng thay
cho bột gạo. Sương mù đã tan, nhưng bầu trời vẫn chưa
sáng. Ở phía chân ngọn núi Tamba, tôi nhìn thấy những cây
dâu tằm mọc lên trên mặt đất khô cằn và những căn nhà
trong đó người ta đang làm giấy viết.
Vịnh
Maizuru. Cái tên này đã làm cho lòng tôi xốn xang, cảm động
y như trong quá khứ vậy. Kể từ thời niên thiếu trong thôn
Shiraku gần đó, “Maizuru” đã trở nên một thứ tên gọi
chung để nói đến vùng biển mà mình không nhìn thấy và
về sau từ ngữ này dùng tiêu biểu cho một dự cảm về biển
cả.
Cái
vùng biển vô hình ấy không thể nhìn thấy rõ rệt từ đỉnh
núi Thanh Diệp, nhô lên đằng sau thôn Shiraku. Tôi đã hai lần
trèo lên đỉnh núi ấy. Vào lần thứ hai chẳng ngờ tôi đã
nhìn thấy một hạm đội liên hiệp đang hạ neo tại quân
cảng Maizuru. Những chiếc tàu chiến đang cắm neo trong vịnh
nước óng ánh ấy rất có thể nằm trong một thế phân phối
bí mật nào đó. Tất cả mọi thứ xung quanh hạm độ này
đều chìm trong một màn cơ mật khiến mình không khỏi nghi
ngờ tự hỏi là liệu hạm đội ấy có thực sự tồn tại
hay không. Kết quả là nhìn xa hạm đội liên hiệp này trông
giống như một đàn chim biển uy nghi màu đen mà người ta
đã biết tên trong ảnh mà thôi. Chúng có vẻ dường như đang
vui thích với cuộc tắm gội bí mật trong vịnh này, dưới
con mắt canh chừng che chở của một con chim già lão oai nghi
và hình như hớn hở vui đùa mà không biết rằng đang có
người nhìn ngắm.
Tiếng
người soát vé kéo tôi trở về thực tại khi ông ta bước
vào toa xe và báo cho biết chuyến tàu sắp đến ga Tây Maizuru.
Trong đám hành khách bây giờ không không còn một người nào
thuộc đám thủy binh ấy trước đây đã vội vã khoác quân
trang sắp sửa xuống tầu.
Tất
cả đều đã thay đổi. Nơi này đã biến thành một hải
cảng ngoại quốc. Các bảng tên đường phố bằng tiếng
Anh ngạo mạn xuất hiện ở những ngã tư và quân đội Mỹ
đi lại đông như kiến. Dưới bầu trời đầy mây đầu mùa
đông như một làn gió lạnh đượm mùi muối biển thổi hắt
xuống con đường trước kia đã được thiết bị đặc biệt
để cho quân đội sử dụng. Làn gió có mùi vị của chất
vô cơ, có mùi sắt hoen rỉ hơn là mùi hương của một làn
gió biển. Giải nước biển nhỏ hẹp, tựa như một kênh
đào, chạy sâu vào trung tâm thành phố; mặt nước phẳng
lặng như chết, một chiếc tiểu hạm đĩnh Hoa Kỳ đang nằm
hạ neo sát ngay bờ biển - tất cả đều phảng phất một
hương vị hòa bình, thật thế, nhưng một chính sách vệ sinh
thái quá đã cướp mất của quân cảng này cái sức sống
nhục thể hổn độn xưa kia của nó và làm cho toàn thể thành
phố trông giống như một thứ bệnh viện.
Tôi
không hề nghĩ là mình sẽ gặp mặt biển ở đây trong một
thân tình nào hết, nhưng dĩ nhiên là rất có thể một chiếc
xe Jeep nào đó từ đằng sau chạy tới và hất tôi lăn tòm
xuống biển để đùa chơi. Khi nghĩ về điều này vào giây
phút này, tôi mới nhận ra rằng cái xung động đã hối thúc
tôi ra đi đã chứa đựng một thân tình với biển cả; tuy
nhiên, đó không phải là chỗ biển có hải cảng nhân tạo
giống như ở Maizuru, nhưng mà là một chỗ biển dữ dằn
dậy sóng vẫn còn duy trì sinh lực hoang dại ban đầu, giống
như vùng biển mà tôi đã được tiếp xúc trong thời niên
thiếu tại quê cũ ở mũi Nariu. Đúng thế, đó là vùng biển
sóng cồn, giận dữ luôn luôn phẫn nộ điên cuồng mà người
ta vẫn thấy dọc theo bờ Nhật Bản hải.
Do
đó, tôi quyết định đi về phía Yura. Về mùa hè, bãi biển
này đông nghịt những người đi tắm biển, nhưng vào mùa
này thì vắng teo chẳng có ma nào trừ mặt biển cùng mặt
đất đang dùng sức mạnh tối tăm mà vật lộn với nhau.
Từ Tây Maizuru đến Yura phải đi mắt chừng mười cây số.
Chân tôi hãy con mang máng nhờ đường đi.
Con
đường men theo vùng bể thấp ở phía Tây Maizuru băng qua đường
xe lửa Miyazu theo góc thước thợ, vượt qua đèo Takajiri và
đổ tới sông Yura. Rồi thì, sau khi đã qua cầu Okawa, nó chạy
theo sông Yura tiến về hướng bắc dọc theo bờ sông phía
Tây. Từ chỗ này trở đi, nó chỉ việc chạy theo dòng sông
mà ra tới cửa biển.
Tôi
rời thành phố và bắt đầu đi dọc theo con đường. Trong
lúc bước đi, chân cẳng tôi mỏi như và tôi tự hỏi: “Mình
sẽ tìm thấy gì ở Yura? Mình hy vọng tìm được một minh
chứng nào mà mình đã phải khổ công đến như thế này?
Hẳn rằng ở đó chẳng có gì hết chỉ trừ một vùng biển
Nhật Bản và một bãi biển vắng tanh?” Tuy nhiên, chân cẳng
tôi lại không muốn chậm bước. Tôi đang cố gắng đi tới
một nơi bất cứ là một nơi nào cũng được. Địa danh cái
nơi tôi đang cắm đầu đi tới chẳng hề có một ý nghĩa
gì hết. Tôi cảm thấy trong lòng nẩy sinh một niềm hăng
hái - một thứ hăng hái hầu như vô đạo đức - để đối
đầu với nơi mình đi tới bất kể là nơi nào.
Thỉnh
thoảng ánh nắng dịu dàng lại rực lên và chiếu qua cái
ngọn cây cử to lớn bên vệ đường một cách mời mọc.
Tuy nhiên, không biết vì lý do nào đó, tôi cảm thấy không
thể trùng trình chậm trễ được. Tôi không có thì giờ để
nghỉ ngơi nữa.
Thay
vì thấy phong cảnh một mặt dốc thoai thoải dẫn xuống một
lưu vực rộng rãi, đột nhiên tôi lại nhìn thấy dòng sông
Yura xuất hiện từ một đường hẹp triền núi. Nước xanh
biếc, và tuy mặt sông khá rộng, song dòng nước cứ lững
lờ trôi xuôi dưới bầu trời đầy mây và trông như thể
nó đang miễn cưỡng bò ra ngoài biển.
Khi
tôi tới bờ sông phía Tây thì trên đường chẳng còn một
chiếc xe hơi hoặc một khách bộ hành nào nữa. Chốc chốc
tôi lại nhìn thấy một vườn cam mật gần bên vệ đường,
nhưng chẳng thấy một bóng người nào cả. Khi qua một ngôi
làng nhỏ bé tên là Kazue, tôi nghe tiếng rẽ cỏ sột soạt.
Đó là một con chó và chỉ có mặt nó là nhô ra khỏi đám
cỏ. Râu nó đen nhánh.
Tôi
biết vùng này sở dĩ được nổi tiếng (theo lời đồn không
đáng tin cậy cho lắm) vì là nơi cư ngụ của một thổ hào
ngày xưa tên Sansho Dayu; tuy nhiên, tôi không có ý định dừng
chân lại ở chỗ này và tôi cứ đi qua mà chẳng buồn để
ý nữa. Vì lẽ tôi đang mãi mê nhìn dòng sông. Giữa sông
đang có một cồn đất lớn có hàng tre bao bọc xung quanh.
Tuy trên mặt đường chẳng có tí gió nào, song hàng tre trên
cồn đất đang nghiêng ngã trước gió. Cồn đất có bốn
năm mẫu ruộng tưới bằng nước mưa; Tuy vậy tôi chẳng
nhìn thấy một nông phu nào cả. Người duy nhất tôi nhìn
thấy là một người đàn ông đứng quay lưng về phía tôi,
tay cầm cần câu. Đã lâu lắm rồi tôi chưa nhìn thấy một
bóng người nào nên tôi cảm thấy thân thiện với người
này liền. Dường như ông ta đang câu cá đối. Tôi nghĩ bụng
như vậy là tôi chưa xa cửa sông được bao nhiêu.
Thế
rồi tiếng bụi tre cọt kẹt, ngả nghiêng vì gió, đã làm
chìm cả tiếng dòng sông. Có cái gì giống như một làn sương
mù đang dâng lên trên cồn đất: chắc là mưa đang bắt đầu
rơi. Hạt mưa đang tẩm ướt bờ sông khô nứt trên cồn đất;
và trước khi tôi nhận ra thì cơn mưa đã đổ ào ào trên
đầu tôi. Trong lúc đang ngắm cồn đất và dần dần bị
ướt hết người, tôi nhận thấy bây giờ ở bên đó không
có dấu vết gì của cơn mưa cả. Người đàn ông đang đứng
chẳng hề nhúc nhích tí nào kể từ lúc tôi thoạt nhìn thấy
ông ta đến giờ. Chẳng mấy chốc cơn mưa cũng tạt qua khỏi
chỗ tôi đang đứng.
Cứ
mỗi lúc rẽ trên một khúc đường tôi lại chỉ nhìn thấy
toàn là những cỏ dại và cây thu thảo. Nhưng liền sau đó
khi đã tới gần, tôi thấy cửa sông hiện ra ngay trước mặt
tôi. Vì lẽ một luồng gió biển hết sức mạnh đã tạt
mạnh vào mũi tôi. Càng gần đến khúc cuối dòng sông Yura
càng có lắm cồn đất quạnh hiu. Nước sông đang đổ ra
cửa biển nên đã bị nước mặn lấn át: tuy nhiên, riêng
mặt sông thì càng ngày lại càng êm lặng hơn và không cho
thấy một điềm báo trước nào về những gì sắp xảy ra
cả - thật giống hệt một người vừa bị ngất xỉu và
rồi nhắm mắt lìa đời mà không lúc nào tỉnh lại.
Cửa
sông hẹp lạ lùng. Mặt biển pha trộn mịt mờ với những
đám mây đen chồng chất trên cao, chen lộn và lấn át cả
dòng sông. Muốn nhìn thấy rõ mặt biển hơn, tôi phải đi
bộ một quảng đường khá xa nữa trong khi gió từ đồng
ruộng ào ào thổi về phái tôi. Gió đang hất mạnh trên khắp
mặt biển mênh mông. Chính vì mặt biển mà trận gió đã
lãng phí sức lực trên những thửa ruộng vắng người này.
Và biển này là một vùng biển đầy hơi nước đã bao phủ
cả miền đất lạnh lẽo lộng gió này. Một vùng biển hách
dịch có sức chi phối mãnh liệt.
Ra
khỏi cửa sông những đợt sóng đè lên nhau, hết đợt này
đến đợt khác và để lộ dần dần cả cái mặt biển xám
ngắt mênh mông. Một hòn đảo trông giống như một cái mũ
dạ nổi bồng bềnh trên dòng sông. Đó là đảo Kammuri được
dùng làm đất nương thân cho một loài chim hiếm được giữ
gìn làm vật kỷ niệm của thiên nhiên gọi là omizunagi.
Tôi
quyết định bước vào một thửa ruộng. Tôi nhìn xung quanh.
Đây là một mảnh đất hoang lạnh. Vào lúc ấy trong óc tôi
lóe lên một ý nghĩ mơ hồ. Nhưng tôi chưa kịp ý thức được
thì nó đã biến mất và tôi cũng không nắm được ý nghĩa
nữa. Tôi đứng đó một lúc, nhưng ngọn gió lạnh buốc thốc
vào người tôi đã đánh tan hết mọi ý tưởng trong tôi.
Tôi bắt đầu đi trong gió. Những thửa ruộng khô cằn cứng
như đá tạo thành một miền đất hoang vu. Màu cỏ vàng úa;
màu xanh duy nhất không úa vàng ấy là màu của những cây
cỏ trông giống như rêu bám chặt vào mặt đất, và cả những
cây cỏ này nữa cũng có một vẻ quắt queo, rập nát. Đất
đã trộn lẫn với cát mất rồi.
Tôi
nghe thấy một âm thanh đục cùn run rẩy. Rồi tôi nghe thấy
tiếng người. Chính vào lúc này quay lưng lại luồng gió dữ
dội và ngước mắt nhìn đỉnh Yuragateke ở sau lưng mà tôi
nghe thấy tiếng này.
Tôi
nhìn xem có ai quanh đó hay không. một con đường nhỏ men theo
các bờ đá thấy chạy xuống biển. Tôi biết người ta đang
dần dần làm những công sự để che chở cho những vách đá
ấy chống lại sức xâm thực. Những cột xi măng dựng lên
khắp đó đây trông giống như những bộ xương người trắng
hếu và có một cái gì vô cùng tươi mát quanh những cây cột
xi măng mới cắm xuống đất ấy. Tiếng động run rẩy đục
cùn phát ra từ cái máy trộn xi măng. Lắc nghiền cho xi măng
rơi xuống cái khuôn. Một nhóm công nhân mặt mũi đỏ gay
nhìn tôi một cách tò mò khi tôi đi qua trong bộ đồng phục
sinh viên. Tôi liếc mắt nhìn về phía họ. Ấy, chúng tôi
chỉ đưa mắt chào hỏi nhau như vậy mà thôi.
Cuồn
cuộn theo hình nón, nước biển rút mạnh và mau ra khỏi bải
cát. Lúc bước qua bãi cát mang chất đá hoa cương đó về
phía bờ nước, tôi thấy lòng mình tràn ngập niềm vui khi
nghĩ rõ ràng là tôi đang tiến dần từng bước về phía cái
ý nghĩa duy nhứt đã lóe sáng qua đầu óc tôi trong giây lát
trước đây. Gió thổi lạnh buốt, và vì tôi không đeo găng
nên hai bàn tay hầu như tê cóng nhưng vãn chẳng làm tôi để
ý đến mảy may.
Đúng,
đích thực đây là bờ biển Nhật Bản! Đây là cội nguồn
của tất cả mọi bất hạnh, đủ mọi tư tưởng hắc ám
của tôi. Đó là mặt biển hoang dại. Sóng cuồn cuộn không
ngừng dâng về phía trước thành từng khối lớn ít khi để
cho mình có thể nhìn thấy những vực sâu xam xám, bằng phẳng
nằm giữa đợt sóng này với đợt sóng kia. Những đám mây
đen chồng chất trên mặt biển bao la, và đồng thời vừa
cho thấy một dáng vẻ xinh xắn. Vì rằng những đám mây chồng
chất nặng nề, mênh mang ấy có một đường viền nhẹ nhàng
lạnh lẽo như đường viền chạy quanh cái lông vũ mảnh mai
nhất nhưng ở chính giữa nó bao bọc một khoảng trời xanh
xám mà mình không chắc là có thực hay không nữa. Phía sau
mặt biển xám ngắt như chì dẫy núi tím sẫm nhô lên đằng
mũi biển. Tất cả đều thấm đượm mùi dao động và bất
động, với một sức mạnh tối tăm luôn luôn chuyển động,
với cái cảm giác ngưng kết của khoáng vật.
Bất
giác tôi nhớ lại điều Kashiwagi nói với tôi vào hôm hai
đứa chúng tôi mới gặp lần đầu. Chính vào lúc khi người
ta ngồi trên một bãi cỏ cắt tỉa cẩn thậtn vào một buổi
chiều Xuân đẹp trời, mơ màng ngắm mặt trời rọi qua lá
cây và tạo thành những hoa nắng trên mặt cỏ - chính vào
những lúc như thế trong lòng chúng ta đột nhiên trỗi dậy
cái ý tàn ác.
Bây
giờ tôi đang đối đầu với sóng biển và ngọn gió bấc
hoang lạnh. Ở đây không có buổi chiều Xuân đẹp đẽ, không
có bãi cỏ cắt tỉa gọn gàng. Nhưng cái thiên nhiên hoang
lạnh trước mắt tôi nay lại mơn trớn lòng tôi, xoắn xuýt
thân mật với cuộc sống của tôi hơn bất cứ một bãi cỏ
nào vào một buổi chiều Xuân. Ở đây tôi có thể tự túc.
Ở đây tôi không bị bất cứ cái gì uy hiếp hết cả.
Có
phải cái tưởng niệm lúc này đây xẩy đến trong tôi là
một tưởng niệm tàn ngược theo nghĩa của Kashiwagi không?
Tôi không rõ, nhưng dù sao đi nữa thì tưởng niệm đột nhiên
trỗi dậy trong tôi cũng đã phát lộ cái ý nghĩ của điều
khải thị đã từng lóe sáng thoáng qua óc tôi trước đây
và chính nó đã làm cho tôi rực sáng từ bên trong. Tôi vẫn
chưa cố gắng nghĩ cho sâu, song đã bị cái tưởng niệm ấy
nằm trọn như thể bị ánh sáng tràn ngập. Tuy nhiên, tưởng
niệm ấy cho đến lúc đó chưa bao giờ có trong tôi, đang
bắt đầu lớn mạnh kinh khủng ngay khi mới chào đời. Chẳng
những không hề khống chế, chính tôi lại còn bị cuốn tròn
trong tưởng niệm ấy. Và đây là cái tưởng niệm đang bao
trùm thân tôi: “Ta phải hỏa thiêu Kim Các Tự.”
Hết
phần 7