3
Hôm
đó là ngày giỗ Ba. Má có ý nghĩ kỳ cục. Tôi khó có thể
về nhà vì đang bị động viên lao động nên bà nghĩ đến
việc đích thân đi Kyoto, đem theo bài vị của Ba để Hòa
thượng Dosen có thể tụng kinh trước bài vị dù chỉ trong
vài phút vào ngày giỗ người bạn xưa của ông. Dĩ nhiên
Má không có tiền lo cho buổi lễ, nên bà đã viết thư nhờ
cậy Hòa thượng Dosen xin Hòa thượng chấp nhận lời vào
báo cho tôi biết điều ấy.
Nghe
tin này tôi không vui lòng một tí nào. Có một lý do đặc
biệt khiến cho tôi bây giờ vẫn cố ý không viết về mẹ
tôi. Tôi không muốn đả động đến bất cứ cái gì dính
dáng đến mẹ tôi cả.
Tôi
chẳng bao giờ buông lời trách móc Má về một sự việc nào
đó. Tôi chẳng bao giờ hé miệng nói về điều đó. Có nhẽ
Má cũng không nghĩ là tôi biết việc đó. Nhưng kể từ khi
việc đó xảy ra, tôi giận không sao có thể nén lòng tha thứ
cho bà được.
Việc
đó xẩy ra sau khi tôi được giao phó cho ông chú để theo
học trường trung học Đông Maizuru và trở về nhà trong dịp
nghỉ hè niên khóa đầu tiên. Vào dạo đó, một người bà
con của Má tên là Kurai đã từ Osaka trở về Nairu, sau khi
thất bại trong việc làm ăn. Người vợ phải nương nhờ
vào gia đình mình nên không chịu cho chồng trở về nhà, vì
thế Kurai buộc lòng phải nấn ná nương thân trong chùa của
Ba đợi cho câu chuyện bớt sôi nổi cái đã.
Trong
chùa của Ba, chúng tôi không có đủ màn ngăn muỗi. Thực
là một điều lạ lùng khi Má và tôi không bị lây bệnh lao
của Ba, bởi cả ba người đều ngủ chung trong một cái màn;
và bây giờ lại thêm cả cái ông Kurai này vào nữa. Tôi nhớ
một đêm hè vào lúc rất khuya một con ve sầu bay dọc theo
hàng cây trong vườn và buông những tiếng kêu cộc lốc. Có
lẽ chính những tiếng kêu ấy đã làm tôi thức dậy. Tiếng
sóng biển vọng lại ầm ầm và cái màn xanh nhợt che muỗi
rập rờn theo gió biển. Tuy nhiên, có cái gì khác thường
trong cách lay động, rập rờn của cái màn.
Tấm
màn căng phồng khi gió thổi tới, rồi miễn cưỡng lay động
để gạn lọc gió biển. Như thế, hình dạng cái màn rung
rinh gợn nếp không phản ảnh trung thực làn gió. Làn gió
dường như yếu hẳn đi. Có tiếng gì giống như tiếng tre
sột soạt, cọ sát vào mặt chiếu; đó là mép màn cọ mạnh
vào sàn nhà. Một chuyển động nào đó, không phải vì gió,
đang được truyền đến tấm màn che muỗi. Một chuyển động
lại còn tế vi hơn chuyển động của gió, một chuyển động
toàn thể giống như đợt sóng lăn tăn chạy theo suốt tấm
màn làm cho chất tơ thô cứng chốc chốc lại co rúm lại
và khiến, từ bên trong nhìn ra, tấm màn rộng trông giống
như mặt hồ nước đang trương lên vì bất an. Phải chăng
đó là một ngọn sóng nào đó do con tầu tạo ra khi rẽ nước
mặt hồ đi về phía xa, hoặc phải chăng đó là phản ánh
của những dư ba sau khi con tầu đã đi rồi?
Tôi
sợ sệt đưa mắt tìm nguồn gốc chuyển động đó. Thế
rồi, trong khi giương mắt cố soi qua bóng tối, tôi cảm thấy
dường như có một cái dùi nhọn đang xoáy vào ngay chính giữa
con ngươi của mình.
Lúc
đó tôi đang nằm cạnh Ba; tấm màn che muỗi thật quá chật
đối với bốn người; và trong lúc ngủ chắc hẳn tôi đã
xoay trở nhiều lần và đã dồn Ba ép về một góc. Bởi vậy
mới có khoảng khăn giải giường trắng rộng nhăn nheo ngăn
cách tôi và cái vật tôi đang nhìn thấy lúc này; còn Ba nằm
cuộn tròn đằng sau lưng tôi thì đang thở phì phò ngay vào
gáy tôi.
Điều
làm tôi nhận ra ba đã thực sự thức giấc ấy là nhịp thở
không đều, tắc nghẹn của Ba ở đằng sau gáy tôi, vì tôi
nhận thấy rằng ba đang ngăn chặn cho khỏi ho. Bất thình
lình đôi mắt mở to của tôi bị một cái gì to lớn, ấm
áp che kín, và tôi chẳng thấy gì. Tôi hiểu ngay tức khắc.
Từ đằng sau Ba đã đưa hai bàn tay ra để che cho tôi khỏi
nhìn thấy.
Truyện
này xẩy ra nhiều năm về trước lúc tôi mới mười ba tuổi;
tuy nhiên, tôi vẫn nhớ như in hình ảnh hai bàn tay ấy. Những
bàn tay to lớn kinh khủng. Những bàn tay từ đằng sau đã
quàng quanh tôi, trong tích tắc che dấu cái hình ảnh địa
ngục ấy, mà tôi đã chợt nhìn thấy. Những bàn tay từ thế
giới khác. Có phải đó là do yêu thương hoặc từ bi hoặc
khuất nhục tôi không biết; nhưng những bàn tay ấy trong chốc
lác đã nhận bít cái thế giới kinh khủng mà tôi chạm trán
và đã chôn vùi thế giới ấy vào trong tăm tối.
Tôi
khe khẻ gật đầu trong lòng những bàn tay ấy. Thấy tôi gật
gật cái đầu nhỏ bé, Ba liền hiểu rằng tôi đã hội ý
và tôi sẵn sàng chấp nhận; ông buông hai tay ra. Rồi lúc
sau, theo đúng mệnh lệnh của hai bàn tay ấy, tôi nhất định
nhắm kín đôi mắt lại, và cứ thế nằm đó không ngủ nghê
gì cho đến tận sáng, đến lúc tia nắng chói lòa từ bên
ngoài xuyên thẳng vào mi mắt tôi.
Xin
nhớ lại giùm là năm sau, lúc người ta đang khiêng quan tài
của Ba ra khỏi nhà, tôi quá bận bịu nhìn vào khuôn mặt
chết ấy đến nỗi đã không hề nhỏ một giọt nước mắt.
Xin nhớ lại giùm là với cái chết của ông, tôi đã cởi
gỡ sự trói buộc của hai bàn tay ông, và xin nhớ lại giùm
là do nhìn chăm chú vào khuôn mặt ông, tôi có thể xác định
sự hiện hữu của chính mình. Tới giới hạn này tôi quả
có nhớ lại là muốn tỏ ý phục thù đôi bàn tay ấy, nghĩa
là, cái mà thế gian này gọi là yêu thương; còn đối với
Má, ngoài việc không thể nào quên được nỗi giận vì đã
nhớ lại điều đó, chẳng một lần nào tôi nghĩ đến truyện
phục thù đối với bà cả.
Như
đã giàn xếp, Má sẽ tới Kim Các Tự vào hôm trước ngày
giỗ và sẽ nghỉ lại chùa một đêm. Hòa thượng viện chủ
đã viết thư cho trường để xin phép cho tôi nghỉ học vào
ngày đó. Những đứa chúng tôi bị động viên lao động đều
không ở nơi làm việc mà thường tới đó vào giờ ấn định,
rồi sau đấy lại trở về bất kỳ nơi nào mình đang sống.
Vào hôm trước ngày giỗ, tôi ngại ngùng mà quay về Lộc
Uyển tự.
Với
tâm hồn trong sáng, đơn thuần, Tsurukawa lấy làm vui mừng
cho tôi sắp được gặp lại má tôi sau một thời gian xa cách
lâu dài; cả lũ bạn sa di của tôi cũng tò mò muốn biết
Má nữa. Nhưng tôi thấy bực tức vì đã có một người mẹ
trông rách rưới và nghèo nàn như thế. Tôi thấy lúng túng
về truyện sẽ phải giải thích làm sao cho thằng Tsurukawa
thân thiết hiểu vì đâu tôi lại không muốn gặp mẹ tôi.
Tệ
hại hơn nữa là ngày khi chúng tôi vừa xong việc ở công
trường, Tsurukawa nắm chặt tay tôi và nói: “Thôi, tụi mình
chạy về nhà đi!”
Kể
cũng là nói quá lời khi bảo rằng tôi không hề muốn gặp
má tí nào. Không phải là tôi không thích đối đầu với
sự biểu lộ tình thương của những người cùng máu mủ
với mình, và sự thực có lẽ là tôi chỉ đang thử tìm đủ
mọi lý do giải thích sự không ưa này theo nhiều cách khác
nhau. Cái tính cách xấu xa của tôi là ở đó. Kể cũng chẳng
sao khi tôi phải cố gắng chứng minh những cảm tình ngay thẳng
của mình bằng đủ mọi lý do. Tuy nhiên, đôi khi có vô số
lý do từ đầu óc tôi chui ra vẫn thường ép buộc tôi có
những tình cảm đã đến như một xúc động mạnh mẽ ngay
cả đối với chính tôi; và những tình cảm ấy thực ra không
phải là của tôi.
Chỉ
trong sự ghét bỏ của tôi mới có một cái gì chính xác.
Bởi lẽ chính tôi là một con người mà chỉ có sự ghét
bỏ mới có thể làm xúc động.
“Cần
gì phải chạy, ” tôi đáp. “Chỉ tổ mệt mà thôi. Mình
cứ thủng thẳng mà đi!”
“Tao
hiểu, ” Tsurukawa nói. “Như vậy mày muốn làm nũng và lấy
lòng Má mày phải không?”
Cứ
thế Tsurukawa diễn tả tâm tình tôi và cứ như thế nó luôn
luôn lầm lẫn. Tuy niên, nó chẳng làm tôi bực bội mảy may
và sự thực nó đã trở nên tất yếu đối với tôi. Bởi
lẽ nó thực sự là kẻ thông dịch đầy thiện ý của tôi
- một người bạn không thể thay thế được đã có khả
năng phiên dịch những lời tôi nói ra ngôn ngữ của thế
giới bên ngoài.
Đúng
thế, có nhiều lúc tôi thấy Tsurukawa dường như là một tay
thợ luyện kim đã có tài biến chì thành vàng vậy. Tôi làm
âm bản còn nó là dương bản của tấm hình. Đã biết bao
lần tôi chẳng ngạc nhiên khi nhận thấy những tình cảm
vẩn đục, đen tối của mình trở nên trong trẻo và sáng
ngời nhờ được lọc qua tâm hồn của Tsurukawa. Trong lúc
tôi trù trừ và lắp bắp, nó thường nắm lấy cảm xúc của
tôi trong tay lộn ngược mặt trong ra ngoài mà truyền ra hiệu
thế. Tôi học được từ sự việc lạ lùng này rằng, giới
hạn trong lãnh vực tình cảm, thì giữa những tình cảm tối
ác và tối thiện trên đời không hề có một sự khác biệt
nào rõ rệt giữa ý niệm sát nhân với tấm lòng từ bi hết.
Dẫu cho tôi có đủ khả năng dùng lời nói mà giải thích
điều đó thì hiển nhiên Tsurukawa cũng chẳng bao giờ có thể
tin nổi, song đối với tôi đó là một phát hiện khủng khiếp.
Giả như bây giờ tôi không ngại là Tsurukawa coi tôi như một
kẻ giả đạo đức, ấy chỉ vì trong tâm trí tôi ý niệm
giả đạo đức chỉ còn là một tội lỗi tương đối mà
thôi.
Ở
Kyoto tôi chưa bao giờ chứng kiến một cuộc không tập, nhưng
có một lần khi được phái tới công trường chính ở Osaka
để mua một số bộ phận máy bay tình cờ có một cuộc không
tập và tôi đã thấy người ta khiêng trên cáng một công
nhân bị thương ruột gan lòi cả ra ngoài.
Ruột
gan lòi ra ngoài thì có gì là thê thảm? Tại sao, khi nhìn thấy
nội tạng một con người chúng ta lại khiếp sợ và che mắt
đi? Tại sao người ta lại xúc động khi nhìn thấy máu chẩy?
Tại sao nội tạng con người lại khó coi? Thế nó không đồng
chất với da thịt mát mịn đẹp tươi hay sao? Nếu tự tôi
bảo cho nó hay rằng chính do nó mà tôi đã đọc được cái
lối suy nghĩ này - cách suy nghĩ đã biến sự xấu xí của
riêng tôi thành hư vô chẳng hay Tsurukawa sẽ thộn mặt ra làm
sao? Tại sao dường như có cái gì phi nhân trong việc coi con
người giống như những bông hồng và không chịu phân biệt
phần tinh thần bên trong với phần nhục thể bên ngoài? Ước
chi con người có thể lộn ngược tinh thần và nhục thể
từ trong ra ngoài giống như những bông hồng và duyên dáng
phơi bày phần bên trong của mình dưới gió nhẹ mùa Xuân,
dưới ánh sáng của mặt trời tháng năm.
Má
đã tới và đang nói chuyện với Lão sư phụ ở trong phòng
ông, Tsurukawa và tôi quỳ ở ngoài hành lang trong ánh hoàng
hôn đầu hạ và thưa với Lão sư phụ là chúng tôi đã trở
về.
Lão
sư phụ chỉ gọi riêng mình tôi vào trong phòng. Trước mặt
Má ông đại khái nói rằng tôi là một thằng bé ngoan ngoãn
làm mọi công việc trong chùa rất chu đáo. Tôi cúi đầu và
hầu như không nhìn gì đến Má. Từ khóe mắt mình, tôi có
thể nhìn thấy màu vải xanh bạc phếch của chiếc quần rộng
thùng thình Má mặc trong thời chiến và những ngón tay bẩn
thỉu lem luốc Má đặt trên đầu gối quần.
Lão
sư phụ bảo mẹ con tôi có thể trở về phòng. Hai mẹ con
tôi cúi đầu chào lia lịa rồi rời căn phòng. Phòng tôi ở
là căn phòng nhỏ trải vừa năm chiếc chiếu, ở phía nam
tiểu thư viện, trông ra một cái sân trong. Ngay khi hai mẹ
con đặt chân vào phòng. Má đã bậc lên khóc. Vì đã biết
trước điều này nên tôi vẫn có thể thản nhiên không xúc
động.
“Bây
giờ con đang sống dưới sự chăm sóc của Lộc Uyển tự,
“ tôi nói với Má, “xin Má đừng thăm con trước khi con
trở thành một người đàng hoàng”.
“Má
hiểu, má hiểu, ” Má nói.
Tôi
lấy làm bằng lòng là đã có thể tiếp đón mẹ tôi bằng
những lời tàn khốc như thế. Tuy nhiên, tôi cảm thấy bứt
rức trong lòng là cũng như ngày xưa bà chẳng tỏ dấu hiệu
xúc động hoặc chống đối nào cả. Đồng thời, tôi lại
cảm thấy hãi hùng khi tưởng tượng Má sẽ có thể vượt
qua ngưỡng cửa và bước vào bên trong con người của tôi.
Nhìn
khuôn mặt xạm nắng của Má, tôi thấy đôi mắt nhỏ bé
sâu thẳm, láu lỉnh. Chỉ có đôi môi bà là đỏ và bóng
dường như thể có một cuộc sống riêng; bà có hàm răng
to cứng của người nhà quê. Bà đã tới cái tuổi mà những
người ở đô thị nếu có trát phấn son dầy đặc lên mặt
cũng chẳng phải là điều lạkỳ. Má đã làm cho bộ mặt
mình trông thật xấu xí. Tôi nhận thấy ngay rằng ở một
chỗ nào đó trên khuôn mặt ấy vẫn còn rơi rớt lại một
dáng vẻ nhục cảm làm cho tôi càng thêm ghét.
Sau
khi đã rời khỏi phòng Lão sư phụ và đã khóc một trận
cho hả. Má bèn rút ra chiếc khăn mặt bà đã mang theo từ
lúc rời làng và bắt đầu lau bộ ngực xạm nắng trần trụi
của mình. Chiếc khăn bằng vải thô thuộc loại đồ được
phối cấp. Chất vải có một vẻ bóng thô lậu và nó lại
càng bóng lộn hơn khi ướt đẫm mồ hôi.
Đoạn
Má vốc từ trong cái túi đeo ở lưng ra một ít gạo. Bà nói
bà sẽ mang gạo này biếu Lão sư phụ. Tôi chẳng nói một
lời. Kế đó bà móc ra tấm bài vị thờ Ba gói ghém rất
cẩn thận trong một chiếc vải cũ màu xám, rồi đặt lên
giá sách của tôi.
“Má
hết sức biết ơn về việc này, ” bà nói.
“Ba
sẽ rất lấy làm sung sướng khi biết rằng Hòa thượng viện
chủ đang cầu siêu cho mình.”
“Sau
ngày giỗ, Má sẽ trở lại Nairu chứ Má?” tôi hỏi.
Câu
trả lời của bà làm tôi hết sức ngạc nhiên. Thì ra Má
đã nhượng hết quyền lợi trong ngôi chùa Nairu cho một người
khác rồi và đồng thời bán cả mảnh đất nhỏ nữa. Bà
đã trang trải hết tiền thuốc men cho ba và đã thu xếp để
một mình về sống nhờ đàng nhà ông bác tại Kasagun gần
Kyoto. Thế là ngôi chùa tôi sắp sửa quay về sống không còn
là của chúng tôi nửa! Ở cái thôn trên mũi biển hoang lạnh
ấy chẳng còn có cái gì chờ đón tôi nữa.
Tôi
không rõ Má đã diễn dịch cái dáng vẻ giải thoát trên mặt
tôi ra làm sao, nhưng bàđã cúi sát vào tôi và nói: “Con thấy
không, con không còn ngôi chùa của riêng con nữa. Điều duy
nhất con phải làm bây giờ là trở thành người trụ trì
Kim Các Tự này. Con phải ăn ở sao cho Hòa thượng thấy con
đáng yêu để rồi con có thể kế vị ông khi ông giã từ
cõi đời này. Hiểu không con của Má? Bây giờ Má chỉ còn
sống vì điều đó mà thôi.”
Tôi
thấy bàng hoàng, chấn động nhìn lại khuôn mặt của Má,
nhưng quá sửng sốt, sợ sệt để có thể nhìn thẳng vào
mặt.
Căn
phòng nhỏ bé đằng sau tối om. Bà “từ mẫu” của tôi
đã kề ngay miệng vào tai tôi mà nói, và bây giờ mùi mồ
hôi của bà đang rập rờn trước lỗ mũi tôi. Tôi nhớ lại
lúc đó Má bật cười thành tiếng. Những ký ức xa xôi về
việc được cho bú, những hoài niệm về cái bầu vú đen
đủi - những hình ảnh chen lấn nhau loạn xạ trong đầu óc
tôi. Trong những đóm lửa đồng nội vẫn còn có một cái
gì mạnh gò ép của nhục thể này dường như đã làm tôi
hoảng sợ. Khi những lọn tóc loăn quăn của Má chạm vào
má tôi, tôi nom thấy một con chuồn chuồn hạ cánh đậu vào
bể nước bằng đá phủ đầy rêu ở ngoài sân tối om. Bầu
trời chiều hôm phản ánh trên mặt nước trong cái bể tròn
nhỏ hình đồng tiền ấy. Không gian im lặng, không một tiếng
động, và vào lúc đó Lộc Uyển tự dường như là một ngôi
chùa không có bóng người.
Cuối
cùng tôi cũng có thể nhìn thẳng vào mặt Má. Đôi môi bóng
nhẫy của bà thỉnh thoảng một nụ cười khiến tôi còn
nhìn thấy cả hàm răng vàng bóng lộn nữa.
“Vâng,
” tôi lắp bắp kịch liệt mà trả lời, “nhưng theo con
biết, chắc con sẽ bị gọi vào lính và sẽ chết trận tới
nơi còn gì.”
“Thằng
điên ở đâu!” bà nói. “Nếu họ bắt những đứa nói
lắp như con vào quân đội thì thôi nước Nhật thực đã
đến lúc tàn rồi.”
Tôi
ngồi đó ngay đơ người thấy ghét Má tôi ghê gớm. Tuy nhiên,
những lời nói lắp bắp thốt ra chỉ là những lời nói lảng
không hơn không kém. Tôi nói “Kim Các Tự có thể cháy rụi
trong một cuộc không tập.”
“Cứ
như sự việc xẩy ra hiện này, ” Má nói, “chắc Kyoto sẽ
không bị oanh tạc. Tụi Mỹ sẽ nghĩ xa mà không động đến
thành phố này đâu.”
Tôi
không đáp lời. Cái sân đang tràn ngập bóng tối mờ mờ
trở thành màu đáy biển. Những viên đá chìm vào bóng tối,
và nhìn hình thù của chúng người ta có thể nhĩ rằng chúng
đang giao đấu với nhau. Má đứng dậy, không buồn để ý
đến sự im lặng của tôi và lơ đãng ngắm khung cửa gỗ
căn phòng nhỏ bé nơi tôi đang ở.
“Đá
đến giờ dược thạch chưa nhỉ?” bà nói.
Sau
này khi nghĩ lại tôi thấy rằng cuộc đối diện với Má
đã có ảnh hưởng đáng kể với tâm hồn tôi. Chính vì dịp
này tôi mới hiểu rằng Má sống trong một thế giới hoàn
toàn khác biệt với thế giới của tôi và cũng chính nhờ
dịp này tôi mới hiểu rằng lần đầu tiên cách suy nghĩ
của bà đã có tác dụng mạnh mẽ đến tôi.
Má
thuộc hạng người sinh ra không hề bận tâm tới vẻ đẹp
của Kim Các Tự; thay vào đó, bà có một cảm giác hiện thực
thật xa lạ đối với tôi. Bà đã bảo Kyoto không sợ bị
oanh tạc, và trái hẳn điều tôi mơ tưởng, điều này có
vẻ như là đúng sự thực. Và nếu Kim Các Tự không có nguy
cơ bị oanh tạc, hẳn rằng lúc này đây tôi đã mất lẽ
sống ở đời và thế giới trong đó tôi đang nương thân
sẽ phải tan ra từng mảnh vụn.
Mặt
khác, cái dã tâm mà Má đã bất thần bộc lộ cho tôi hay
lôi cuốn tôi ghê gớm chừng nào thì tôi lại càng ghê tởm
nó chừng ấy. Trước khi Ba chưa bao giờ nói một lời nào,
nhưng có lẽ ông cũng có một dã tâm như Má khi gửi tôi tới
ngôi chùa này. Thượng tọa Dosen sống độc thân. Chính ông
cũng đã được sư phụ đời trước dặn dò gửi gắm mà
rồi kế vị ở Lộc Uyển tự, cho nên không lý gì chính tôi
lại không thể thực sự kế nghiệp sư phụ Dosen ở Kim Các
Tự này một khi tôi vận dụng hết khả năng mình cho đúng
cách. Nếu việc này mà xẩy ra được, thì Kim Các Tự sẽ
thuộc về tôi!
Tư
tưởng tôi trở nên hỗ loạn. Khi cái dã tâm thứ hai của
tôi đè nặng, tôi quay về với mộng tưởng thứ nhất (Kim
Các Tự sắp sửa bị không tập tới nơi) và khi mộng tưởng
ấy bị sự phán đoán thực tế của Má đập tan thì tôi
lại quay về cái dã tâm thứ nhì, cho tới khi tôi mệt đừ
người vì phải luôn luôn nghĩ ngợi lung tung, và rồi kết
quả là tôi bị một cái nhọt to tướng đỏ ửng mọc ngay
đằng sau gáy.
Tôi
không hề mó tay đến nó. Nó cứ sưng phồng lên và bắt đầu
nhức nhối, nóng ran, khó chịu ngay sau gáy. Trong giấc ngủ
chập chờn, tôi nằm mơ thấy một làn ánh sáng vàng chóe
không một gợn nhơ đang phát ra từ sau gáy, bao vây phía sau
đầu tôi tạo thành vầng hào quang hình bầu dục va lan rộng
dần dần. Nhưng khi tỉnh giấc hóa ra chỉ là sự đau đớn
do cái nhọt làm đau chết người.
Sau
cùng tôi phát sốt và phải vào giường nằm. Thượng tọa
trù trì bảo tôi tới một y sĩ ngoại khoa. Mình mặc quốc
phục, đi chân giày ống, ông này sau khi chẩn bệnh gọi cái
nhọt của tôi bằng tên đơn giản là Furunkeru. Vì tiếc rượu
cồn, ông ta sát trùng con dao bằn cách hơ lên ngọn lửa rồi
áp mạnh vào gáy tôi. Tôi rên rỉ. Cái thế giới nóng ran,
khó chịu nổ tung ra ở sau đầu tôi; thế rồi, tôi cảm thấy
nó teo đi và xẹp hẳn.
Chiến
tranh kết liễu. Lúc đang ở công trường lắng nghe Chiếu
Sắc tuyên cáo chấm dứt cuộc chiến, tôi không nghĩ tới
gì ngoài Kim Các Tự.
Vừa
rời công trường về, tự nhiên tôi vội vã đi tới mặt
tiền Kim Các Tự. Trên lối đi hai khách thường dùng để
vào chùa, những hòn sỏi đang tắm nắng dưới ánh mặt trời
mùa hạ, hết hòn này đến hòn khác dính chặt vào đế giầy
thể dục bằng cao su cứng ngắc của tôi.
Ở
Tokyo, sau khi nghe Chiếu Chỉ, dân chúng có lẽ đã tới đứng
trước Hoàng cung. Tại đây, rất nhiều người đã đến ngay
trước kinh đô ngự sở hoang vắng mà khóc. Kyoto có nhiều
Thần xã và Phật các để cho dân chúng có thể tới khóc
vào những dịp như thế này. Các tu sĩ phải làm việc khá
nhiều ngày hôm đó. Tuy vậy, như người ta đoán trước, trong
ngày hôm ấy chẳng ai tới Kim Các Tự hết.
Cũng
vì thế chỉ riêng có bóng tôi in trên những lớp sỏi đá
ngập nắng. Nếu muốn ghi lại hình ảnh xác đáng, tôi phải
nói tôi đang đứng ở một bên còn Kim Các Tự đang đứng
ở bên kia. Và hôm đó kể từ lúc để mắt nhìn đến ngôi
chùa, tôi cảm thấy mối quan hệ giữa “chúng tôi” đã
thay đổi mất rồi. Trong nỗi xung động vì chiến bại, trong
nỗi bi ai của quốc dân, Kim Các Tự thực sự là siêu việt.
Trong những lúc như thế này nó thật siêu việt hoặc ít nhất
là làm ra vẻ siêu việt. Cho đến lúc này, Kim Các Tự trong
quá khứ chưa bao giờ như thế. Hiển nhiên là việc nó khỏi
bị cháy rụi trong một cuộc không tập và bây giờ không
còn bị nguy hiểm đe dọa đã giúp nó tỏ được cái tình
cảm buổi đầu: “Ta đã có mặt tại đây thời xưa đến
giờ, và ta sẽ còn có đây mãi mãi.
Nó
ngồi đó trong im lặng hoàn toàn, giống như đồ đạc lộng
lẫy nhưng vô ích nào đó, với phiến lá cổ xưa ở bên trong
được vẻ sáng bóng của mặt trời mùa hạ đang chập trùng
trên những bức tường ngoài che chở hoàn toàn. Những khung
gỗ phía ngoài rộng lớn, trống trơ nằm chình ình trước
màu xanh chói rạng của rừng cây. Người ta có thể đặt
những vật trang trí nào trên các khung gỗ như thế? Chẳng
có cái gì vừa với kích thước của chúng ngoại trừ một
cái gì đó giống như một bình hương khổng lồ hoặc một
hư vô mênh mang vĩ đại. Nhưng Kim Các Tự đã hoàn toàn mất
hết những cái đó rồi; bất chợt nó đã rửa trôi tuộc
mất hết thực chất của mình và bây giờ đang phơi bầy
một hình dạng hư không một cách kỳ lạ. Điều kỳ lạ
nhất tôi nhận thấy từ trước đến giờ trong bao nhiêu lần
Kim Các Tự phô bầy vẻ đẹp của nó trước mắt tôi thì
lần này đẹp hơn hết. Chưa bao giờ ngôi chùa lại phơi bầy
một vẻ đẹp vững bền đến thế - một vẻ đẹp vượt
qua chính tâm tưởng của tôi, đúng thế, vượt qua cả toàn
thể thế giới thực tại, một vẻ đẹp không hề có dây
dưa gì với bất kỳ một chủng loại siêu thoát nào! từ
trước đến giờ chưa bao giờ nó mang một vẻ đẹp lộng
lẫy, cự tuyệt tất cả mọi ý vị như lần này.
Kể
cũng chẳng phải quá lời khi bảo rằng trong lúc ngắm nhìn
ngôi chùa, chân tôi đã run rẩy và trán tôi đã ướt đẫm
những giọt mồ hôi lạnh. Trong một bận trước trở về
làng, sau khi đã ngắm nghía ngôi chùa, tôi thấy những bộ
phận nhỏ nhặt, toàn thể kiến trúc của nó hòa hợp như
một khúc nhạc âm chiếu ứng nhịp nhàng. Nhưng bây giờ tôi
chỉ nghe tiếng im lặng hoàn toàn, tĩnh mịch hoàn toàn. Ở
đó chẳng có gì trôi chẩy, chẳng có gì đổi thay. Kim Các
Tự đứng chót vót trước mặt tôi, vượt cao trước mặt
tôi giống như sự ngưng nghỉ kinh hoàng nào đó trước âm
nhạc, giống như một thứ trầm mặc ngân vang nào đó.
“Mối
liên hệ giữa Kim Các Tự và chính tôi đã bị cắt đứt,
” tôi nghĩ. “Kể từ đây mộng tưởng cho rằng Kim Các
Tự và tôi đang sống trong cùng một thế giới đã sụp đỗ.
Kể từ đây, tôi sẽ trở lại trạng thái trước kia của
mình, nhưng còn tuyệt vọng hơn trước kia nữa. Một trạng
thái trong đó tôi ở đằng này và vẻ đẹp ở đằng kia.
Một trạng thái chẳng bao giờ biến đổi trên cõi đời này.”
Sự
chiến bại của đất nước đối với tôi thật đúng chỉ
là một kinh nghiệm tuyệt vọng. Ngay cả tới bây giờ tôi
vẫn còn có thể nhìn thấy cái ánh sáng màu hè giống như
ánh lửa vào cái ngày thất trận ấy, ngày 15 tháng Tám. Dân
chúng nói rằng mọi giá trị đều băng hoại; nhưng chính
trong lòng tôi ngược lại, sự vĩnh viễn đã bừng tỉnh,
hồi sinh và đòi hỏi quyền lợi của mình. Cái sự vĩnh viễn
đã bảo tôi rằng Kim Các Tự sẽ vĩnh viễn tồn tại ở
đó. Cõi vĩnh cửu đã từ trên trời giáng xuống, dính chặt
vào má, vào tay, vào bụng chúng tôi, rồi cuối cùng chôn vùi
chúng tôi. Cái đó chính là một lời nguyền rủa. Đúng thế,
vào cái ngày chiến tranh chấm dứt, trong những tiếng ve sầu
từ các núi đồi chung quanh vọng lại, tôi có thể nghe thấy
sự vĩnh viễn này, giống như một lời nguyền rủa lửng
lơ trên đầu tôi, nó đã khép chặt tôi vào chất vữa vàng
óng.
Tối
hôm đó trong buổi tụng kinh trước giờ khai chẩm, chúng tôi
đặc biệt tụng những bài kinh cầu an cho Hoàng đế và an
ủi vong linh những người đã chết trong cuộc chiến. Kể
từ khi chiến tranh bắt đầu, mặc áo cà sa đơn giản đã
trở thành thói quen trong những tông phái, nhưng đêm nay Lão
sư phụ đặc biệt mặc chiếc áo cà sa ngự điều bằng lụa
đào mà ông đã cất kỹ từ nhiều năm qua. Bộ mặt đầy
đặn, mở màng của ông, trông giống như thể không hề còn
một nếp nhăn nào, hôm nay có vẻ hồng hào, mạnh khỏe và
dường như đang tươi tắn nở nang hẳn lên vì thỏa mãn về
cái gì đó. Trong đêm tối nóng bức, tấm áo cà sa nhẹ mát
của ông sột soạt nghe rõ mồn một trong ngôi chùa.
Sau
buổi tụng niệm mọi người trong chùa được gọi tới phòng
Lão sư phụ nghe thuyết giảng. Công án lão sư phụ đã chọn
là “Nam Toàn Trảm Miêu” từ đệ thập tứ tắc trong Vô
Môn Quan. “Nam Toàn Chém Mèo” (cũng thấy xuất hiện trong
đệ lục thập tam tắc trong Bích Nham Lục dưới nhan đề
“Nam Toàn Trảm Miêu” và đệ lục thập tứ tắc nhan đề
“Triệu Châu Đầu Đái Thảo Hài”) từ xưa vẫn nổi tiếng
là một trong những công án nan giải nhất.
Vào
đời nhà Đường có một danh tăng, Phổ Nguyện Thiền Sư,
sống trên núi Nam Toàn Từ Châu, do đó được gọi là Nam
Toàn Hòa thượng theo tên quả núi. Một hôm, sau khi mọi tu
sĩ đã ra đồng cắt cỏ, một con mèo nhỏ xuất hiện trong
ngôi sơn tự nhàn tịch. Ai nấy đều đuổi và bắt được
con mèo nhỏ này. Sau đó con vật trở thành đối tượng cả
Đông Tây lưỡng đường đều tranh nhau con vật. Hai phe cãi
nhau và tranh nhau giữ con miu đó.
Hòa
thượng Nam Toàn thấy vậy bèn nắm lấy gáy con mèo con rồi
dí lưỡi liềm phạt cỏ vào cổ nó mà nói: “Trong lũ người
ai nói được một lời thì cứu ngay được con mèo này; nếu
không ai nói được gì cả thì nó sẽ bị chém đầu ngay.”
Không ai có thể đáp lời nào, thế là Hòa thượng Nam Toàn
liền chém ngay con mèo rồi quẳng xác nó đi.
Tối
đến, Triều Châu, cao đồ Hòa thượng, trở về chùa. Hòa
thượng Nam Toàn liền kể lại câu truyện đã xảy ra và hỏi
ý kiến anh ta. Tức thì Triều Châu tuột đôi dép đôi lên
đầu và bước ra khỏi căn phòng. Thấy vậy, Hòa thượng
Nam Toàn cất tiếng thở than: “Ồ, giả chi bữa nay có con
ở đó thì con đã cứu được con mèo con rồi.”
Đó
là đại thể câu truyện. Cái đoạn kể truyện Triều Châu
tuột đôi dép đôi lên đầu được coi là điều hết sức
khó hiểu. Nhưng theo lời giảng của Lão sư phụ vấn đề
không đến nỗi khó hiểu đến thế.
Sở
dĩ Hòa thượng Nam Toàn chém mèo vì ông muốn cắt đứt mọi
mê vọng về tự ngã và dứt hết mọi vọng niệm, vọng tưởng
từ căn nguyên. Thực hiện việc tàn nhẫn không xót thương
đem chém đầu con mèo con là ông đã dứt khoát cắt đứt
hết mọi mâu thuẫn, bất hòa giữa thân mình và kẻ khác.
Việc làm này được gọi là Sát Nhân Đao trong hành động
của Triều Châu được gọi là Hoạt Nhân Kiếm. Có thái độ
khoan dung đem đồ lấm bùn bẩn thỉu để giày dép mà đội
lên đầu, anh ta đã thực hành đúng Bồ-tát đạo.
Sau
khi nghe giảng giải như thế, Lão sư phụ chấm dứt buổi
thuyết pháp mà chẳng hề đá động đến vấn đề Nhật
Bản bại trận một chút nào. Chúng tôi cảm thấy dường
như đã bị một con cáo thôi miên. Chúng tôi chẳng hề mảy
may tại sao Lão sư phụ lại chọn lựa cái công án đặc biệt
này vào ngày Nhật Bản thất trận. Trong khi mọi người đi
dọc theo hành lang trở về phòng, tôi tỏ bầy những băn khoăn
của mình cho Tsurukawa hay. Chính nó cũng ngạc nhiên và lắc
đầu.
“Tao
không hiểu, ” nó nói. “Tao nghĩ người nào chưa sinh hoạt
trọn đời ở tăng đường thì không sao hiểu nổi. Nhưng
tao nghĩ thực ra trong buổi thuyết giảng tối nay vào ngày
nước thua trận, ông chẳng nên nói lời nào về truyện ấy
mà chỉ nên nói về truyện chém đầu con mèo.”
Riêng
về phần tôi, tôi chẳng hề cảm thấy một chút bất hạnh
nào về truyện thất trận cả; tuy nhiên cái vẻ mặt tràn
trề hạnh phúc của Lão sư phụ đã khiến tôi khó chịu.
Niềm tôn kính đối với sư phụ trụ trì vẫn là thông lệ
để bảo vệ trật tự trong một ngôi chùa. Thế nhưng trong
suốt năm qua sống dưới sự chăm sóc của ngôi chùa này tuyệt
đối chẳng có lúc nào tôi cảm thấy thương yêu hoặc kính
trọng đối với Lão sư phụ cả. Truyện ấy chính nó cũng
chẳng sao. Song, kể từ lúc Má châm cái ngọn lửa dã tâm
cháy bùng trong tôi, nhiều lúc tôi bắt đầu nhìn Lão sư phụ
với con mắt phê phán, soi mói của một thiếu niên mười
bảy tuổi.
Lão
sư phụ là người công bình và vô tư. Nhưng đó là sự công
bình và vô tư mà tôi có thể tưởng tượng dễ dàng là mình
có được nếu tôi trở thành một sư trưởng trụ trì. Con
người này thiếu hẳn chúng cái khí vị khôi hài đặc biệt
của một tu sĩ Thiền tông. Điều này kể cũng kỳ lạ, vì
lẽ thường thường những người dáng vẻ đầy đặn, mỡ
màng như ông ta vẫn luôn luôn có khí vị hài hước.
Từ
lâu tôi đã nghe thấy nói rằng Lão sư phụ từng ham chơi
gái. Lúc thực sự tưởng tượng ông đang đắm mình trong
cuộc vui, tôi vừa buồn cười mà cũng vừa cảm thấy khó
chịu. Một người đàn bà sẽ thực sự cảm thấy gì khi
được một thân hình giống như cái bánh ngọt màu hồng ôm
chặt trong tay! Có lẽ người ấy sẽ cảm thấy như thể cái
khối thịt hồng hồng, mềm mại ấy trải rộng đến tận
cùng thế giới, như thể người ấy đang bị chôn vùi trong
một nầm mồ da thịt.
Điều
làm tôi thấy kỳ lạ là một tu sĩ Thiền tông mà cũng cần
đến nhục thể. Sở dĩ Lão sư phụ đã ham mê đàn bà như
thế có thể là vì ông muốn bày tỏ sự khinh miệt của mình
đối với xác thịt bằng cách tống khứ nó đi. Nhưng nếu
quả thực như vậy thì kể cũng kỳ lạ; kỳ lạ ở chỗ
cái xác thịt mà ông khinh miệt đến như thế lại phải được
nuôi dưỡng thừa thãi lại phải quấn lấy tinh thần ông.
Xác thịt khiêm nhường, ngoan ngoãn giống như một gia súc
đã được huấn luyện thuần thục. Xác thịt giống hệt
một người vợ lẽ đối với tinh thần của Lão sư phụ.
Tôi
phải nói rõ đối với tôi sự bại trận đã thực sự có
nghĩa ra sao. Đó không phải là sự giải phóng. Không, nhất
định đó chẳng hề là sự giải phóng. Chẳng qua là sự
quay lại nếp sống vĩnh viễn bất biến đã thẩm nhập vào
đời sống hàng ngày của chúng tôi. Bây giờ là thời gian
phục hồi nếp sống trong chùa trở về nếp cũ: khai định,
triêu khóa, chúc tọa, tác dịch, trai tọa, dược thạch, khai
dục, khai chẩm. Lão sư phụ tuyệt đối nghiêm cấm việc
mua gạo chợ đen dùng trong chùa. Vì thế, những hột gạo
duy nhất mấy đứa sa di chúng tôi thấy nỗi lõng bõng trong
các bát cháo của mình là do các đàn gia cho hoặc do viên Phó
ti lén mua ngoài chợ đen vì nghĩ rằng lũ chúng tôi đang vào
tuổi lớn. Tuy lén mua gạo chợ đen nhưng ông luôn luôn phải
nói tránh đó là gạo của các đàn gia đem cúng hiến. Chúng
tôi vẫn thường phải ra ngoài mua khoai lang về ăn; không phải
chỉ vào buổi chúc tọa chúng tôi phải ăn cháo mà ngay cả
bữa trưa và bữa tối cũng có cháo và khoai lang nữa, vì thế
chúng tôi lúc nào cũng thấy đói bụng.
Tsurukawa
thường hay xin nhà gửi kẹo ngọt cho nên cha mẹ nó thường
mua kẹo gửi từ Tokyo đến cho nó. Đến khuya nó mang số kẹo
viện trợ đó vào phòng tôi để hai đứa cùng ăn với nhau.
Thỉnh thoảng một ánh sáng lại lóe lên trong trời đêm đen
kịt.
Tôi
hỏi Tsurukawa tại sao nó lại đến đây trong khi nhà nó giầu
có và cha mẹ nó thương yêu nó như thế.
“Đây
chỉ là một nơi để tao tu hành khổ hạnh, nó giải thích.
“Rồi đây khi tới lúc, tao sẽ thừa kế ngôi chùa của Ba
tao.”
Ít
có cái gì khiến Tsurukawa khổ tâm. Nó hòa mình vào lối sống
ở đây, y như chiếc đũa nằm khít trong ống đũa. Tôi tiếp
tục câu truyện và nói cho Tsurukawa hay từ đây một thời
đại mới và thật khó tưởng tượng, sắp đến với đất
nước chúng ta. Tôi nhớ câu truyện đã nghe mọi người bàn
tán ở trường vài ba ngày sau khi chiến tranh chấm dứt. Đó
là câu truyện về một sĩ quan có nhiệm vụ chỉ huy một
công trường nào đó; ngay sau khi chiến cuộc chấm dứt, người
sĩ quan ấy vừa tự mình đem hàng hóa chất đầy lên một
chiếc xe vận tải rồi lái thẳng về nhà mình, vừa nói chẳng
úp mở gì hết: “Từ nay tôi sẽ đi buôn bán chợ đen”.
Tôi
nghĩ đến người sĩ quan liều lĩnh, tàn bạo, mắt sáng quắc
này, trong lúc anh ta đứng đó, sắp sửa lao đầu dấn thân
vào tội ác. Con đường anh ta sắp sửa lao vào trong đôi giầy
ống ngắn cũng mang bộ mặt chết chóc như là chiến tranh
vậy; nó có vẻ vô trật tự khiến tôi nghĩ đến ánh sáng
đỏ rực lúc bình minh. Khi anh ta lái xe chạy đi, tấm khăn
quàng cổ màu trắng bay lất phất trên ngực, và đôi má chìa
ra trước gió đêm lạnh lẽo hãy còn đang phảng phất trong
buổi sớm tinh sương. Lưng anh ta sẽ cuối gập xuống dưới
sức nặng của những món đồ ăn cắp: anh ta sẽ chạy thục
mạng cho đến lúc mỏi mòn kiệt sức. Nhưng ở phía xa hơn,
nhẹ nhàng hơn, tôi có thể nghe thấy tiếng chuông từ trên
gác chuông ngân nga hỗn độn, vô trật tự.
Tôi
hoàn toàn xa cách những sự việc như thế. Tôi không có tiền
bạc, không có sự tự do, không có giải phóng gì hết. Tuy
nhiên, chắc chắn rằng trong tâm trí một thiếu niên mười
bảy tuổi như tôi, mấy tiếng “một thời đại mới” hàm
chứa một quyết ý theo đuổi một chiều hướng nào đó,
dù cho chưa thành hình rõ rệt.
“Nếu
con người trên thế gian này, ” tôi nghĩ, “sắp sửa nếm
mùi điều ác qua cuộc sống và hành động của họ, lúc đó
mình sẽ đắm mình thực sâu trong nội giới của điều ác.”
Nhưng
cái điều ác mà tôi nghĩ đến cho riêng mình thoạt nhiên
chỉ là dùng mọi cách khéo léo để chinh phục lòng tin yêu
của Lão sư phụ để chiếm lấy Kim Các Tự, hoặc một không
tưởng như đầu độc giết chết Lão sư phụ mà thay thế
ông. Những kế hoạch này của tôi lại còn có thể làm yên
lương tâm tôi, một khi tôi đã biết chắc rằng Tsurukawa không
hề có dã tâm như thế.
“Thế
mày không có băn khoăn hay hy vọng gì riêng cho tương lai hay
sao?” tôi hỏi nó.
“Không,
chẳng hề có hy vọng hoặc băn khoăn gì hết. Nếu có thì
tao đã được cái gì nào?”
Chẳng
có điều gì hắc ám trong câu trả lời của nó mà cũng không
phải là nó trả lời bừa bãi. Vào đúng lúc ấy một tia
chớp lóe sáng cặp lông mày nhỏ dài hơi cong của nó, bộ
phận tiêm tế duy nhất trên toàn thể khuôn mặt nó. Hiển
nhiên Tsurukawa đã để cho người thợ hớt tóc tự ý cáo
phần đầu và phần đuôi lông mày của mình; vì thế cặp
lông mày của nó vốn đã nhỏ càng nhỏ hơn, và mình có thể
nhìn thấy vết xanh mờ ở hai đầu chỗ lưỡi dao cạo đã
cạo lướt.
Khi
liếc nhìn vệt xanh này, tôi có một cảm giác bất an. Thằng
thiếu niên ngồi trước mặt tôi chói rực ở cái cực thuần
khiết của cuộc đời. Nó khác hẳn tôi. Tương lai của nó
được giấu kín đến nỗi đang bừng cháy. Cái nhị đèn
thắp sáng trong tương lai nó đang nổi bồng bềnh trong chất
dầu trong vắt, mát lạnh. Có ai lại ở cõi đời này lại
thấy trước được sự trong trắng không gợn chút nhơ của
chính mình? Giả như sự ngây thơ và tinh khiết còn mãi với
người đó trong tương lai.
Tối
đó sau khi Tsurukawa đã trở về phòng, tôi không sao ngủ được
vì trời cuối hạ nóng quá. Ngoài ra còn sự cố ý chống
lại thói thủ dâm cũng làm cho tôi mất ngủ…
Đôi
khi tôi cũng bị mộng tinh. Việc này không liên hệ đến hình
ảnh sắc dục nào hết, chẳng hạn, một con chó mực đang
chạy xuống một đường phố tối om: tôi có thể nhìn thấy
hơi thở hổn hển, nóng hổi từ mỏm nó toát ra, và sự kích
thích trong tôi gia tăng theo tiếng vang của cái nhạc trên cổ
nó; thế rồi, khi tiếng nhạc đạt tới cực độ thì tinh
khí của tôi liền bắn vọt ra ngoài.
Khi
tôi thủ dâm, tâm trí tôi thường chứa đầy huyễn tượng
của địa ngục; tôi thấy bầu vú của Uiko, rồi cặp đùi
nàng hiện ra trước mắt. Và trong lúc ấy tôi trở thành một
thứ côn trùng vô cùng nhỏ bé, vô cùng xấu xí.
Tôi
nhảy ra khỏi giường rồi len theo cửa hậu của tiểu thư
viện mà đi ra ngoài. Sau Lộc Uyển tự và phía đông Tịch
Giai đình ngọn núi là Bất Động Sơn đứng sừng sững. Những
cây xích tùng bao phủ ngọn núi và giữa những đám cỏ gianh
mọc đầy quanh các gốc cây, chen lộn những cây trịch trục,
cây quán mộc và nhiều thứ cây tương tự. Đã quá quen thuộc
với những ngọn núi này nên giữa đêm tôi có thể mò đường
leo lên mà không hề vấp váp gì hết. Leo lên đỉnh núi người
ta có thể thấy miền Thượng Kyoto và Trung Kyoto cùng ngọn
Duệ Sơn và Đại Văn Tự Sơn ở phía xa hơn.
Tôi
leo lên dốc núi giữa những tiếng chim nháo nhác vỗ cánh
vì sợ hãi; tôi không nhìn sang bên và cố tránh những những
gốc cây đã bị đốn. Tôi cảm thấy nhờ bấu víu, leo trèo
như thế đầu óc không nghĩ gì mà bỗng nhiên tôi khỏi được
bệnh. Khi leo lên đến đỉnh núi, một làn gió lạnh ban đêm
thổi tới lùa vào thân mình: tôi đang ướt đẫm mồ hôi.
Quang
cảnh trước mắt làm tôi ngạc nhiên nghi ngờ chính cả mắt
mình. Từ lâu rồi người ta đã bãi bỏ hạn chế đèn lửa
trong thị xã Kyoto và bây giờ ánh đèn trải dài đến tít
phía xa như một biển ánh sáng. Quang canh này đối với tôi
hầu như một phép lạ, vì kể từ khi chiến tranh chấm dứt
tôi chưa một lần nào tới chỗ này về ban đêm cả.
Những
ngọn đèn điện tạo thành một lập thể. Những ngọn đèn
ấy rải rác khắp một bình diện rộng rãi làm người ta
mất hết cảm giác ở gần hoặc ở xa; trước mặt tôi dường
như có một tòa đại kiến trúc trong suốt mắc đầy đèn
điện đang nhô lên trong đêm tối, như đang trải rộng những
dực lâu thành những ăng ten phức tạp. Có như thế mới đáng
gọi là nơi đô thị. Chỉ có khu rừng quanh hoàng cung là không
có ánh đèn và trông giống như một động lớn đen ngòm.
Thỉnh thoảng từ hướng núi Duệ Sơn lại có một tia chớp
lóe lên trên bầu trời đêm đen tối.
Tôi
nghĩ: “Đây là cuộc đời trần tục. Bây giờ chiến tranh
đã chấm dứt người người đang bị những tư tưởng tà
ác thôi thúc lăng quăng chen chúc dưới những ngọn đèn này.
Biết bao đôi trai gái đang đắm đuối nhìn mặt nhau dưới
những ngọn đèn này, và mùi của cái hành vi giống như cái
chết vốn đã trực tiếp thúc bách họ đang bốc lên dưới
mũi họ. Khi nghĩ rằng những ngọn đèn điện nhiều vô số
này đều là những ngọn đèn của tà ác, lòng tôi thấy được
an ủi. Xin để cho điều tà ác đang nằm trong lòng tôi nảy
nở thực nhiều, nẩy nở mãi mãi để nó có thể tương ứng
hoàn toàn với làn ánh sáng của những ngọn đèn trước mắt
tôi kìa! Xin để cho sự đen tối đang bao phủ tim tôi được
ngang hàng với sự đen tối của đêm hôm đang bao phủ những
ngọn đèn nhiều vô số kể kia!”
Càng
ngày số lai khách tới vãn cảnh Kim Các Tự càng gia tăng.
Lão sư phụ đã làm đơn xin và đã được phép tăng giá tiền
vào cửa để theo kịp lạm phát.
Cho
đến bây giờ những lại khách lẻ tẻ mà tôi đã thấy là
những người bình dân chất phác mặc những bộ quân phục,
quần áo làm việc rộng thùng thình. Nhưng bây giờ Quân đội
Chiếm đóng đã tới, và chẳng bao lâu phong tục dâm đãng
của thế giới trần tục bắt đầu tràn lan quanh Kim Các Tự.
Tuy nhiên, không phải chỉ có những đổi thay theo chiều hướng
xấu xa, vì lẽ người ta đã làm sống lại những tập quán
hiến trà và bây giờ những đàn bà con gái đến vãn cảnh
chùa đều mặc những chiếc áo xiêm hoa mỹ mà họ đã phải
cất giấu trong thời chiến. Lũ chúng tôi trong các bộ tăng
y nâu sồng trông tương phản với họ thực là rõ rệt; thật
thế chúng tôi như đang đóng vai trò tăng lữ để mua vui,
hoặc như thể chúng tôi là cư dân của một địa phương
nào đó đã khởi công cố giữ phong tục xưa cũ lạ kỳ để
làm đẹp lòng những người khách đến ngoạn cảnh và quan
sát. Bọn lính Mỹ thường chẳng giữ gìn gì: chúng thường
vén phăng tay áo cà sa của chúng tôi lên mà cười. Đôi khi
chúng xuất tiền để chúng tôi cho chúng mượn áo cà sa mà
mặc vào để chụp ảnh kỹ niệm. Những việc như vậy thường
xảy ra khi Tsurukawa hoặc chúng tôi được lôi ra sử dụng
cái tiếng Anh lõm bõm của mình với du khách ngoại quốc mà
thay thế người đưa đường thường nhật vốn không biết
một tí tiếng Anh nào cả.
Đó
là mùa đông đầu tiên sau chiến tranh. Vào buổi tối thứ
sáu tuyết bắt đầu rơi và tiếp tục rơi suốt thứ bảy.
Buổi sáng lúc đang ở trường tôi đã trông chờ được trở
về vào giữa trưa để ngắm Kim Các Tự dưới làn tuyết
trắng.
Đến
chiều tuyết vẫn còn rơi. Tôi rời con đường mà khách vãn
cảnh thường đi; và chân đi ủng cao su, vai đeo cặp sách
lủng lẳng tôi ra tận bờ ao Kính Triều. Tuyết đang rơi nhanh
một cách lạ kỳ. Lúc còn nhỏ tuổi, tôi thường ngẫng đầu
ngữa mặt lên nhìn tuyết trong khi miệng thì há hốc. Bây
giờ tôi cũng làm như thế, bông tuyết chạm vào răng tôi
thành tiếng động như thể đang đập vào một tấm lá thiếc
mỏng dính. Tôi cảm thấy tuyết đang tung rắc khắp khẩu
xoang âm ấm của tôi và đang tan ra khi chạm tới màng thịt
đo đỏ. Vào lúc ấy tôi tưởng tượng cái miệng con chim
phượng hoàng trên nóc Cứu Cánh đính. Cái miệng nhẵn nhụi,
nóng bỏng của con chim sắc vàng kỳ quái ấy.
Tuyết
rơi làm cho tất cả chúng tôi cảm thấy trẻ lại. Và đâu
phải hoàn toàn sai sự thật khi nói rằng tôi, một thằng
chưa tới mười tám tuổi tròn, hiện đang cảm thấy dấy
lên trong mình một vài rung động tuổi trẻ.
Kim
Các Tự đẹp không gì sánh kịp khi bốn bề có tuyết trắng
bao quanh. Với những bông tuyết thổi hắt vào bên trong, với
những hàng cột mảnh mai đứng san sát bên nhau, tòa kiên trúc
đứng phơi da thịt trắng nõn mát tươi trong lớp tuyết.
“Tại
sao tuyết lại không nói lắp?” Tôi tự hỏi. Thỉnh thoảng,
khi vướng vào lá cây bát thủ, tuyết thường thường rơi
xuống đất như thể là thực sự nói lắp. Nhưng khi thấy
chính mình tắm trong tuyết từ trên trời nhẹ nhàng rơi xuống
đất không ngừng, tôi quên bẵng những niềm khuất khúc trong
lòng, và dường như tinh thần tôi quay về với một nhịp
rung động nhẹ nhàng nào đó, như thể tôi đang đắm mình
trong âm nhạc. Sự thực vì có tuyết mà cái Kim Các Tự lập
thể đã trở nên Kim Các Tự bình diện, một Kim Các Tự nằm
trong tranh, không còn gạt bỏ bất cứ cái gì ở bên ngoài
nữa. Những cành khô lá đỏ ở hai bên bờ không còn đủ
sức hứng tuyết nữa. Và rừng cây trông trần trụi hơn thường
lệ. Đó đây tuyết chất thành đống thực đẹp mắt trên
những cây tùng. Tuyết còn trải dày trên mặt ao băng giá;
nhưng lạ kỳ thay, có những chỗ tại mặt ao chồng chất
bừa bãi từng mảng lớn trắng xóa trông giống các đám mây
trong một hình vẽ trang sức thì đỉnh Cửu Sơn Bát Hải và
đảo Đam Lộ nối liền với tuyết trên mặt ao giá băng,
những cây thông nhỏ mọc ở đó trông thật như thể chúng
đã ngẫu nhiên nhô nẩy lên từ giữa cánh đồng băng tuyết.
Mái Cứu Cánh đỉnh và Triều Âm động cùng mái nhỏ của
Thấu Thanh - phần có người ở trong Kim Các Tự - cả ba bộ
phận đó trắng xóa lạ kỳ. Phần còn lại không có người
ở thì tối om, dường như có cái gì tươi mát trong cái sắc
đen của tòa nhà kiến trúc bằng gỗ tăm, phức tạp này nổi
bật trên tuyết trắng. Cũng như khi người ta nhìn một bức
tranh của Họa phái phương Nam vẽ một lâu đài ẩn mình giữa
những trái núi và áp mặt vào tấm phông mà nhìn xem có thể
nào có người đang sống ở bên trong hay không, cái màu gỗ
cổ xưa đen bóng cũng khiến tôi cảm thấy muốn ghé sát mặt
mà dòm xem trong Kim Các Tự có người ở hay không. Nhưng dù
có áp mặt lại gần hơn, tôi cũng chỉ đụng đầu vào bức
tranh lụa giá lạnh của băng tuyết mà thôi.
Cả
hôm nay nữa, các cửa Cứu Cánh đính cũng mở toang hướng
ra bầu trời đầy tuyết. Khi ngước nhìn lên tôi đưa mắt
theo dõi những bông tuyết đang rơi đã tung bay trong khoảng
không gian nhỏ hẹp, nơi không có chút gì thuộc về Cứu Cánh
đính, rồi xem những bông tuyết ấy đã đậu trên những
phiến hoàng kim cũ kỹ, han rỉ tên mặt tường ra làm sao và
rồi vương tụm lại đó cho đến khi kết thành những giọt
sương nho nhỏ vàng óng.
Hôm
sau là chủ nhật. Buổi sáng người dẫn đường già nua đến
gọi tôi. Hiển nhiên một người lính ngoại quốc đã tới
để vãn cảnh chùa trước giờ mở cửa thường lệ. Người
dẫn đường đã giơ tay làm dấu hiệu bảo người lính này
đứng chờ để ông ta đi gọi người biết tiếng Anh đến,
và tới gọi tôi. Kể cũng khá lạ, tôi lại khá tiếng Anh
hơn Tsurukawa và khi nói tiếng Anh thì tôi lại chẳng hề lắp
bắp.
Một
chiếc xe Jeep đang đậu trước huyền quan. Một người lính
Mỹ say mềm đang đứng dựa vào một cây cột. Khi trông thấy
tôi, người ấy cuối xuống nhìn và mỉm cười khinh miệt.
Tiền
đình trắng xóa vì tuyết mới rơi. Nổi bật trên bối cảnh
trắng toát này, khuôn mặt người lính trẻ tuổi, hằn lên
những múi thịt, đứng phà ra những hơi rượu trắng xóa
đầy mùi uýt-ki về phía tôi. Như thường lệ, tôi cảm thấy
khó chịu khi cố gắng tưởng tượng những tình cảm đang
sôi động bên trong một con người tầm vóc khác tôi kinh khủng
đến thế.
Đã
có thói quen không phản kháng người khác, tôi liền bằng
lòng dẫn anh ta quanh chùa, dù chưa đến giờ mở cửa. Tôi
hỏi tiền vào cửa và tiền cho người đi đường. Tôi thật
ngạc nhiên khi thấy tên lính to lớn say mèm không hề có ý
gì thắc mắc. Rồi anh ta nhìn vào chiếc xe Jeep và nói điều
gì có ý “Đi ra!”
Vì
tuyết trắng phản ánh nên đến lúc ấy tôi vẫn chưa nhìn
được cái gì bên trong chiếc xe Jeep tối om, nhưng bây giờ
tôi nhận ra có cái gì trăng trắng đang động đậy sau tấm
kính phía mũi xe. Tôi cảm thấy dường như có một con thỏ
đang loay hoay trong đó.
Một
bàn chân trong chiếc giầy cao gót nhỏ nhắn thò ra trên cái
bực đặt chân của chiếc xe Jeep. Tôi lấy làm lạ mặc dù
trời lạnh lẽo như thế mà bàn chân đó vẫn không đi bí
tất. Mới nhìn tôi đã nhận biết ngay người con gái đó
là một con hát cặp kè với bọn lính ngoại quốc; vì lẽ
nàng mặc một áo choàng màu đỏ chói, móng tay móng chân cũng
bôi màu đỏ chót như vậy. Khi phần dưới tấm áo choàng
mở tung ra, tôi nhận thấy bên dưới nàng mặc một chiếc
áo ngủ, bẩn thỉu bằng vải khăn tắm. Cả người nàng cũng
say sưa bét nhè, mắt đứng tròng đờ đẫn. Người đàn ông
thì chững chạc trong bộ quân phục, nhưng người đàn bà
thì chỉ khoác vội tấm áo choàng và chiếc khăn quàng cổ
lên chiếc áo ngủ, hiển nhiên vừa mới rời khỏi giường
ngủ.
Phản
chiếu ánh tuyết, khuôn mặt người con gái xanh xao khủng khiếp.
Trên làn da xanh trắng, nhợt nhạt, thiếu máu, chất son tô
môi đỏ chót nổi bật thực là khó coi. Vừa đặt chân xuống
đất, nằng hắt hơi soàn soạt; những đường nhăn nheo nho
nhỏ tụ lại trên cái sống mũi nhỏ nhắn, và nàng đưa cặp
mắt mệt mỏi, đờ đẫn nhìn về đàng xa trông chốc lát,
rồi sau đó lại đắm chìm trở lại trong ánh mắt sâu thẳm
nặng chĩu. Rồi nàng gọi tên người đàn ông.
“Dzách,
Dzách!” nàng nói.”Tsù kòrudo, tsù kòrudo!”[1]
Tiếng
người con gái buồn bã lạc lõng qua làn tuyết khi kêu lạnh.
Người đàn ông không trả lời.
Đây
là lần đầu tiên tôi gặp một người đàn bà buôn phấn
bán hương mà đẹp thật sự không phải trông nàng giống
Uiko. Nàng giống một bức chân dung đã được vẽ cẩn thận
để cho khỏi giống Uiko ở bất kỳ một nét nào. Người
con gái này có một vẻ đẹp tươi mát, mời mọc, thách thức
đường như để phản kháng cái ký ức của tôi về Uiko.
Và có một cái gì phỉnh phờ trong sự phản kháng này chống
lại những cảm giác ấy của tôi về xác thịt, vốn là hậu
quả của chính kinh nghiệm đầu tiên trên đời của tôi về
cái đẹp.
Nàng
chỉ có mỗi một điểm giống với Uiko; đó là nàng không
thèm đưa mắt nhìn tôi láy một cái trong khi tôi đứng đó.
Tôi đã cởi bỏ tăng y trong chùa và đang mặc một áo len
bẩn thỉu, chân đi đôi ủng cao su.
Ngay
từ sáng sớm mọi người đã đi ra ngoài cả để xúc tuyết
đổ đi, tuy nhiên mới chỉ vừa quét dọn xong lối đi dành
cho khách vãn cảnh. Cho đến lúc này nếu có một đoàn thể
nào tới, có lẽ cũng khốn; tuy vậy cũng có đủ chỗ cho
một nhóm nhỏ đi theo từng hàng một. Tôi đi lên trước người
lính Mỹ và người con gái.
Khi
đi tới bờ ao và thấy quang cảnh trước mắt thì hắn giơ
hai tay cao lên trời tỏ sự vui thích bằng cách lớn giọng
hét những tiếng tôi không hiểu ý nghĩa là gì cả. Thế rồi
hắn ôm ghì lấy thân mình người còn gái mà lắc lắc thực
cuồng bạo. Người con gái chau mày và chỉ nhắc đi nhắc
lại: “Ô, Dzách! tsù kòrudo!”
Người
Mỹ hỏi tôi về cây thanh mộc (aoki) đỏ thắm, tốt tươi
mà người ta có thể nhìn thấy ở sau các lùm lá chất nặng
tuyết trắng, nhưng tôi chẳng tìm ra được điều gì khác
nên chỉ nói “aoki”. Có lẽ bên trong cái thân cái thân mình
khổng lồ của hắn có một thi nhân trữ tình, tuy nhiên trong
cặp mắt xanh và trong của hắn tôi cảm thấy có cái gì tàn
ác. Bài đồng dao Tây phương “Mẹ Ngỗng” bảo những cặp
mắt đen có vẻ tàn ác và tinh ma; sự thực khi tưởng tượng
ra sự tàn ác con người thường có thói quen gán cho nó một
cái gì của người khác.
Tôi
bắt đầu dẫn giải về Kim Các Tự theo khuôn mẫu thông thường
của người dẫn đường. Người lính vẫn còn say mèm và
bước chân ngã nghiêng không vững. Với những ngón tay lạnh
cóng tôi rút từ trong túi ra một quyển sách dẫn giải bằng
tiếng Anh mà tôi thường đọc và những dịp như thế này.
Nhưng tên lính Mỹ chộp phăng lấy quyển sách tôi đang cầm
rồi bắt đầu ê a đọc bằng một giọng hài hước. Tôi
nhận thấy mình không cần dẫn giải gì nữa.
Tôi
dựa lưng vào lan can Pháp Thủy viện và đưa mắt nhìn cái
mặt ao sáng loáng lạ kỳ. Chưa bao giờ bên trong Kim Các Tự
lại được chiếu sáng đến thế này - sáng chói đến nỗi
làm người ta khó chịu.
Khi
ngước lên tôi nhận thấy người đàn ông và người đàn
bà đã bắt đầu cãi nhau trong lúc cả hai đang đi về phía
Thấu Thanh. Cuộc cải vã mỗi lúc một thêm dữ dội; tuy nhiên,
tôi chẳng nghe rõ được một tiếng nào. Người con gái trả
lời cái gì đó bằng một giọng gắt gỏng; tôi chẳng rõ
là nàng đang nói tiếng Anh hay tiếng Nhật nữa. Hai người
vừa quay trở lại Pháp Thủy viện vừa cải nhau. Dường như
họ đã quên phứt là có tôi ở đó.
Tên
lính Mỹ vênh mặt nhìn người con gái và bắt đầu chửi
mắng. Nàng lấy hết sức mà tát vào mặt hắn, rồi chạy
quay đầu về phía con đường khách vãn cảnh ra vào, chân
vẫn trong đôi giầy cao gót. Tôi chẳng hiểu cái gì đã xảy
ra, nhưng cũng đi xuống Kim Các Tự rồi bắt đầu chạy dọc
theo bờ ao. Khi tôi xuống chỗ người con gái thì tên lính
Mỹ dài cẳng cũng đã đuổi bắt được nàng và đang nắm
chặt vạt trước tấm áo choàng màu đỏ của nàng.
Trong
lúc đứng đó và giữ chặt lấy nàng, người thanh niên đưa
mắt nhìn tôi. Hắn buông tay khỏi vạt trước tấm áo choàng
đỏ rực. Trong cái bàn tay ấy của hắn chắc hẳn phải có
một sức mạnh không phải là tầm thường, vì khi hắn buông
tay thì người con gái liền từ từ ngả người ra đằng sau
và nằm lăn trên tuyết. Phần dưới tấm áo choàng hở tung
và cặp đùi trần trụi trắng nõn của nàng duỗi thẳng trên
mặt tuyết.
Người
con gái cũng không nhỏm dậy nữa, từ chỗ mình nằm nàng
dương mắt nhìn thẳng vào mắt tên khổng lồ cao lênh khênh
đang đứng sừng sững phía trên mình. Tôi chẳng thể không
quỳ xuống đỡ nàng đứng dậy. Khi tôi sắp sửa làm như
thế, tên lính Mỹ quát to: “Hầy”. Tôi quay ngoát lại. Hắn
đứng đó xoạc hai chân giạng hắn ngất ngưỡng trên đầu
tôi. Hắn giơ ngón tay ra hiệu. Thế rồi hoàn toàn đổi giọng
- một giọng nói ấm áp, dịu dàng - hắn nói bằng tiếng
Anh: “Giẫm chân lên mình nó! Giẫm chân lên người nó đi!”
Tôi
không hiểu hắn định nói gì. Nhưng cặp mắt xanh của hắn
từ trên cao nhìn xuống tôi có vẻ sai khiến. Đằng sau đôi
vai dài rộng của hắn, tôi có thể nhìn thấy Kim Các Tự
tuyết phủ đầy đang lấp lánh dưới bầu trời màu đông
xanh đều tẻ nhạt. Trong cặp mắt xanh của hắn không hề
có một vẻ gì tàn ác. Tôi không hiểu tại sao, nhưng vào
lúc ấy tôi cảm thấy đôi mắt hắn trông trữ tình hết
sức.
Hắn
hạ bàn tay to lớn xuống, nắm lấy cổ áo tôi và dựng tôi
đứng lên. Tuy nhiên cái giọng hắn sai khiến tôi vẫn còn
ấm áp dịu dàng.
“Giẫm
chân lên người nó!” hắn nói. “Mày phải giẫm chân lên
mình nó.”
Chẳng
thể cưỡng lại, tôi giơ chân đi đôi giày cao cổ lên. Tên
Mỹ vỗ vào vai tôi. Tôi buông chân xuống và giẫm lên một
cái gì mềm mại như chất bùn mùa Xuân. Đó là bụng người
con gái. Nàng nhắm mắt lại và rên rỉ.
“Giẫm
chân lên mình nó! Cứ tiếp tục như thế nữa!”
Tôi
hạ thấp bàn chân mình lên cô gái, cảm giác khó chịu lúc
mới đạp chân lên mình nàng giờ đây đã trở thành một
niềm vui rào rạt. “Đây là bụng một người đàn bà, ”
tôi nghĩ. “Đây là ngực nàng.” Tôi chưa bao giờ tưởng
tượng làn da thịt người khác lại có thể đáp ứng bàn
chân mình giống hệt một quả bóng da với sức co dãn trọn
vẹn đến như thế.
“Thôi
đủ rồi, ” tên Mỹ nói rành rọt. Đoạn hắn trịnh trọng
ôm lấy thân mình người con gái mà dựng dậy, lau sạch bùn
và tuyết bám trên quần áo nàng và dìu nàng ra xe Jeep; hắn
để người con gái leo lên trước. Mùi rượu uýt-ki đường
như đã tan hết; tên Mỹ quay về phía tôi và trịnh trọng
nói bằng tiếng Anh “Thank you.” Hắn tỏ ý muốn cho tôi
ít tiền, song tôi từ chối. Sau đó hắn lấy từ dưới ghế
ngồi trong xe hai tút thuốc lá Mỹ và nắm chặt cổ tay mà
ép tôi cầm lấy.
Hai
má nóng bừng, tôi đứng trước huyền quan, trong ánh tuyết
phản chiếu chói rực. Chiếc xe Jeep chồm chồm lăn bánh về
phía xa vung lên một đám mây tuyết rồi biến khỏi tầm mắt.
Toàn thân tôi run lên vì kích động.
Khi
sự kích động đã lắng dịu, tôi nghĩ đến một mưu kế
để tôi có thể giả vờ tốt lành một cách vui thích. Lão
sư phụ thích thuốc lá. Ông sẽ hết sức vui lòng khi nhận
được món quà biếu này! Chẳng hay biết gì hết.
Tôi
chẳng cần phải kể lể cho ai rõ tí gì về việc đã xẩy
ra. Tôi chỉ hành động như vậy bởi vì tôi bị sai khiến
và bó buộc phải hành động như thế.
Nếu
như tôi phản kháng lại thì không biết tự thân tôi sẽ phải
gánh chịu điều tai họa gì?
Tôi
đi tới phòng Lão sư phụ trong Đại Thư Viện. Viên Phó ti
đang cạo đầu cho ông; Phó ti là người rất khéo tay. Tôi
đứng đợi ở ven hành lang chỗ mặt trời buổi sáng đang
chiếu chói chang. Ngoài vườn tuyết chất thành đống trên
các bụi chu tùng và óng ánh thật đẹp mắt, trông giống
hệt cánh buồm mới tinh gấp lại.
Lão
sư phụ nhắm kín hai mắt khi cạo đầu. Hai tay ông cầm một
mảnh giấy để đựng tóc từ trên đầu rơi xuống. Viên
Phó ti càng cạo thì cái vòng ngoài tươi mới, đầy nhựa
sống của cái đầu Lão sư phụ càng lộ rõ ra. Khi đã cạo
xong viên Phó ti lấy cái khăn mặt nóng phủ kín đầu Lão
sư phụ lại. Sau một lúc viên Phó ti lôi cái khăn ra, một
cái đầu mới tinh, bóng lộn hiện ra trông như thể mới bị
luộc chín.
Tôi
khó nhọc lắm mới nói được ra lời và cúi đầu dâng hai
tút thuốc lá Chesterfkelds.
“Hô
hô, ” Lão sư phụ nói. “Khó nhọc cho con quá nhỉ.”
Ông
thoảng mỉm cười và nụ cười dường như chỉ thoáng qua
ngoài mặt. Chỉ có thế. Rồi thì với dáng điệu như đang
làm việc, Lão sư phụ cầm hai tút thuốc lá và quăng trên
mặt bàn giấy đang đầy ắp giấy tờ và thư tín đủ mọi
loại. Lúc viên Phó ti bắt đầu thoa bóp vai ông. Lão sư phụ
một lần nữa lại nhắm nghiền đôi mắt.
Tôi
chẳng biết làm gì hơn là lui bước. Toàn thân tôi nóng ran
vì bất mãn. Cái hành vi độc ác không thể nói rõ của tôi,
rồi những tút thuốc lá người ta cho tôi để mà khen thưởng,
Lão sư phụ nhận mà chẳng hề biết tại sao tôi lại có
được - tất cả những cái này lại càng làm cho câu truyện
thêm phần bông đùa mà đau xót. Một người như Lão sư phụ
làm lại hoàn toàn mù tịt về những việc xẩy ra cho tôi
một lý do quan trọng để khinh miệt ông.
Vào
đúng lúc tôi sắp sửa lui bước thì Lão sư phụ bảo tôi
nán lại. Ông bảo tôi nán lại đó để ông ban cho một ân
huệ.
“Này,
con nghe đây!” Ông nói. Thầy định cho con lên đại học
Otani sau khi con tốt nghiệp trung học. Bây giờ con phải chăm
chỉ học hành, con ạ, để đoạt thành tích tốt đẹp khi
ghi tên vào đại học. Đó hẳn là điều ba con lúc sinh thời
hằng lo lắng và mong ước.”
Tin
này tức khắc được ông chấp sự truyền miệng khắp chùa.
Việc một chú tiểu được Lão sư phụ để ý muốn cho vào
đại học đủ chứng tỏ chú tiểu đó phải có nhiều triển
vọng lắm. Ngày xưa đồ đệ phải lên phòng sư phụ trụ
trì mà đấm bóp trong hàng trăm đêm liền chỉ với hy vọng
được ông cho lên đại học, và trong nhiều trường hợp
những ước vọng này cũng thành sự thực. Tsurukawa đang chờ
gia đình cho tiền để lên ăn học tại đại học Otani, hí
hửng vỗ vai tôi khi hay tin. Tuy vậy, một chú tiểu khác trong
bọn chẳng được Lão sư phụ nhắc nhở gì đến truyện
cho vào đại học chẳng thèm hé miệng nói với tôi một lời
sau khi nghe tin này.
Hết
phần 3
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
It’s cold, It’s cold. Lạnh quá, lạnh quá.