B.GIẢNG
GIẢI
III-
KỆ KIẾN TÁNH
(Ðoạn
2)
Pháp
tánh vốn tùy duyên, sắc không đều chẳng ngại. Vào sông
thì tùy khúc uốn quanh; nước thì thuận theo vật vuông tròn.
Như hạt châu ma-ni, ánh hiện ra năm màu, tùy loại đều hiện,
trọn chẳng biến đổi. Dù không hình tướng mà hay hiện
thành tất cả tướng, chân không mà diệu hữu, bất biến
mà tùy duyên. Chân không là ban đầu của tánh, diệu hữu
là ban đầu của khí. Nên biết, núi sông, quả đất, sum la
vạn tượng, tình với vô tình, cho đến niệm thô, niệm tế,
pháp nhiễm, pháp tịnh, không một vật, một trần nào ra ngoài
tâm vương. Ðây là diệu hữu.
Ðoạn
này Ngài giải thích về pháp tánh tùy duyên.
Chúng ta suy gẫm câu tùy duyên mà bất biến để hiểu sâu
thêm phần này. Ðây nói pháp tánh vốn tùy duyên, nên nó hiện
ra hình tướng mà sắc và không đều chẳng ngại nhau. Sắc
là hình tướng, không là chỉ cho thể tánh, hai cái đó nó
không ngại nhau. Pháp tánh ví như nước, nước ở sông thì
tùy theo con sông mà ngay thẳng hay quanh co. Nước ở bình chai,
tô chén tùy theo bình chai, tô chén mà vuông hay tròn, không
nhất định. Như vậy thể của nước thì bất động, tùy
theo duyên mà nước quanh co hay vuông tròn. Lại ví như hạt
châu ma-ni vốn trong sáng, nhưng ở bên ngoài óng ánh màu đỏ,
màu xanh, màu vàng... thì hạt châu ẩn hiện màu đó. Như vậy
hạt châu không có màu, do bên ngoài có màu gì thì thấy hạt
châu hiện màu ấy. Hạt châu trong sáng là bất biến chỉ
cho pháp tánh, hạt châu có màu là tùy duyên biến đổi. Qua
những ví dụ trên ngài Chân Nguyên muốn chỉ cho chúng ta pháp
tánh sẵn có nơi mọi
người, nhưng nó tùy duyên, ở mắt thì duyên theo sắc, ở
tai thì duyên theo tiếng, ở mũi thì duyên theo mùi... Bởi nó
tùy theo sáu căn duyên với sáu trần mà có muôn hình vạn
trạng, có nhiều thứ chuyển biến tốt xấu thương ghét đủ
thứ. Nguyên pháp tánh thì không có một thứ nên nói là chân
không, nhưng tùy duyên thì có đầy đủ muôn sự muôn vật.
Thểbấtbiếnthìkhôngđổi
mà tùy duyên nên có khác. Do đó Ngài nói chân không là ban
đầu của tánh, diệu hữu là ban đầu của khí. Chân
không diệu hữu là lý của nhà Phật, chân không là cái thể
không tướng mạo bất di bất dịch không đổi thay. Nhưng
khi nó theo duyên
biến hiện đủ thứ thì gọi là diệu hữu. Ở đây Ngài
lấy tinh thần của Lão Trang để phối hợp với ý nghĩa chân
không diệu hữu của nhà Phật. Theo tinh thần của Lão Trang
nói về tánh và khí thì, cái tánh của Lão Trang ví như cái
chân không của nhà Phật, cái khí của Lão Trang ví như diệu
hữu của nhà Phật.
Sau
đây tôi dẫn một đoạn trong sách Trang Tử để rõ cái ý
nghĩa đó. Về Trang Tử Tri Bắc Du có một đoạn viết: "Nhân
chi sinh, khí chi tựu giả, tựu tắc vi sinh, tán tắc vi tử.
Nhược tử sinh vi đồ, ngô nhược hà hoạn". Dịch: "Sự sống
của con người do khí tựu mà có. Khí tựu thì sống, khí
tan thì chết. Nếu sống chết là đôi bạn đồng hành thì
ta còn bận tâm làm chi?". Như vậy chữ khí chỉ cho sự sanh,
khí tựu thì sanh, khí tan thì diệt, sự sống chết tùy theo
khí tựu và tán, giống như bên nhà Phật nói diệu hữu. Diệu
hữu là tùy theo duyên, đủ duyên thì thành sự vật, thiếu
duyên thì không.
Lại
một đoạn của Hoài Nam Tử - Bản Kinh Huấn viết: "Thiên
địa chi hòa hợp, âm dương chi đào hóa, vạn vật giai thạnh
nhất khí dã". Dịch: "Sự hòa hợp của trời đất, sự đào
luyệnbiếnhóacủaâm
dương, đối với vạn vật đều nhờ vào nhất khí". Như
vậy khí là sự tụ tán mà thành thiên hình vạn trạng, cho
nên ngài Chân Nguyên dùng chữ tánh và khí của Lão Trang để
phối hợp với cái chân không và diệu hữu của nhà Phật.
Ngài nói thêm rằng từ vạn vật hữu tình vô tình trên thế
gian này cho đến các tâm niệm thô tế đều không ra ngoài
tâm vương, tức là ngoài cái tánh giác hay cái chân không.
Từ cái chân không theo duyên mà hiện có đủ thứ gọi đó
là diệu hữu. Ðó là ý nghĩa chân không diệu hữu theo cái
nhìn của ngài Chân Nguyên.
Lại
nói: - Chẳng phải không, chẳng phải sắc, ứng hóa thành
muôn thứ mà chẳng lìa một chân thật. Tâm vương là thể
như như, trong lặng thường trụ; vốn tự viên thành, dường
như hư không; ứng vật hiện hình, như trăng trong nước. Nghĩa
là tâm vương hay ứng hiện vào trong các loài, nên nói là
thức hòa hợp. Bản tánh tâm vươngnhưgươngtrònlớnhiệncác
thứhìnhsắc.
Tâm vươngvốnkhônghình
tướng, tuykhông
hình tướng mà hay hiện thành tất cả các tướng, nhưng lại
chẳng nhiễm tất
cả các tướng. Tướng đến thì hiện, tướng đi thì mất,
tướng tụ thì có, tướng tan thì không; tướng tuy có đến
đi, tụ tan mà tâm vương vốn tựtrongtrẻothườnglặnglẽ. Như
gương tròn lớn hay hiện tất cả vật, tuy
hay hiện tất cả vật mà chẳng nhiễm tất cả vật;
vật đến thì hiện, vật đi thì mất, vật có đến
đi hiện mất, nhưng gương vốn tự sẵn vậy chẳng
động. Vì vậy đem gương tròn dụ tâm vương. Song tâm
vương chẳng nhiễm các vật, xưa nay thanh tịnh, trong lặng
thường trụ, sạch trọi trơn, bày trơ trơ, không một vật,
không thể nắm bắt. Nên nói pháp thân thanh tịnh tức là
tánh của mọi người, báo thân viên mãn tức là trí của
mọi người, hóa thân ngàn trăm ức tức là hạnh của mọi
người.
Ðoạn
này Ngài giải thích thêm về tâm vương. Ba tên chân không,
tâm vương, pháp thân tuy khác, nhưng đều chỉ cho cái thể,
đều là một gốc. Cho nên gọi tâm vương, chân không, pháp
thân gì cũng được. Bởi đứng về mặt tâm thì nói tâm
vương tâm sở. Tâm vương là tâm thể không sanh diệt, còn
tâm sở là tâm duyên theo cảnh phân biệt nên nó sanh diệt.
Ðứng về mặt thân thì gọi là pháp thân. Vì cái thân tứ
đại của chúng ta là cái thân hiện tượng có đi lại, có
nói năng, hoạt động, cái thân đó không phải là cái thân
bất sanh bất diệt. Như vậy thân của chúng ta là cái thân
theo nghiệp báo mà có chớ
không phải là pháp thân. Pháp thân thì không hình tướng,
nhưng bất sanh bất diệt nên gọi là pháp thân. Gọi là chân
không là vì pháp thân này không có hình tướng, không một
vật, một pháp mà người thế gian có thể thấy nghe nắm
bắt được, tuy nhiên không tướng nhưng mà hằng hữu. Tóm
lại, chân không, pháp thân hay tâm vương cũng đều chỉ cho
cái thể đó. Ở đây ngài Chân Nguyên nói tâm vương ví như
tấm gương tròn sáng chiếu soi sự vật, nếu vật dơ thì
nhìn cái bóng trong gương dơ, nếu vật sạch thì nhìn cái
bóng trong gương sạch. Vật đen thấy đen, vật trắng thấy
trắng. Vật ở ngoài thế nào thì nó hiện vào gương thế
ấy. Tuy nhiên gương hiện bóng dơ sạch mà gương có dơ sạch
không ? Bản chất của gương thì không dơkhông
sạch. Như vậy để thấy rằng tâm vương có thấy nghe hay
biết tất cả mọi cảnh vật. Nó thấy sắc nghe tiếng rất
là rành rõ, nếu không thêm một niệm phân biệt của tâm
sở thì tất cả cảnh vật không làm cho tâm vương dơ sạch
hay phân biệt tốt xấu rồi khen chê. Ngài ví tâm vương như
cái gương để biết rõ rằng nếu hằng ngày chúng ta thấy,
nghe, ngửi nếm, xúc chạm... mà không thêm niệm phân biệt
của tâm sở thì tâm vương không dính mắc. Như vậy chúng
ta tu không phải tìm kiếm nơi nào, trốn tránh ở đâu, mà
ngay trong khi tiếp xúc với mọi sự vật tâm không nhiễm dơ
dính mắc, tâm không nhiễm dơ dính mắc thì không có niệmkhen
chê thương ghét, đó là cái gốc của sự tu.
Theo
cái nhìn của ngài Chân Nguyênpháp thân
tức tánh giác của mọi người, báo thân là trí của mình,
hóa thân là hạnh của mình. Như vậy tánh giác trí tuệ và
công hạnh của chúng ta là đủ ba thân. Trong chúng ta có người
nào thiếu ba cái này không ? Chắc chắn là ai cũng có đủ.
Vậy trong lúc tu chúng ta khéo sử dụng trí tuệ để đạt
đến sự giác ngộ chân thật. Sử dụng công hạnh để làm
lợi ích cho mọi người, hai điều này được viên mãn thì
chúng ta đầy đủ ba thân.
Pháp
thân thanh tịnh là sẵn thanh tịnh như vậy, là chí tôn từ
bao thuở, thấy biết rất nhiệm mầu, không gì sánh ngang,
trong lặng chân thật thanh tịnh, không hình không tướng, gọi
đó là pháp thân thanh tịnh. Pháp thân tuy không hình không
tướng mà hay hiện tất cả hình tướng. Ðã thành các hình
tướng thì gọi đó là ứng thân. Ứng thân thì có thiện
ác, tốt xấu, tùy theo nghiệp báo mà thọ lấy thân. Nghiệp
báo thiện tức có tướng tốt, nghiệp báo ác tức có tướng
xấu. Tùy nơi nghiệp báo mà thọ lấy thân, gọi là báo thân.
Báo thân, nghĩa là thân nghiệp báo một đời. Còn ứng thân
tức là thân ứng hiện ra. Sao gọi là thân ứng hiện ra ?
Tức nhân nghiệp báo cảm thành mà ứng hiện ra có thân, gọi
đó là thân báo ứng. Nghĩa là pháp thân hay
ứng vào sắc thân, ứng nơi mắt thấysắc,
ứng nơi tai nghe tiếng, ứng nơi mũi ngửi mùi, ứng
nơi lưỡi đàm luận, ứng nơi thân cảm xúc, ứng nơi ý biết
pháp, cho đến giơ tay động chân đều là ứng thân.
Ðoạn
này Ngài giải thích về pháp thân thanh tịnh. Pháp thân thanh
tịnh là thanh tịnh từ thuở nào, chớ không phải do dụng
công tu hành mà nó được thanh tịnh nên nói chí tôn từ bao
thuở. Bởi vì mọi sự vật trên thế gian đều là tướng
vô thường sanh diệt, còn pháp thân là bất sanh bất diệt
nên nói nó là chí tôn. Chí tôn là nó quí hơn tất cả. Cái
thấy biết của Pháp thân rất nhiệm mầu. Thấy biết nhiệm
mầu không phải thấy biết khôn ngoan lanh lợi khéo léo, mà
như trước ví dụ tấm gương sáng cái gì cũng hiện rõ hết,
mà khi đem vật đi thì không dính lại một cái gì cả. Ðó
là nhiệm mầu, cũng đừng lầm tưởng nhiệm mầu là nó có
phép lạ huyền bí v.v... Nó chỉ là cái thể trong sáng hiện
đủ các hình tướng mà không bị các hình tướng làm nhiễm
dơ. Pháp thân ấy không gì sánh bằng, nó trong sáng thật là
lặng lẽ thanh tịnh chỉ có người dụng công tu mới cảm
nhận được và mới hiểu được những lời giải thích này.
Như khi chúng ta ngồi thiền
tâm không có một niệm nhỏ nhiệm dấy lên, chỉ thuần
trong sáng thanh tịnh nên một tiếng động nhỏ cũng nghe, những
hình ảnh trước mắt đều thấy, những gì xảy ra chung quanh
đều biết rõ ràng. Ðó gọi là không hình tướng mà luôn
luôn được thanh tịnh. Do thanh tịnh mà không hình tướng
nên mọi sự vật có hình tướng như núi sông, quả đất
v.v... đem so sánh với pháp thân đều không bằng. Bởi những
vật có hình tướng thì vô thường sanh diệt, pháp thân thì
không vô thường sanh diệt. Nếu chúng ta hằng sống với pháp
thân thanh tịnh thì không bị ngoại cảnh làm nhiễm dơ, như
vậy có giải thoát không ? Pháp thân không hình tướng thì
dính mắc vào đâu, cái gì trói buộc được ? Và, không còn
một niệm nhỏ nhiệm thì đâu có dấy động, không động
nên không sanh diệt, không sanh diệt là giải thoát sanh tử.
Vì còn theo niệm là còn tạo nghiệp, còn đi trong sanh tử
luân hồi. Không có một niệm nhiễm dơ là sống với pháp
thân thanh tịnh là được giải thoát sanh tử luân hồi. Giải
thoát là pháp thân giải thoát, cho nên ai sống được với
pháp thân là sống với cái thể giải thoát.
Kế
đến Ngài nói pháp thân không hình tướng mà nó hay hiện
hình tướng. Như tấm gương sáng nếu trước nó không có
người vật thì trong gương không có hình tướng người vật,
nếu trước gương có người vật thì bóng người vật hiện
đầy đủ trong gương. Giả
sử có tấm gương rộng một thước vuông để ở đàng
kia thì hai trăm người ngồi trong giảng đường này có hiện
bóng trong gương không ? Sao
diện tích nó nhỏ mà chứa được hai trăm người ? Ðể
thấy rằng tấm gương trong sáng không dính bụi nên hình ảnh
người vật hiện trong gương không chướng ngại. Nếu tấm
gương bị phủ một lớp bụi đen dày thì hình ảnh người
vật không thể nào hiện được. Gương trong sáng không dính
bụi nên hiện được tất cả hình tướng, cũng vậy Pháp
thân trong sáng không hình tướng mà hiện ra muôn ngàn hình
tướng đó là theo duyên mà ứng hiện. Nhưng khi thành các
hình tướng thì gọi là Ứng thân chớ không gọi là Pháp
thân. Theo ngài Chân Nguyên Ứng thân thì có nghiệp báo tốt
xấu, từ Pháp thân mà ứng hiện ra Báo thân có mắt thấy,
tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm v.v... đó gọi
là Ứng thân. Theo nghiệp lành nghiệp dữ thọ thân tốt xấu,
giàu nghèo v.v... đó là Báo thân. Như vậy Ứng thân, Báo thân
và Pháp thân không rời nhau. Ứng thân là do Pháp thân ứng
hiện ra cái thấy nghe hiểu biết gọi là Ứng thân. Cho nên
từ nơi thấy nghe hiểu biết chúng ta nhận ra Pháp thân. Ðó
là chỗ mà các Thiền sư dùng mọi phương tiện để đánh
thức chúng ta nhận ra ngay nơi thân này Pháp thân luôn luôn
ứng hiện, cho nên mắt
thấy sắc, tai nghe tiếng là do Pháp thân ứng ra nơi mắt nơi
tai, các căn khác cũng thế. Như vậy sáu căn tiếp xúc với
sáu trần đều có Pháp thân ứng hiện nơi sáu căn. Muốn
chỉ Pháp thân chúng ta làm sao chỉ ? Ví dụ trong hư
không có gió, có người hỏi gió ở đâu, làm sao chỉ ? Nếu
thấy cái màn phất phơ bảo đó là gió thì đúng hay sai ?
Gió không phất phơ, song bản chất của gió là động, do đó
thấy cái màn phất phơ chúng ta biết có gió. Gió ở khắp
chỗ nhưng gió không tướng mạo làm sao chỉ ? Cho nên chỉ
là chỉ cái mà gió tác động như cái màn phất phơ. Gió tác
động vào cây thông, chúng ta thấy cành thông đong đưa. Chúng
ta nương vào tướng lay động của cành thông mà biết có
gió. Cũng thế ngay nơi sáu căn Pháp thân ứng ra thấy, nghe,
ngửi, nếm v.v... mà biết bản thể đang hiện hữu, không
nên tìm kiếm ở đâu xa.
Hội
rằng :
Vốn
là một tinh minh. Chia thành sáu hòa hợp. Thu sáu hòa hợp lại,
vốn là một tinh minh.
Lại
nói: Sao gọi là hóa thân ? Ðã vào ứng thân, đi đứng nằm
ngồi, thấy nghe hiểu biết, làm mọi thứ việc lành, cho đến
trăm ngàn pháp môn, phương tiện diệu hạnh, tùy cơ biến
hóa, ứng dụng không cùng, gọi đó là hóa thân. Tuy riêng
có ứng và hóa, cũngđều
từ pháp thân lưu xuất, nên nói: Ba thân vốn chính là một
thân. Kinh nói: "Hàng thượng căn rõ được một, thì muôn
việc đều xong". Nếu như còn ngờ vực, hãy nghiệm xét cho
tường tận nơi lý.
Ðoạn
này Ngài dẫn Kinh Lăng Nghiêm. Trong
Kinh Lăng Nghiêm Phật gọi sáu căn là sáu hòa hợp, sáu
hòa hợp đó gốc từ một tinh minh, một tinh minh chia thành
sáu hòa hợp, từ sáu hòa hợp trở về vốn là một tinh minh
(Pháp thân). Cho nên trong khi tu, tâm chúng ta kẹt ở cái thấy,
cái nghe, cái ngửi... thì nó thuộc về một trong sáu hòa hợp.
Khi tâm chúng ta an định rồi thì không còn mắc kẹt ở căn
nào, mà nó trùm hết. Thấy nghe hiểu biết hiện tiền không
kẹt ở căn nào là trở về một tinh minh. Như vậy một tinh
minh nếu kẹt thì thành sáu hòa hợp. Sáu hòa hợp nếu biết
gỡ thì trở về một tinh minh. Nói một chớ thật ra khi sáu
đã gỡ thì một cũng không còn.
Trước
nói ba thân: Pháp thân, Ứng thân, Báothân
chớ chưa nói Hóa thân. Ðoạn này giải thích về Hóa thân.
Hóa thân là trong mọi hoạt động đi đứng nằm ngồi, làm
tất cả việc lành, tu tất cả các pháp môn đều là diệu
hạnh của Hóa thân. Hay nói cách khác tùy cơ ứng hóa thì
gọi là Hóa thân. Tuy có ứng hóa riêng khác nhưng đều từ
Pháp thân lưu xuất. Pháp thân ứng ra theo Báo thân, tùy theo
Báo thân mà ứng ra sáu căn, tùy theo sáu căn mà hành động
những điều hay điều tốt, như sự tu hành v.v... là
Hóa thân. Như vậy Hóa thân là ngọn của Ứng thân, mà gốc
của Ứng thân lại là Pháp thân. Cho nên
hàng thượng căn nhận được Pháp thân thì rõ Ứng thân,
Báo thân, Hóa thân cũng đều gốc từ đó mà ra.
Bởi
Chân Phật thì không hình, Chânkinh thì
không quyển, bao la pháp giới, tròn đồng thái hư, chẳng thêm
chẳng bớt, không thiếu không dư, người người sẵn đủ,
kẻ kẻ viên thành, bản tánh Di Ðà, Chân kinh Bát-nhã, kho
báu nhà mình, nguyên là vật tự có. Song tánh đạo không khác,
sắc và không nhất như, viên dung cả pháp giới, đối diện
ở trước mắt, ứng vật hiện hình như trăng trong nước.
Ngài
nói thêm về cái thể thênh thang của pháp tánh. Chân Phật
chỉ cho Pháp thân không hình tướng, Chân kinh chỉ cho pháp
tánh chân thật không tướng mạo, nên nói không quyển nhưng
nó bao trùm cả pháp giới nó không thiếu, không dư, ai ai cũng
tròn đủ hết. Như hiện giờ thân tứ đại của chúng ta,
người ốm thì ba, bốn chục ký, người mập thì sáu bảy
đến tám chín
chục ký, còn chiều cao thì cao lắm là hai thước. Nếu người
nào to lớn thì bằng hòn đá lớn trong núi là cùng. Nhưng
chúng ta có một cái thể trùm cả pháp giới, trùm
cả hư không thì to cỡ nào ? Như vậy, sự to lớn của thân
tứ đại thì có chừng mực, có giới hạn, còn sự to lớn
của tâm thể thì không giới hạn vô tận vô biên, không thể
tính lường. Thế mà chúng ta lại quên chỉ nhớ cái thân
mấy chục ký, cao
một vài mét, rồi cho là thật là quí. Cái thân mấy chục
ký này chỉ sống mấy chục năm, còn Pháp thân thì tuổi thọ
vô lượng vô biên. Nếu chúng talà
người ham sống thì nên sống với thân nào ? Cái thân sống
mấy chục năm có nghĩa lý gì đối với Pháp thân bất tử
? Vậy mà có nhiều người chẳng chịu sống với cái thân
bất tử, mà chỉ thích sống với cái thân tạm bợ, lúc nào
cũng lo gìn giữ lo sợ mất nó. Quên thân tuổi thọ vô lượng
rộng lớn vô biên, mà bám víu và hài lòng thỏa mãn với
cái thân tạm bợ để tiếp tục gây tạo nghiệp khổ, bỏ
thân này thọ thân khác, đi mãi trong luân hồi sanh tử. Do
đó chư Phật thấy thương chúng ta ngu muội có cái thể to
lớn bất hoại mà không nhớ, chỉ nhớ lo cho cái thân bé
nhỏ tạm bợ vô thường, chớ không phải Phật thương chúng
ta thiếu thốn về ăn mặc hay dáng vẻ lùn xấu. Thế nên
Phật dạy tu để trở về với cái thể trùm khắp bất sanh
bất diệt của chúng ta, thể ấy còn gọi là Niết-bàn vô
sanh. Không còn sanh thì đâu có tử nên gọi là giải thoát
sanh tử. Song giải thoát sanh tử là giải thoát cái gì ? Là
không vì cái thân tạm bợ mà tạo những nghiệp nhân sanh
tử. Khi dứt hết những mầm
sanh tử rồi chúng ta hằng sống với Pháp thân bất sanh bất
diệt của mình gọi là giải thoát sanh tử. Nên biết cái
không sanh tử ở ngay nơi mình chớ không phải tìm kiếm ở
đâu xa, cho nên nói bản tánh là Di Ðà tức là chỉ cho tự
tánh không sanh diệt, Chân kinh Bát-nhã là chỉ cho
trí tuệ sẵn có của mình, kho báu nhà mình sẵn đủ vậy
đi tìm kiếm ở đâu cho nhọc. Cái tự tánh ấy là không sắc,
do không sắc nên sắc và không không hai. Tùy theo vật hiện
hình, ví như mặthồ
nước
trong thì bóng mặt trăng hiện.
Kệ
nói :
Chẳng
biết báu trong áo,
Vô
minh say tự tỉnh.
Trăm
hài đều rã tan,
Một
vật vững sáng mãi.
Âm
:
Bất
thức y trung bảo,
Vô
minh túy tự tỉnh.
Bách
hài câu hội tán,
Nhất
vật trấn trường linh.
Chẳng
biết báu trong áo, vô minh say tự tỉnh.
Nghĩa là không biết mình có hòn ngọc báu ở trong túi áo
của mình, đó là vì vô minh say mê, nhưng khi thức tỉnh mới
biết trong áo mình có hòn ngọc quí. Ý hai câu này dẫn Kinh
Pháp Hoa ví dụ anh chàng say được người bạn cho hạt châu
cột trong chéo áo để đem ra dùng xài. Nhưng anh chàng vẫn
cứ say không tỉnh, không biết mình có hạt châu trong chéo
áo, nên vẫn nghèo đời khổ sở. Sau gặp lại bạn chỉ trong
chéo áo anh có hạt châu, anh lấy ra dùng hết kiếp nghèo đói.
Trăm
hài đều rã tan, một vật vững sáng mãi. Trong thân tứ
đại do tất cả các phần gân, xương... kết hợp lại, một
ngày nào đó nó sẽ tan nát không còn, nhưng trong đó có một
vật trong sáng không bao giờ hoại.
Ý
bài kệ nói nơi chúng ta có hòn ngọc quí, vì chúng ta mê say
quên hòn ngọc quí có sẵn nơi mình. Cũng như thân này là
thân tạm bợ nhưng trong cái tạm bợ đó có cái trong sáng
còn hoài không mất.
Áo
là sắc thân, báu là tự tánh. Trước kia Lục Tổ Huệ Năng
đốn ngộ tự tánh, tâm châu linh bảo, bèn đáp với Ngũ Tổ
Hoằng Nhẫn rằng: "Tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh
!"
Ðâu
ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh !
Ðâu
ngờ tự tánh vốn chẳng tự sanh diệt !
Ðâu
ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ !
Ðâu
ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp !
Ðây
nói áo là sắc thân, viên ngọc báu là tự tánh. Cho nên Lục
Tổ Huệ Năng mới nói tất cả muôn pháp chẳng lìa tự tánh
và khi nghe Ngũ Tổ giảng Kinh Kim Cang đến câu ưng vô sở
trụ nhi sanh kỳ tâm, Ngài liền đại ngộ, và la lên:
Ðâu
ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh !
Ðâu
ngờ tự tánh vốn chẳng tự sanh diệt !
Ðâu
ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ !
Ðâu
ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp !
Lục
Tổ do nhận được tự tánh của mình vốn tự thanh tịnh,
chẳng sanh chẳng diệt, đầy đủ tất cả, hay sanh tất cả,
nên Ngũ Tổ ấn chứng cho Ngài đã ngộ được bản tánh;
ngộ được bản tánh tức là kiến tánh. Bản tánh sẵn có
mà lâu nay quên, bây giờ chợt nhận ra nên Ngài dùng chữ
đâu ngờ. Như vậy người tu mà nhận ra được bản tánh
của mình thì từ đó về sau sự tu hành mới được an ổn.
Hội
rằng :
Tánh
đủ mọi lý mà ứng với muôn sự.
-
Hỏi đáp đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Tham học đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Tụng kinh đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Niệm Phật đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Nói năng đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Gậy hét đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Cơ duyên đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Thế Tôn giơ cành hoa đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Ngài Ca-diếp mỉm cười đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Lâm Tế hét, Ðức Sơn đánh, Ngưỡng Sơn tướng tròn, Thạch
Củng giương cung, Ðạo Ngô múa hốt, cơ duyên của chư Tổ
đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
Hội
rằng nghĩa là hiểu rằng. Tự tánh của con người đủ ở
mọi lý, ứng hiện với muôn vật. Ðây giải thích cho thấy
tự tánh con người xuất hiện từ chỗ nào qua các câu hỏi.
Hỏi đáp đó là gì ? Tức là biết hỏi biết đáp đó là
ai ? Ðáp: Chỉ là tự tánh. Do tự tánh ứng ra mới biết hỏi
biết đáp. Rồi tham học tụng kinh, niệm Phật, nói năng là
do tự tánh ứng hiện mới biết tham học, tụng kinh, niệm
Phật, nói năng. Nếu không có tự tánh (tánh giác) thì không
có ai ứng hiện để làm những việc đó, thân người chỉ
là một khối máu thịt vô tri không biết làm gì cả. Bây
giờ xa hơn một chút là: gậy hét, cơ duyên, Thế Tôn giơ
cành hoa, ngài Ca-diếp mỉm cười, Lâm Tế hét, Ðức Sơn đánh,
Ngưỡng Sơn tướng tròn, Thạch Củng giương cung, Ðạo Ngô
múa hốt, đều do tự tánh (tánh giác) ứng hiện, nên Phật
và chư Tổ mới hành xử như thế. Tất cả đều lưu xuất
từ tự tánh. Tự tánh là Phật, thiền Tăng hỏi thế nào
là Phật, Tổ đánh một cái đau điếng là chỉ ông Phật
đó. Vì có ông Phật mới biết hỏi, có ông Phật mới biết
đánh, có ông Phật mới biết đau. Chủ yếu của các Thiền
sư là chỉ thẳng nên không giải thích dông dài. Cũng vậy,
hỏi thế nào là Phật ? Hét một tiếng là chỉ ông Phật
đó, vì có ông Phật mới biết hét. Tất cả những hành động
khác cũng như thế, các Ngài nhằm chỉ thẳng cho chúng ta nhận
ra cái chân thật (tánh giác). Từ lâu chúng ta quen nhận cái
giả trên tướng mạo ngôn từ nên thấy các Thiền sư chỉ
cái thật qua hành động không ngôn ngữ, chúng ta đâm ra ngờ
vực. Bây giờ học hiểu kỹ chỗ này rồi, đọc sách Thiền
chúng ta mới không thấy lạ và hết nghi ngờ. Ngày xưa đọc
câu chuyện Thiền sư Ðả Ðịa, mỗi khi có người đến hỏi
thế nào là Phật ? Ngài lấy gậy đập xuống đất một cái,
không trả lời. Hỏi gì Ngài cũng lấy gậy đập xuống đất,
do đó người đời gọi Ngài là Hòa thượng Ðả Ðịa. Ðả
địa là đánh đất. Tôi có bình một câu thế này: "Muốn
thấy mặt nước phẳng trước khi cá ăn mống". Vì vừa khởi
niệm đập một cái là đã thấy rồi. Mặt nước không dấy
động tức là mặt nước phẳng, nếu dấy động thì từ
mặt nước mà ra chớ không ở đâu xa hết. Như vậy
tất cả hành động của các Thiền sư hoặc đánh hay hét...
đều nhằm chỉ thẳng tự tánh cho mình.
-
Bốn mắt nhìn nhau đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Trưởng Lão Câu Chi đưa ngón tay, giơ nắm tay đó là gì ?
- Chỉ là tự tánh.
-
Lâm Tế phủi tay áo liền đi đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Khai hoa kết ấn đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Ði đứng ngồi nằm đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Thấy nghe hiểu biết đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Ăn cơm ăn cháo đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Uống nước uống trà đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Ðắp y ôm bát đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Nói năng hỏi đáp đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
- Tạo tác, làm việc đó là gì ? - Chỉ là tự tánh.
-
Im im xét tư duy, nói nói động miệng đó là gì ? - Chỉ là
tự tánh.
Qua
một đoạn dài trên Ngài cũng chỉ thẳng tự tánh hiện đầy
đủ trong mọi hành động, mọi nói năng mọi cử chỉ, không
có gì ngoài tự tánh. Cho nên các Thiền sư không tốn lời
giải thích mà chỉ cần
biểu hiện một cử chỉ để chúng ta nhận ra tự tánh.
Vậy
ở đây có ai thiếu tự tánh không ? Không thiếu mà chưa dám
nhận, đó là điều đáng tiếc. Tự tánh là tâm vương là
vua lại không dám nhận, cứ nhận mấy thứ đạo tặc buồn
giận thương ghét và kết thân với chúng, cho nên bị khổ
suốt đời. Xét kỹ chúng ta thông minh hay mê muội ? Cái chân
thật không dám nhận, lại ôm giữ cái giả dối tạm bợ
rồi than khổ. Song sự khổ đau ở thế gian này chúng ta xét
kỹ thấy nó như trò hề, chớ có đáng gì đâu. Thế mà lắm
người cũng khóc lên khóc xuống vì những chuyện phiền não
vớ vẩn không đâu, gặp ai cũng than đời tôi sao khổ quá
! Tuy nhiên, nếu xét kỹ mỗi người chúng ta đều có một
cái không bao giờ khổ, biết như thế rồi thì tự tại vô
cùng, sống ở giữa cõi trần này không có gì đáng làm cho
mình phiền lòng, không phiền lòng thì có gì khổ sở. Giả
sử có ai sân si nói bậy bạ thấy họ là người ôm đạo
tặc là người đáng thương, người ấy có vị pháp vương
mà không chịu nhận, lại đi rước đạo tặc vào nhà để
cho nó phá hết gia sản. Người sân giận nói bậy bạ là
người đáng thương chớ đâu đáng buồn, vì trước hết
là họ hao tổn khí lực, kế đến là họ hao tổn tâm lực.
Như vậy họ lỗ lã rất nhiều chớ có được gì đâu ? Thế
nên chúng ta biết tu thì đối với những người làm phiền
mình, mình thông cảm thương họ chớ không nên buồn
họ. Hơn nữa hằng ngày chúng ta gặp biết bao điều không
như ý xảy ra, nếu không buông bỏ mà
cứ đeo mang những thứ đó để phiền não khổ tâm than trách
thì biết bao giờ chúng ta mới giác ngộ
? Bởi vì đó là những thứ làm che mờ khuất lấp cái tánh
linh giác của chính mình. Xét kỹ trong chúng ta khi phát tâm
tu, ai cũng muốn giải khổ, tại sao vào chùa một thời gian
chúng ta lại cột trói những thứ lỉnh kỉnh không ra gì vào
lòng cho nó khổ thêm. Như vậy muốn hết khổ thì những cái
không giá trị như thị phi, phải quấy tốt xấu, buông bỏ
hết thì chúng ta mới hết khổ. Chúng ta hết khổ mới mong
cứu khổ cho người, còn mình ôm một khối khổ mà nói chuyện
đạo lý, khuyên người hết khổ thì không được bảo đảm.
Giả sử có người thấy bạn mình phiền não bèn dùng lời
đạo lý khuyên họ đừng giận hờn, giận hờn là đau khổ.
Nhưng khi gặp chuyện trái ý mình nổi giận la om sòm, như
vậy người ấy có khổ không ? Thế nên chúng ta phải hiểu
cho thật thấu đáo điều này, tự mình phải hết khổ mới
chỉ dạy nhắc nhở cho người, đó là đúng tinh thần cứu
khổ chúng sanh của đạo Phật.
Mật
thu lại thì không dấu vết, hiển buông ra thì không cùng tận.
Bởi lược bày các cơ chỉ dạy, song đối với diệu lý khó
đem nói hết. Cần biết mặc áo ăn cơm, nóinăngđối
đáp, sáu căn vận dụng, gậy đánh miệng hét, quát mắngkhảy
tay, đánh phách thổi sáo, tiếng tăm cười nói, cho đến gánh
nước bửa củi, nơi nơi toàn bày lý diệu; vo gạo thổi lửa,
chỗ chỗ thảy hiện chân cơ. Trăm khéo ngàn hay, cơ huyền
lý diệu, tất cả hành động trọn là tự tánh của mọi
người hiển hiện ứng dụng.
Ðoạn
này Ngài nói khi trở về thể thì tâm linh giác không có dấu
vết, nếu ứng hiện ra diệu dụng thì không cùng tận, cho
nên ở đây Ngài lược bày để chỉ dạy chớ chỗ diệu
lý của tâm không thể dùng ngôn ngữ nói hết được. Nên
nói nó hiển hiện ứng dụng ra mọi hành động như mặc áo
ăn cơm, nói năng đối đáp... cho đến vo gạo thổi lửa đều
từ tự tánh mà ứng dụng ra. Như vậy ở chỗ nào chúng ta
cũng tu được hết. Thế
mà có nhiều người than, chiều nay bận công tác, ngồi Thiền
không được, mất một buổi tu. Nếu cho rằng ngồi Thiền
mới tu thì mất, còn biết tu trong mọi hành động thì không
mất. Vì trong mọi hành động đều có Pháp thân ứng hiện
thì mất cái gì ? Chỉ sợ không biết tu chớ không
sợ mất thờigiờtu.
Nhớ điềunàychokỹ.
Biếttuthìgiờnàocũngtuđược,
cuốcđất,nấucơm,nhổcỏđềutu.
Khôngbiếttuthìgiờ
ngồi Thiềnchưa
chắc đã tu, ngồi đó mà để tâm nhớ nghĩ chuyện đã qua
nhớ chuyện sắp tới, hết chuyện người này tới chuyện
người kia. Thế nên chúng ta khéo ứng dụng tu thì trường
hợp nào tu cũng được. Hiểu như vậy rồi người tu mới
tự tại, không than phiền trách móc ai, luôn luôn an ổn trong
mọi cảnh thuận nghịch an nguy. Ngày xưa, có vị gánh nước
đòn gánh gãy, ngay đó ngộ đạo. Có vị cuốc đất lượm
hòn gạch ném trúng cây tre vang tiếng, ngay đó ngộ đạo.
Có vị cỡi ngựa đi ngang qua cầu, cầu gãy, ngựa sụp chân
té xuống, ngay đó ngộ đạo. Những trường hợp như thế
có tu không ? Nếu không tu làm sao ngộ đạo ? Còn chúng ta
ngày nay ngồi Thiền giờ này qua giờ kia mà sao không ngộ
đạo ? Như vậy trong giờ ngồi Thiền đó chúng ta tu nhiều
hay ít ? Tóm lại, nếu tâm chúng ta lúc nào cũng trong sáng
hồn nhiên, thì trong một thời gian nào đó cơ duyên đầy
đủ
chúng ta cũng ngộ đạo, chớ không phải chỉ ngộ
đạo trong lúc ngồi Thiền.
Tỏ
rõ rằng :
Trước
kia đã có việc như trên, ngày nay đâu không việc này ! Xưa
nay thấy tánh thành Phật, chung ngộ tâm tông Bát-nhã. Tướng
mộc tuổi tác chẳng đồng, tánh hỏa trước sau như thế.
Ai biết ví dụ này, trí tuệ thật rộng sâu. Pháp tánh hằng
không, vốn không số kiếp. Trước sau chỉ một lý, người
thông suốt đồng một đường. Cần biết, một tánh linh chân,
trong lặng như thái hư; sắc thân năm uẩn thật như mộng
huyễn. Quả làtrênđảnhmônđủmắt,liềnbiếttrênhư
không không có hoa. Phật ở tự tâm, chớ tìm kiếm nơi người
được. Nên trong bài phú Cư Trần Lạc Ðạo, Tổ Ðiều Ngự
nói:
"Rõ
chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Ðông.
Chứng
thật tướng, đạt vô vi, đâu nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc".
Khiến
người người phản bổn hoàn nguyên, cho kẻ kẻ hồi quang
tự ngộ. Chỉ chín chắn quán xét sâu xa, rõ được tột người
người là Phật, ngộ tâm tông Phật Phật là người. Xin hãy
đều thẳng đó thừa đương, chớ chạy đuổi bên ngoài tìm
kiếm !
Ngài
nói: Trước kia có việc như trên, ngày nay đâu không việc
này. Nghĩa là ngày xưa chư Tổ hét một tiếng đánh một
cái mà người xưa ngộ đạo, ngày nay nếu chúng
ta khéo nhận thì cũng được như người xưa. Vì xưa hay là
nay đều thấy tánh thành Phật, đều ngộ tâm tông Bát-nhã.
Ngài ví như tướng cây nhỏ cây lớn như cây xoài, cây mít,
cây ổi... khác nhau, nhưng phơi khô đem đốt vẫn cháy
ra lửa, vẫn nóng như nhau. Ai biết ví dụ này thì người
ấy có trí tuệ sâu rộng. Lại như quí vị ngồi đây một
hai trăm người, mỗi người có hình tướng, suy nghĩ, ngôn
ngữ khác nhau mà tánh Phật thì không khác. Hiểu được điều
này là người trí tuệ sâu rộng và người có trí
thì không dám xem thường ai. Vì đứng về mặt tướng mạo
thì có người đẹp người xấu, đứng về mặt học thức
thì người học cao người học thấp, về mặt nói năng suy
nghĩ thì có người lanh lẹ người chậm chạp... nhưng tánh
Phật thì không khác. Hiểu như thế khởi tâm ngã mạn xem
thường, hay khởi tâm cung kính mọi người như Bồ-tát Thường
Bất Khinh trong kinh Pháp Hoa ? Ngài gặp ai cũng xá lạy và nói:
"Tôi không dám khinh các Ngài vì các ngài đều sẽ thành Phật".
Ngài đang là Bồ-tát, mọi người đang là phàm phu, thế mà
Ngài không khinh vì biết họ sẽ thành Phật như Ngài. Biết
như thế tâm Ngã mạn giảm, trí tuệ tăng.
Pháp
tánh hằng không, vốn không số kiếp. Pháp tánh hằng rỗng
lặng vốn không
có số kiếp. Vì từ lâu chúng ta sống theo vọng niệm nên
tạo nghiệp và theo nghiệp thọ báo thân sanh tử luân hồi
vô số kiếp. Cái nhân là vọng tưởng không thật, tạo nghiệp
thì cái nghiệp cũng không thật, nghiệp không thật thì kết
quả thọ thân cũng không thật. Cả ba đều không thật, bây
giờ buông vọng tưởng, nhận ra và hằng sống với pháp tánh
thì không tạo nghiệp, không thọ thân luân hồi sanh tử thì
số kiếp cũng không. Nếu người thông suốt lý này thì cùng
chung một đường. Tức là biết cái tánh chân thật linh thiêng
mầu nhiệm nó trong lặng như thái hư, còn sắc thân năm uẩnvốn
như mộng huyễn. Nếu ai sống sáu bảy chục tuổi ôn lại
cuộc đời đều thấy như mộng huyễn. Giống như đêm ngủ
nằm mộng, sáng thức dậy ôn lại giấc mộng thì có đáng
kể gì ? Thế mà cứ tưởng là thật. Cho nên nói quả là
trên đảnh môn có đủ con mắt liền biết trên hư không không
có hoa. Ðảnh môn có đủ con mắt tức là con mắt thứ
ba, con mắt trí tuệ. Sở dĩ nhìn trên hư không chúng ta thấy
có hoa đốm là tại con mắt bệnh. Nếu con mắt không bệnh
thì thấy hư không không có hoa. Con mắt không bệnh là chỉ
cho trí tuệ mở sáng. Người tu khi trí tuệ mở sáng thì biết
rõ Phật ở tự tâm, không tìm kiếm ở bên ngoài. Sau đây
Ngài dẫn hai câu trong bài Phú Cư Trần Lạc Ðạo của Tổ
Ðiều Ngự:
Rõ
chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Ðông.
Chứng
thật tướng, đạt vô vi, đâu nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc.
Biết
được như vậy để chúng ta trở về nguồn gốc của mình,
quay ánh sáng chiếu soi lại mình để ngộ được pháp thân.
Quán sát chín chắn như thế để rõ rằng người người là
Phật, mà Phật Phật đó gốc từ người. Vậy Phật và người
không hai, rời người không có Phật, rời Phật không có người.
Như vậy chúng ta và Phật gần không xa. Thế mà cứ lạy Phật
hoài, lạy đến chai cả đầu gối. Sở dĩ chúng ta phải lạy
Phật nhiều là tại chúng ta quên tánh Phật của chính mình,
nên phải nhờ đức Phật ngồi trên bàn chứng minh cho chúng
ta lạy để nhớ lại tánh Phật của chính mình. Lạy Phật
để nhớ mình có tánh Phật chớ không phải lạy cầu xin
Phật cho phước. Vậy lâu
nay chúng ta lạy Phật với ý nghĩa gì ? Hiểu như thế
mới thấu được ý nghĩa tu là xoay lại mình chớ không phải
chạy ra bên ngoài kiếm tìm. Hãy ngay nơi đây mà thừa đương.
Sau
đây là những bài kệ Ngài chỉ thẳng cho chúng ta nhận ra
tánh Phật của chính mình.
Kệ
rằng :
I-
Ngàn
kinh muôn luận trỏ tâm tông,
Bốn
mắt trừng nhau mắt tuệ thông.
Ba
thuở Như Lai truyền pháp ấn,
Một
tâm là Phật sẵn vậy đồng.
Âm
:
Thiên
kinh vạn luận chỉ tâm tông,
Tứ
mục trừng giao tuệ nhãn thông.
Tam
thế Như Lai truyền pháp ấn,
Nhất
tâm thị Phật bổn nhiên đồng.
Ngàn
Kinh muôn luận trỏ tâm tông, bốn mắt trừng nhau mắt tuệ
thông. Ngài nói kinh luận
nào cũng chỉ tâm mình là Phật và bốn mắt nhìn nhau là Phật
hiện tiền, nếu biết được như thế là mắt tuệ thông
suốt.
Ba
thuở Như Lai truyền pháp ấn, một tâm là Phật sẵn vậy
đồng. Ba đời chư Phật truyền pháp ấn là chỉ cho chúng
ta biết tâm mình là Phật, ai cũng có sẵn, chớ không riêng
người nào.
II-
Ngộ
tâm thành Phật không thừa pháp,
Mê
tánh bôn ba kiếm ngoài tâm.
Một
niệm rỗng thênh siêu bản tế,
Giống
hệt rửa chân lên mũi thuyền.
Âm
:
Ngộ
tâm thành Phật vô dư pháp,
Mê
tánh bôn ba tâm ngoại cầu.
Nhất
niệm khuyếch nhiên siêu bản tế,
Hoàn
như tẩy cước thướng thuyền đầu.
Ngộ
tâm thành Phật không thừa pháp, mê tánh bôn ba kiếm ngoài
tâm. Nếu chúng ta ngộ
tâm mình là Phật thì không còn pháp nào ngoài pháp này nữa.
Nếu mê, quên bản tánh của mình thì mới chạy ra ngoài tìm
kiếm, người ngộ thì ngay nơi tâm mà sống chớ không tìm
kiếm bên ngoài.
Một
niệm rỗng thênh siêu bản tế, giống hệt rửa chân lên mũi
thuyền.
Nếu không còn một niệm dấy khởi che đậy, tâm rỗng thênh
thang thì vượt hết mọi bờ mé xưa cũ. Giống như người
rửa chân bước lên mũi thuyền, đơn giản và nhẹ nhàng như
vậy. Hình ảnh này chỉ có những người ở miền Tây mới
dễ thông cảm. Như chúng ta muốn đi thuyền, bước xuống
cây cầu rửa chân cho sạch rồi bước lên thuyền, việc làm
rất gần gũi dễ dàng, không có gì khó khăn xa lạ. Cũng vậy
trong tâm không khởi một niệm thì tất cả những mê lầm
từ ngàn xưa đều giũ sạch.
III-
Che
trời che đất đây tâm báu,
Không
cổ không kim tự tánh châu.
Giá
trị càn khôn chưa dễ trả,
Sáng
ngời pháp giới vẫn hằng như.
Âm
:
Cái
thiên cái địa ngô tâm bảo,
Vô
cổ vô kim tự tánh châu.
Giá
trọng càn khôn thù vị đắc,
Linh
quang pháp giới nghiễm nhiên như.
Che
trời che đất đây tâm báu, không cổ không kim tự tánh châu.
Tâm chân thật của chúng ta che khắp trời đất, và không
bị thời gian xưa nay chi phối. Hay nói cách khác là tâm thể
chân thật quí báu của chúng ta không bị không gian hạn chế,
không bị thời gian chi phối.
Giá
trị càn khôn chưa dễ trả, sáng ngời pháp giới vẫn hằng
như. Giá trị quí báu của tâm chân thật đem cả càn khôn
so sánh cũng không so sánh được. Tức là giá trị của tâm
chân thật hơn cả giá trị của càn khôn. Nó sáng ngời cả
pháp giới mà hằng chân thật như như. Ý bài kệ này đánh
giá người ngộ được tâm chân thật của chính mình thì
thoát khỏi sự hạn chế của không gian, lớn nhỏ trong ngoài.
Thoát khỏi sự chi phối của thời gian quá khứ hiện tại
đều không thật và đem cả càn khôn để so sánh với tâm
thể này cũng không sánh được. Như vậy chúng ta sống giữa
thế gian này có cái gì để tính toán ? Ví dụ có người
kiếm được ít thoi vàng cho là quí, nhưng đem vàng cả càn
khôn này dồn lại chừng bao nhiêu ? Thế mà mình chỉ có ít
thoi vàng lại cho là quí và quên cả cái tâm chân thật quí
báu của mình. Cho nên người thấy đạo rồi thì sống với
cái tâm thể chân thật quí báu của chính mình là hơn hết.
IV-
Tâm
ta, tâm Phật vốn không hai,
Nhiều
kiếp nổi chìm chỉ tại mê.
Nay
đã tỏ tường mình tự nhận,
Linh
quang lặng chiếu ấy Bồ-đề.
Âm
:
Ngã
tâm bổn dữ Phật tâm tề,
Lịch
kiếp phiêu trầm chỉ vị mê.
Kim
nhật phân minh tương tự nhận,
Linh
quang tịch chiếu thị Bồ-đề.
Tâm
ta, tâm Phật vốn không hai, nhiều kiếp nổi chìm chỉ tại
mê.
Tâm ta và tâm của Phật không khác, Phật trở về với
tâm Phật còn chúng ta thì quên tâm Phật nên làm chúng sanh.
Nếu trở về tâm Phật thì Phật cũng như ta và ta cũng như
Phật. Bởi ta quên tâm mình là Phật nên nhiều kiếp trôi
lăn trong sanh tử chìm nổi khổ đau.
Nay
đã tỏ tường mình tự nhận, linh quang lặng chiếu ấy Bồ-đề.
Ngày nay chúng ta nhận ra tâm mình là Phật thì cái sáng suốt
chiếu soi trong lặng đó là Bồ-đề tức là tâm Phật chớ
không có gì khác lạ. Như vậy ý toàn bài kệ là tâm ta đồng
với tâm Phật, vì mê nên phải luân hồi sanh tử khổ đau.
Nếu tự nhận tâm mình là Phật thì cái sáng suốt trong lặng
nó hiện tiền đó là Bồ-đề, khỏi kiếm Bồ-đề ở đâu
xa.
V-
Gượng
gọi là Phật, gượng nói tâm,
Pháp
tánh sáng tròn suốt cổ kim.
Thượng
trí siêu quần xoay tự ngộ,
Như
vầy mới hiểu đạo cao thâm.
Âm
:
Cưỡng
danh vi Phật cưỡng xưng tâm,
Pháp
tánh viên minh tuyên cổ kim.
Thượng
trí siêu quần hồi tự ngộ,
Năng
như thị giải đạo cao thâm.
Gượng
gọi là Phật, gượng nói tâm, pháp tánh sáng tròn suốt cổ
kim. Cái tâm thể không
tên, tự trong sáng nhưng đối với chúng sanh mê thì tạm gọi
là Phật, hoặc nói là tâm, ấy là nói gượng chớ không phải
thật. Pháp tánh nó tròn sáng xuyên suốt từ xưa đến nay
không bị giới hạn bởi thời gian.
Thượng
trí siêu quần xoay tự ngộ, như vầy mới hiểu đạo cao thâm.
Bậc thượng trí siêu quần bạt tụy chỉ cần xoay lại là
nhận ra, người như vậy mới là người thấy được chỗ
cao thâm của đạo. Cao thâm là chỉ cái thể thênh thang không
bị thời gian, không gian chi phối, giới hạn đó là cái gốc
không gì bì kịp sánh nổi cho nên gọi là cao thâm.
Trước
khi học bài kệ mới tôi xin nhắc qua vài điều cần thiết
để cho Tăng Ni và Phật tử nhớ. Chúng ta thật là người
có phước mới được nghe và nhận được những lời chân
thật của Phật Tổ chỉ bày. Thế nên Thiền sư Chân Nguyên
sau
khi kiến tánh, Ngài vận dụng phương tiện truyền đạt chỉ
bày cho chúng ta bằng những bài kệ, để chúng ta nhận ra
bản tánh của chính mình. Ngày xưa các Thiền sư Trung Hoa thì
dùng phương tiện đánh, hét, giơ phất tử... để chỉ cho
người nhận ra Phật tánh nơi mình. Người nào lanh lẹ thì
nhận ra, còn người căn cơ cạn mỏng thì không làm sao hiểu
được chỗ sâu kín của nhà Thiền, rồi đâm ra ngờ vực.
Thiền du nhập vào Việt Nam, từ đời Trần cho tới đời
Lê, các Thiền sư Việt Nam không dùng phương tiện đánh hét...
mà các Ngài giải thích qua các bài thơ kệ để cho chúng ta
đọc rồi nhận ra được Phật tánh nơi mình, thì đủ niềm
tin để tu cho đến khi chứng ngộ. Nếu dùng những thủ thuật
đánh hét thì e chúng ta khó lãnh hội, không lãnh hội thì
không tin, không tin thì không tu được. Cho nên các Ngài dùng
phương tiện nói trắng chỉ thẳng. Tuy nhiên, nói trắng thì
dễ hiểu mà không có những trường hợp đặc biệt ngộ
sâu và nhớ hoài không quên. Như trường hợp ngài Nghĩa Huyền
ba lần thưa hỏi ba lần bị ăn đòn, không được thầy giải
thích một câu, cho nên sau khi ngộ rồi Ngài nhớ hoài không
quên. Còn bây giờ chúng ta giải thích hằng ngày, nếu có
nhận ra nhưng rồi cũng quên, vì cái nhận đó không sâu không
có kỷ niệm chết sống nên dễ quên. Ở đây tôi muốn quí
vị có một kỷ niệm chết sống, cho nên bắt ngồi Thiền
mấy tiếng đồng hồ, ngồi cho thật lâu cho thật đau chân
điếng người để tỉnh ra. Chính nhờ cái đau thấu xương
đó làm cho chúng ta khó quên, khó quên trong cái thầm lặng.
Còn các Thiền sư Trung Hoa thì dùng bạo lực dồn người tham
vấn vào thế bí cùng cực, sau đó có ai khơi lại thì nhận
ra đời đời không quên. Ở đây tôi bắt quí vị ngồi Thiền
ngày sáu giờ mỗi lần hai giờ, đối với những vị mới
tập thì rất là cay đắng khổ sở. Nhưng khổ cực cay đắng
để làm gì ? Ðể tỉnh nhiều hơn mê, trong một ngày tỉnh
táo nhiều giờ như thế mới sực nhớ ra ông Phật của mình
mà lâu nay mình quên. Khi ấy quí vị mới vỡ lẽ rằng: À
! Lâu nay ông thầy bắt mình ngồi nhiều là để cho mình tỉnh,
mình nhớ. Nhờ nghe lý thuyết rồi thực hành mà nhớ, nhớ
rồi thì không quên. Nếu chúng tôi chỉ giảng nói cho quí
vị nghe, rồi để cho quí vị tha hồ rong chơi, không nhốt
quí vị lại thì chắc không bao giờ có người lóe sáng. Vì
quí vị nghe có hiểu nhưng không thực hành thì không bao giờ
ngộ ? Tóm lại phương tiện tuy có khác, nhưng mục đích cùng
đưa hành giả đến chỗ cứu cánh là nhận ra Phật tánh nơi
mình. Các Thiền sư Trung Hoa thì dồn người học đạo tới
chỗ bí có khi khóc có khi muốn liều chết, nhưng khi nhận
ra thì nhớ đời không quên. Còn ở đây tôi giảng để quí
vị hiểu nhưng bắt quí vị ngồi Thiền, ngồi cho đến lúc
lặng hết vọng tưởng rồi bừng ngộ thì cũng ngộ sâu và
không quên. Như vậy phương tiện tuy khác nhưng đều
đưa hành giả đến chỗ ngộ sâu và nhớ mãi không quên.