B.GIẢNG
GIẢI
III-
KỆ KIẾN TÁNH
(Ðoạn
1)
Ðến
như thần thông của Phật, thì lời nói tợ âm thanh tiếng
trống trời, ngay thẳng từ bi, vi diệu hòa nhã. Ngài diễn
nói pháp có sáu mươi bốn thứ tiếng Phạm âm, vang xa khắp
cả mười phương, mọi chúng sanh đều vui thích, nghe tiếng
ngộ đạo, đồng được giải thoát, tức chẳng phải lời
nói từ bốn thứ vọng tưởng.
Ngài
nói rằng xét theo trên để biết tất cả ngôn ngữ trong thế
gian, đều do bốn thứ vọng tưởng mà sanh ra, cho đến thương
ghét hay sân si cũng từ vọng tưởng mà ra không có gì thật
cả. Tuy nhiên, nói tất cả ngôn ngữ từ vọng tưởng sanh
ra, vậy đức Phật thuyết pháp cũng từ vọng tưởng sanh
ra sao ? Ðây đáp rằng, lời Phật giảng dạy không phải từ
bốn thứ vọng tưởng, mà tiếng nói đó phát xuất từ tâm
từ bi ngay thẳng đã thấy được chân lý, đã sống đúng
chánh pháp mà phát sanh, nên nói tiếng Phật thuyết pháp âm
thanh vang xa như tiếng trống trời, tiếng nói đó phát xuất
từ tâm ngay thẳng từ bi, nên mọi chúng sanh nghe đều được
ngộ đạo giải thoát.
Phật
bảo ngài Ðại Huệ: Không tánh mà làm thành ngôn thuyết.
Nghĩa là như lông rùa sừng thỏ..., thế gian hiện thành ngôn
thuyết. Ðại Huệ ! Chẳng phải tánh, chẳng phải phi tánh,
chỉ có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, ngôn thuyết
có tánh, có tất cả tánh, luận ông ắt hoại.
Phần
Ký nói: "Ðây là nói các pháp tuy không, mà chẳng ngại ngôn
thuyết".
Ðoạn
này Phật bảo ngài Ðại Huệ: Không tánh mà làm thành ngôn
thuyết, nghĩa là ngôn thuyết người nói ra không có thực
thể. Phật ví dụ như lông rùa sừng thỏ. Rùa không có lông,
thỏ không có sừng, vậy mà người ta đặt điều nói đây
là lông rùa kia là sừng thỏ, đem ra nói với nhau, như những
chuyện không đâu cộng thêm những câu nói vô nghĩa mà người
ta vẫn đặt thành câu nói. Những câu nói như vậy không có
thực thể, chẳng qua là người ta tưởng tượng đặt ra,
cho nên nói ngôn thuyết không có tự tánh, tức là không cố
định. Nếu cho rằng ngôn thuyết có thực thể thì lý luận
ấy ắt hoại, vì đó là luận lý không đúng lẽ thật. Nên
đoạn kế Phần Ký nói tuy nói các pháp không mà chẳng ngại
ngôn thuyết.
Ðời
Ðường lại dịch là: "Tuy không các pháp, mà cũng có ngôn
thuyết. Ðâu chẳng hiện thấy lông rùa, sừng thỏ, con của
người thạch nữ v.v..., ở trong đó người đời đều khởi
ra ngôn thuyết. Nó chẳng phải có chẳng phải không, mà chỉ
có ngôn thuyết thôi. Như điều ông nói, vì có ngôn thuyết
nên có các pháp, nếu không có các pháp thì không có ngôn
thuyết. Hiện nay sừng thỏ... tuy không có mà chẳng ngại
có lời nói. Xét theo đó thì nghĩa của ông chẳng thành".
Vì vậy nói luận của ông ắt hoại, tỏ ngộ các pháp vốn
không, do duyên tụ hội mà sanh. Ðã do duyên hội mà sanh, thì
sanh vốn không, dù nói nhân nơi duyên kia sanh, cũng là giả
danh. Ðây là pháp tánh vô sanh, ngôn từ cùng lặng, năng sở
đều quên, trong lặng thường trụ, không có lời nói.
Tuy
không các pháp mà cũng có ngôn thuyết như lông rùa sừng thỏ,
con của người thạch nữ; đó là những chuyện không có mà
người ta tưởng tượng nói ra. Như vậy những cái không có
mà người đời họ cũng nói được chớ không phải đợi
có họ mới nói. Ðó chỉ là ngôn thuyết đặt ra chớ không
phải sự thật. Kế đến là đức Phật bác lý luận của
ngài Ðại Huệ. Vì theo ngài Ðại Huệ thì có các pháp thật
nên có ngôn thuyết. Như có cái bàn, người ta mới kêu tên
cái bàn, có cái hoa hồng người ta mới nói tên hoa hồng.
Nhưng Phật bảo rằng xét như thế thì nghĩa của ngài Ðại
Huệ không thành, vì như lông rùa sừng thỏ, con của người
thạch nữ, không có mà vẫn có ngôn thuyết vậy.
Tóm
lại, tất cả pháp tánh nó là vô sanh, nhưng người đời
tùy theo nhân duyên mà đặt tên cho nó, nên có tên gọi, có
ngôn ngữ nói năng... chớ không có thật. Ðến chỗ tất cả
ngôn từ lặng, năng sở quên thì trở về chỗ thường trụ,
tịch tĩnh không còn ngôn ngữ.
Thế
nên đức Thích Ca Thế Tôn lên pháp tòa, tự tại không lời,
im lặng giây lâu, chính là yếu chỉ trên đây. Ðại sư Ðạt-ma
chín năm ngó vách, ngồi nghiêm trang không nói, cũng đúng như
lý này. Người trí quán sâu liền chứng nơi chân thật không
tịch. Do đó, thế ngàn non đến đỉnh thì dừng, muôn sự
tiêu về thể thì bình.
Như
chúng ta đã biết tất cả ngôn ngữ nhân nơi vọng tưởng
mà sanh, hay vọng tưởng là cái nhân sanh ra ngôn ngữ, song
vọng tưởng không thật nên ngôn ngữ cũng không thật. Như
vậy muốn chỉ cái chân thật không cần ngôn ngữ, cho nên
đoạn này nói đức Thế Tôn lên pháp tòa tự tại không lời,
im lặng giây lâu rồi cầm cành hoa đưa lên, ngài Ca-diếp
nhìn mỉm cười. Xong ! Không có lời nào mà Phật đã chỉ
cái chân thật. Cái chân thật là cái không lời, có lời thì
không thật. Sau đây dẫn thêm Tổ Bồ-đề-đạt-ma chín năm
ngồi xây mặt vào vách không nói là nhằm ý này. Như vậy
để thấy rằng chỗ cứu cánh chân thật thì không có lời
nói, vì lời nói là từ vọng tưởng hư dối. Người trí
quán sâu chỗ này liền chứng được chỗ chân thật không
tịch. Như ngàn cái núi mà lên đến đỉnh thì hết lối đi,
muôn sự vật ở thế gian trở về thể thì bình đẳng như
nhau.
Thế
Tôn lại bảo ngài Ðại Huệ và các Bồ-tát: "Chẳng phải
tất cả cõi nước đều có dùng ngôn thuyết. Ngôn thuyết
là Như Lai tùy theo chúng sanh ở cõi Ta bà. Bởi giáo thể ở
phương này dùng âm thanh và nghe, nên giả tạm làm ra văn tự,
chương cú, ngôn từ thì kinh giáo mới được an lập. Ngoài
ra những thế giới của chư Phật khác, thì diệu lý của
Phật pháp chẳng liên quan đến văn tự, chẳng dùng ngôn thuyết.
Hoặc có cõi Phật dùng mắt nhìn xem mà hiển bày tỏ ngộ
pháp tánh. Hoặc có cõi làm ra tướng, hoặc có cõi nhướng
mày, hoặc có cõi chớp mắt, hoặc có cõi mỉm cười, hoặc
có cõi hơi há miệng, hoặc cõi cười nói, hoặc cõi nhớ
nghĩ cõi nước, hoặc cõi lay động... dùng những
pháp như thế mà bày cơ lộ tánh, thảy đều là Phật sự,
tiếp hóa chúng sanh".
Ðức
Phật lại bảo ngài Ðại Huệ rằng chẳng phải tất cả
cõi nước đều dùng ngôn thuyết, mà tùy theo cách giáo hóa
của mỗi nơi mà dùng hay không dùng. Như cõi Ta bà của chúng
ta vì dùng âm thanh và nghe âm thanh nên mới dùng ngôn thuyết
để nghe mà ngộ đạo. Còn các cõi khác thì dùng phương tiện
khác như nhướng mày, chớp mắt, há miệng, cười nói v.v...
không cố định. Tất cả đều là bày cơ lộ tánh thảy đều
là Phật sự để giáo hóa chúng sanh.
Ðời
Ðường lại dịch: "Hoặc có cõiPhật trừng
mắt nhìn mà hiển bày pháp, hoặc cõi hiện tướng khác, hoặc
nhướng mày hoặc chớp mắt, hoặc hiện mỉm cuời, hoặc
hơi há miệng, cười nói nhớ nghĩ, lay động... dùng những
việc như thế mà hiển bày pháp, khiến mọi quần sanh tỏ
ngộ bản tánh."
Ðoạn
này nói thêm để hiểu được ý ở trước.
Phật
lại bảo Bồ-tát Ðại Huệ: "Hãy xem thế giới này những
loài chúng sanh như ruồi, muỗi, trùng, kiến v.v... không có
ngôn thuyết mà đều làm xong việc, đâu đợi có ngôn thuyết
mới hiển bày pháp ư ?"
Ðiều
đó chứng tỏ, chẳng những các pháp không tánh, hơn nữa
ngôn ngữ cũng tánh không. Nghĩa là tướng các pháp vốn tịch
diệt, chẳng thể dùng lời nói tỏ bày. Phật Tổ từ trước
đến chỗ cùng cực, chỉ bốn mắt nhìn nhau, im lặng ấn
chứng. Ðạo vô ngôn được truyền ra, bắt nguồn từ chỗ
thấy như trên. Vì vậy, ngài Lâm Tế, Ðức Sơn gậy hét truyền
dạy. Ngưỡng Sơn tướng tròn, Thạch Củng giương cung, Ðạo
Ngô múa hốt... Các vị Tổ Sư đều cùng chung chứng đến
chỗ sâu xa. Ðây
là chánh định lìa lời nói. Nghĩa là núi sông quả đất
chung chuyển pháp luân căn bản, loài vảy, mai, lông, cánh khắp
hiện sắc thân Tam-muội. Thế nên trong chỗ thường dùng hằng
ngày của chúng sanh, thì cửa sáu căn đều là chỗ nhập lý
ngộ đạo, đâu hoàn toàn phải đợi ngôn thuyết ! Nên đức
Thế Tôn đưa cành hoa chỉ cho chúng, ngài Ca-diếp khế hội
tâm Phật mỉm cười. Phật trước Phật sau chỉ
dùng tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.
Qua
đoạn này chúng ta thấy rằng không phải chỉ có ngôn thuyết
mới truyền đạo, mới thấu suốt bản tâm mà chính là những
hành động, vì tất cả hành động hiển bày được tâm.
Hơn nữa ngôn thuyết là phát nguồn từ vọng tưởng mà vọng
tưởng là cái nghĩ suy phân biệt không thật, nó không phải
tâm thể chân thật, nó không phải là linh giác mà tất cả
những hành động như nhướng mày chớp mắt, cử động tay
chân... cái nào cũng có hàm ẩn linh giác. Do có linh giác nên
mọi hoạt động mới sanh khởi, mà linh giác là tâm. Thế
mà lâu nay hễ nói tới tâm là chúng ta nhận cái suy nghĩ là
tâm. Song, nhướng mày chớp mắt, co tay duỗi chân nếu không
có tâm thì mấy cái đó làm sao hoạt động ? Như vậy, tâm
là cái biết trùm hết cơ thể này, con người này, chớ không
phải chỉ có cái suy nghĩ. Cái suy nghĩ chỉ là vọng tưởng
không thật. Như vậy cái chân thật hiển lộ ở nơi sáu căn,
chớ không phải chỉ ở ý căn. Do đó dùng phương tiện nào
của sáu căn cũng có thể chỉ bày cái chân thật. Cho nên
một tiếng hét, một cái đánh, bốn mắt nhìn nhau đều hiển
bày cái chân thật. Không phải kêu lại bảo: Tôi cho ông cái
này, giảng nói điều kia, mới là chỉ cái chân thật, mà
cái chân thật hiện sẵn ở các giác quan của chính mình.
Hiểu như thế mới thấy trọng tâm của Phật của nhà Thiền
là, trước sau chẳng lập văn tự dùng tâm ấn tâm.
Hỏi:
- Nếu chẳng lập văn tự, lấy gì làm tâm ?
Ðáp:
- Ông hỏi tôi tức đó là tâm ông. Tôi đáp ông, tức là
tâm tôi. Nếu ông không tâm, nhân đâu biết hỏi tôi? Nếu
tôi không tâm, nhân đâu biết đáp ông ? Chính ngay khi ông
hỏi tôi, tức là tâm ông. Tâm này từ vô thủy kiếp cho đến
hiện giờ, mọi hành động, tạo tác, ở trong tất cả thời
cũng như ngay đây, đối diện hiện dùng, tùy cơ thu buông,
đối đãi thưa hỏi,
chẳng phải tánh là gì ? Cái gì thưa hỏi đây
? Nói năng đó là cái gì ? Cái gì hay biết hỏi ? Ðây chính
là tánh linh giác căn bản nơi chính mình của mọi người.
Tánh tức là tâm, tâm tức là Phật, Phật tức là đạo, đạo
tức là Thiền. Thiền nghĩa là kiến tánh. Vì vậy đưa cành
hoa mỉm cười, hội được tông yếu đó là Thiền. Bốn mắt
nhìn nhau, lãnh nhận ý chỉ, đó là Thiền. Thiền là lặng
lẽ, lặng lẽ
nhưng thường soi sáng, soi sáng nhưng thường
lặng lẽ, thanh tịnh trong lặng nhiệm mầu, tròn đồng thái
hư, trọn không một vật, ứng dụng tự tại; thể tự không
tịch, gọi đó là Thiền, gọi đó là Giác.
Ðoạn
này Ngài chỉ rất là tường tận chúng ta phải khéo nhận
ra để khỏi cô phụ Ngài.
Hỏi:
Nếu chẳng lập văn tự lấy gì làm tâm. Ðáp rằng: Ông hỏi,
tôi đáp, tức là có tâm rồi. Thật vậy, nếu không có tâm
làm sao biết hỏi, nếu không có tâm làm sao biết đáp. Biết
hỏi biết đáp đó là tâm, cần gì văn tự !
Ngài
Huệ Hải đến tham vấn Mã Tổ. Mã Tổ hỏi:
-
Ðến cầu việc gì ?
-
Ðến cầu Phật pháp.
- Kho
báu nhà mình chẳng đoái hoài, bỏ nhà chạy đi tìm cái gì.
-
Thế nào là kho báu nhà mình !
-
Chính cái ông hỏi ta đó.
Chính
cái hỏi đó là kho báu, nó sẵn đó chớ có tìm kiếm đâu
xa. Vậy có ai trong chúng ta mà không
biết hỏi đáp; dù hỏi đáp cái gì. Hễ biết hỏi
đáp là có tâm, là có kho báu rồi. Vậy chúng ta tìm kiếm
tâm ở đâu, trèo non vượt núi để kiếm tìm Phật tâm của
mình phải không ? Nó sờ sờ ở sáu căn, tìm kiếm làm gì
? Ðọc đoạn này chúng ta thấy ngài Chân Nguyên thật là tâm
Lão bà, nói hết những gì cần nói để cảnh tỉnh mọi người.
Ngài nói từ thuở nào đến giờ mọi hành động tạo tác
như hỏi đáp, thu vào buông ra, tất cả mọi động dụng nói
năng đều là tâm tánh của chính mình. Tánh là tâm, tâm là
Phật, Phật là đạo, đạo là Thiền. Tánh Phật Ðạo Thiền
ngay nơi mình sẵn đủ. Nhưng nói tới Thiền là nói tới kiến
tánh. Kiến tánh là nhận được bản tánh của chính mình.
Như Phật đưa cành hoa sen ngài Ca-diếp nhìn mỉm cười, đó
là nhận tâm yếu, là kiến tánh, là Thiền. Thầy trò nhìn
nhau cảm thông đó là Thiền. Như vậy nhận được bản tâm
là ngộ lý Thiền, là nhận ra cái chân tâm của mình, từ
chân tâm đó phát ra ngôn ngữ, phát ra thưa hỏi, phát ra hành
động. Nếu chúng ta nói năng hành động mà đừng chạy theo
vọng tưởng là chúng ta biết trở về với Thiền, ngộ được
lý Thiền.
Do
tâm thường giác nên gọi Ðại Giác Thế Tôn, cũng gọi Giác
Vương Như Lai hay gọi là chủ hư không. Tức tâm là Phật,
trọn không có Phật khác. Tức Phật là tánh, trọn không có
tánh khác. Như nắm tay làm thành do bàn tay, tợ nước thành
sóng. Sóng tức là nước, bàn tay tức là nắm tay.
Do
tâm thường giác, nên gọi Ðại Giác Thế Tôn tức là Phật,
cũng gọi là ông vua Giác, cũng gọi là chủ hư không, vì hư
không trùm hết mà tâm thể này trùm cả hư không, cho nên
gọi là chủ hư không. Chính cái tâm này là Phật không có
ông Phật nào khác. Nhưng nhớ tâm đó không phải tâm vọng
tưởng, nếu vọng tưởng là tâm chúng sanh. Vậy quí vị muốn
thành Phật hay muốn làm chúng sanh ? Chúng sanh thì mê, Phật
thì giác đều ở nơi tâm mình chớ không ở đâu khác. Kiểm
lại coi nơi mình cái gì là tâm mê ? Cái gì là tâm giác ?
Vọng tưởng là tâm mê, cái biết hiện tiền không dấy vọng
tưởng là tâm giác. Chúng ta tu là bỏ vọng tưởng để sống
với cái biết hiện tiền thanh tịnh. Vậy tu Thiền là bỏ
mê sống với giác chớ không có gì lạ hết. Hiểu rồi chúng
ta thấy rõ ràng trước mắt, chớ không phải chuyện xa lạ.
Ở đây Ngài nói tức tâm là Phật, tức tâm là tánh, cho nên
ba từ: Tâm, Tánh, Phật tên gọi tuy khác nhưng không phải
khác. Cả ba đều chỉ cho thể chân thật. Ngài đưa ra ví
dụ, sở dĩ có nắm tay là do bàn tay co lại, bỏ bàn tay không
có nắm tay. Hoặc, sóng từ nước mà có, rời nước tìm sóng
không có. Bàn tay là cái gốc, là cái thể, nắm tay là ngọn,
là cái dụng.
Cũng vậy nước là thể, sóng là dụng, tất cả cái dụng
không rời cái thể mà có. Như vậy mọi cái nghĩ suy phân
biệt đều từ cái thể linh giác mà ra, song phải buông hết
vọng tưởng mới trở về với tánh linh giác.
Nên
Kinh Hoa Nghiêm nói:
Nếu
người muốn rõ biết,
Ba
đời tất cả Phật.
Nên
quán tánh pháp giới,
Tất
cả chỉ tâm tạo.
Âm
:
Nhược
nhơn dục liễu tri,
Tam
thế nhất thiết Phật.
Ưng
quán pháp giới tánh,
Nhất
thiết duy tâm tạo.
Ðến
đây Ngài dẫn bài kệ của Kinh Hoa Nghiêm. Ý kệ nói rằng:
người nào muốn biết rõ ba đời chư Phật thì phải quán
pháp giới tánh, tất cả đều do tâm tạo.
Lại
nói: Tâm, Phật và chúng sanh, ba thứ này đều không sai khác.
Tất cả Phật pháp, tự tâm sẵn có, thôi đem tâm tìm kiếm
bên ngoài, bỏ cha chạy đi lang thang. Tiếng Phạn gượng gọi
Phật, Trung Hoa nói là tánh giác. Tánh này chẳng lìa thân ta,
nếu người đốn ngộ được cội gốc, người này sẽ chóng
được thành Phật.
Tâm,
Phật và chúng sanh ba thứ đều không khác, đều cùng cái
thể chân thật đó thôi. Phật pháp đã sẵn có nơi tự tâm,
đừng đem tâm tìm kiếm bên ngoài, đừng làm kẻ cùng tử
ở trong Kinh Pháp Hoa bỏ cha đi lang thang đói khổ ở xứ người,
thời gian sau mới sực nhớ trở về. Ngài lại nói Phật là
tánh giác, tánh giác đó là nguồn cội của con người, nếu
quên nguồn cội khởi vọng tưởng là chúng
sanh, nếu trở về nguồn cội là giác ngộ là Phật.
Thế
nào là cội gốc ?
Chỉ
dạy rằng: - Cội gốc chính là tâm tánh linh giác của mọi
người. Tâm này là cội nguồn của chư Phật, là đất tánh
của chúng sanh. Ðất thì sản sanh muôn vật, ngàn muôn cây
cối, cành lá hoa quả, mỗi mỗi đều nhân nơi đất mà sanh.
Tâm bao gồm muôn pháp, trăm khéo ngàn hay, huyền cơ diệu lý,
mỗi mỗi đều từ tâm dựng lập. Tâm là biển của muôn
pháp, từ nơi thật tế mà ứng hóa ra. Tánh là gốc của muôn
hạnh, tùy nơi một tâm mà biến dùng. Huệ giải tròn thông,
linh minh đầy đủ, gồm trọn muôn pháp chỉ một lý, xuyên
suốt muôn thuở chỉ một tâm.
Hỏi
thế nào là cội gốc ? Ngài giải thích cội gốc là tâm tánh
linh giác của người; mà tâm tánh linh giác này là tâm của
chư Phật. Tâm đó là cội nguồn là gốc rễ của tất cả.
Giống như đất sanh ra muôn vật, hay như biển cả trùm hết
các loài trong nước. Tánh là gốc của muôn hạnh, tùy nơi
một tâm mà biến dùng. Như vậy tâm là gốc, tâm là nguồn
cội tất cả pháp.
Buông
ra thì lấy một làm nhiều, thu lại thì lấy nhiều làm một.
Nên lập một tâm làm tông, mở ra thì có nhiều cửa vô tận.
Mới nói: "Ba cõi chỉ là tâm, muôn pháp chỉ là thức, một
niệm chẳng sanh, các duyên chóng dứt". Ngộ diệu lý nơi bản
tâm thì tội phước đều không, mê viên minh của tự tánh
thì thiện ác đều ngại.
Vì
tâm là gốc của tất cả sự vật nên nhà Thiền gọi là
Phật tâm tông. Ở đây nói lấy tâm làm tông, mở ra thì có
nhiều cửa nhiều pháp môn không thể kể hết. Cho nên nói
ba cõi từ tâm hiện ra, muôn pháp từ thức mà phân biệt sanh,
nếu một niệm không sanh thì các duyên chóng dứt. Như vậy
chúng ta tu chỉ cần làm sao đi đứng nằm ngồi một niệm
không sanh thì muôn duyên theo đó dứt sạch. Ở đoạn này
có câu: Ngộ diệu lý nơi
bản tâm thì tội phước đềukhông,
mê viên
minh của tự tánh thì thiện ác đều ngại.
Chúng ta phải hiểu chỗ này cho kỹ kẻo lầm. Sở dĩ chư
Tổ nói không tội phước, không thiện ác là vì các Ngài
đã ngộ được diệu lý của tâm. Tâm không có tướng sanh
diệt thì nói gì tội phước thiện ác ? Ngược lại nếu
mê chơn tánh tức là mê bản tâm thì thiện ác tội phước
đều có thật. Thế nên đối với người mê, Phật
dạy bỏ mười điều ác làm mười điều thiện v.v...
Ngàn
dòng sông riêng khác mà đồng nguồn, muôn xe sai biệt mà đồng
lối mòn; tất cả muôn pháp đều về một tâm, tâm sanh thì
mọi thứ pháp sanh, tâm diệt thì mọi thứ pháp diệt. Do đó
các ngôi sao đều chầu về hướng Bắc, muôn dòng sông trọn
chảy về Ðông, hà sa diệu pháp thảy ở nguồn tâm, đạo
pháp hiện tiền, một tâm đầy đủ. Nên biết, ngàn pháp
muôn pháp, Phật Phật, Tổ Tổ từ trước chỉ lấy tâm truyền
tâm, chữ bátmở toang; lấy
tâm ấn tâm, bốn mắt nhìn nhau, hơn năm ngàn tám trăm quyển,
tám mươi bốn ngàn pháp môn, mọi thứ phương tiện,
đều từ một chữ tâm ấy lưu xuất, dựng lập.
Dù đem tre bằng núi Tu Di làm bút,
lấy nước bốn biển cả làm mực, viết một chữ tâm nầy
vẫn chẳng hết.
Kế
đến Ngài đưa ra hình ảnh ngàn dòng sông riêng khác chỉ
có một nguồn. Nói cho dễ hiểu là ngàn dòng sông ở khắp
mọi nơi đều chảy ra biển. Muôn xe riêng khác cùng đi một
lối mòn, tức là cùng đi trên một lằn xe đi. Tất cả muôn
pháp gốc từ tâm mà ra. Nếu tâm sanh thì muôn pháp sanh, nếu
tâm lặng yên thì muôn pháp diệt, vì gốc từ tâm. Nói muôn
pháp gốc từ tâm, tâm đó là tâm gì ? - Là tâm linh giác.
Còn cái tâm sanh là tâm vọng tưởng; vì là tâm vọng tưởng
nên có sanh có diệt, chớ tâm linh giác đâu có sanh diệt.
Chỗ này rất
tế nhị, quí vị học phải hiểu cho kỹ, kẻo lầm lộn.
Ngài
lại đưa ra một ví dụ nữa: Tất cả ngôi sao đều hướng
về phương Bắc, các nguồn sông đều chảy về phương Ðông,
nói lên cái ý tất cả đều về một hướng để nói rõ
cái nghĩa muôn pháp đều trở về tâm. Do đó nên Phật Tổ
lấy tâm truyền tâm chớ không truyền cái gì khác, truyền
tâm bằng cách bốn mắt nhìn nhau. Song đứng về mặt truyền
bá rộng rãi thì năm ngàn tám trăm quyển kinh, tám muôn bốn
ngàn pháp môn, mọi thứ phương tiện đó đều từ tâm lưu
xuất dựng lập. Tất cả phương tiện gốc từ tâm, chỉ
cần trở về tâm là đủ. Cho
nên chữ tâm rất là to lớn, dù có lấy tre bằng núi Tu Di
làm bút, lấy nước biển làm mực cũng không viết
hết chữ tâm này. Chữ tâm sao to quá vậy ? Vì tâm thể
sanh muôn pháp, tâm trùm khắp tất cả, cho nên
không thể diễn tả được nó.
Kinh
nói: "Diễn nói một chữ mà cả biển mực khó chép hết".
Vô lượng thu lại làm một, một buông ra thành vô lượng.
Song thái hư dù rộng mà chẳng thể bao gồm thể kia; mặt
trời, mặt trăng tuy sáng mà chẳng thể sánh với ánh sáng
kia. Tâm ấy rộng bao cả thái hư; tánh ấy, lượng trùm khắp
pháp giới, tròn lặng sáng rực, không có Ðông, Tây, Nam, Bắc,
không có bốn phía, trên dưới, không vật có thể sánh, gượng
gọi là tâm. Buông ra thì lớn không gì ngoài, thu lại thì
nhỏ không gì trong. Bởi tâm vương ẩn hiện, gồm chứa tất
cả người vật, trước trời đất, suốt xưa nay, một mình
tồn tại, một mình chiếu soi, không hình không tướng, không
xanh, vàng, đỏ, trắng, không vuông tròn, dài ngắn, không đầu
đuôi trước sau, không kiếp số, bờ mé, giống như hư không,
không có mặt mày có thể nói phải quấy. Tuy không xanh, vàng,
đỏ, trắng, vuông tròn, dài ngắn, nhưng hay hiện ra xanh vàng
đỏ trắng, vuông tròn dài ngắn.
Kinh
nói rằng một chữ tâm mà bút mực khó chép hết. Vô lượng
tức là muôn pháp thu về một tâm, và từ một tâm lưu xuất
ra muôn pháp. Song thái
hư dù rộng mà chẳng thể bao gồm đượctâm,
ánh sáng của mặt trời mặt trăng chẳng bằng ánh sáng của
tâm. Tâm rộng lớn ấy bao hàm cả thái hư, nhưng tạm gọi
nó là tâm. Cả một đoạn văn dài ở trên nói lên ý nghĩa
tâm thể của chúng ta trùm khắp và tùy theo duyên ứng hiện.
Tuy ứng hiện theo tất cả pháp nhưng không lệ thuộc vào
tất cả pháp, nó là chủ mà nó cũng không rời tất cả pháp
của nó hiện ra.
Cho
nên Thiền sư Xuyên Lão nói:
Ma-ha
Ðại pháp Vương, Không ngắn cũng không dài.
Xưa
nay không đen trắng,
Tùy
chỗ hiện xanh vàng.
Âm
:
Ma-ha
Ðại pháp Vương,
Vô
đoản diệc vô trường.
Bản
lai vô táo bạch,
Tùy
xứ hiện thanh hoàng.
Ma-ha
Ðại pháp Vương là chỉ cho tâm thể lớn nhất, nó không
ngắn không dài không đen không trắng, không cố định ở
một hình tướng, tùy duyên ứng hiện nên có sai khác.
Nhắc
lại lần nữa, ngài Chân Nguyên chỉ cho chúng ta biết rõ rằng
nơi mọi người ai cũng có sẵn tâm linh giác, chớ không riêng
một người nào. Nếu chúng ta không đuổi theo vọng tưởng
mà để cho nó hiện trong mọi sinh hoạt, là biết sống với
tâm linh giác, thì khỏi phải nhọc công leo núi, lội sông
để tìm kiếm, mà nó hiển hiện ở lúc mở lời nói năng,
cử động tay chân, nhướng mày chớp mắt v.v... Lúc nào nó
cũng hiện hữu không hề thiếu vắng. Câu chuyện của ngài
Văn Hỷ đối đáp với
ông già ở núi Ngũ đài cho ta rõ thêm ý nghĩa này.
Ngài
Văn Hỷ lên núi Ngũ đài tìm ngài Văn Thù, nhưng chỉ gặp
ông già dắt trâu đi, mời Ngài vào động. Sau khi hỏi thăm,
ông già rót nước mời uống. Ông đưa chung trà lên hỏi ngài
Văn Hỷ:
-
Ở phương Nam có cái này không ?
Ngài
Văn Hỷ trả lời:
-
Dạ không .
Ông
già hỏi:
-
Hằng ngày lấy cái gì uống trà ?
Ông
già muốn hỏi "cái biết uống trà", tức là tâm linh giác,
chớ đâu có hỏi cái chung trà. Nhưng ngài Văn Hỷ không nhận
ra, lại thấy cái chung trà đẹp quá, xứ mình không có nên
trả lời không. Nếu không thì làm sao biết ăn biết uống
? Hỏi phương Nam
có cái này không ? Trả lời có thì không bị lừa,
còn trả lời không thì không nhận ra cái mà ông già muốn
chỉ.
Ngài
chỉ cho chúng ta thấy, trong tất cả mọi cử động đều
hàm ẩn tâm linh giác, nên các Thiền sư muốn chỉ cái ấy
cho chúng ta, hễ gặp phương tiện nào là sử dụng phương
tiện đó. Ở đây Ông già đưa chung trà, ở hội Linh Sơn
đức Phật đưa cành hoa, đều nhằm chỉ cho chúng ta nhận
ra tâm Phật sẵn có nơi mình. Chúng ta thật là người có
phước lớn mới biết nơi mình có sẵn ông Phật. Nếu thiếu
phước thì đâu biết mình có Phật. Nhưng phước này
ai cho ? Tất cả chúng ta đều có sẵn. Song, nếu được chỉ
thì biết, không được chỉ thì quên.
Như
vậy chúng ta tu là có kết quả trước mắt chớ không tìm
kiếm đâu xa. Ðừng nghĩ rằng tu không biết bao giờ mới
thành công, khéo ứng dụng là có kết quả. Trong mọi sinh
hoạt hằng ngày, đi, đứng, nói năng, làm việc, quét nhà,
nấu cơm v.v... không khởi vọng tưởng là chúng ta đang sống
trong Niết-bàn. Chỉ tại chúng ta không khôn ngoan, làm việc
này, mà tưởng chuyện khác mê nên luôn sống trong điên đảo
lầm. Tự mình chuốc khổ rồi kêu Phật cứu khổ, khổ đó
do ai làm mà kêu Phật cứu ? - Tự mình làm thì tự mình giải
chớ không ai giải khổ thế cho mình được. Chẳng hạn người
thân đi xa chưa về, mình lo sợ ngồi đứng không yên, đầu
óc rối bù, bèn đến đốt nhang cầu Phật gia hộ cho người
thân đi đường được bình
yên, tai qua nạn khỏi v.v...Tại
mình vọng tưởng quá rồi đâm ra hoảng hốt, cầu xin khấn
vái chớ chắc gì người thân mình gặp nạn ! Ðó là một
trong những chuyện mà chúng ta tự tạo khổ cho mình. Biết
được như thế, hằng ngày chúng ta luôn luôn sống trong tỉnh
giác yên lặng thì cuộc sống được bình an tốt đẹp.