B.GIẢNG
GIẢI
II-
TỰA
(Ðoạn
3)
TỤNG
:
Ðược
chỗ thảnh thơi hãy thảnh thơi,
Mây
tự bay cao nước tự trôi.
Chỉ
thấy mây đen nhồi sóng lớn,
Thuyền
câu chìm đắm chửa nghe rồi.
Âm
:
Ðắc
ưu du xứ thả ưu du,
Vân
tự cao phi thủy tự lưu.
Chỉ
kiến hắc vân phiên đại lãng,
Vị
văn trầm khước điếu ngư chu.
Ðược
chỗ thảnh thơi hãy thảnh thơi, mây tự bay cao nước tự
trôi. Hai câu này dẫn ý của hai câu trên. Ở đời có
rất nhiều người ở trong cảnh nhàn hạ thảnh thơi, mà không
chịu thảnh thơi, không ai bắt lo nghĩ bận bịu mà cứ bận
tâm lo nghĩ. Thật là người khờ đáng thương. Bây giờ tất
cả quí vị kiểm lại coi, nhất là Tăng Ni trong Thiền viện,
ở đây chúng tôi có bắt quí vị suy tính tìm cớ sanh nhai
không ? Có bắt quí vị ôn bài vở để thi cử không ? Có
bắt quí vị lo thiếu lo đủ không ? - Không bắt quí vị lo
gì hết, như vậy là cho quí vị thảnh thơi, thế mà quí vị
có chịu thảnh thơi không ? Có người thì thảnh
thơi, nhưng cũng có nhiều người chưa chịu thảnh thơi,
tâm bận nghĩ việc này lo việc kia, thật quá ngu khờ rất
đáng thương ! Ðược thảnh thơi mà không chịu thảnh thơi
không ngu là gì ? Người đời bị gia duyên ràng buộc, phải
lo cơm ăn áo mặc cho cha mẹ vợ con, lo an sinh xã hội, lo hưng
vong cho đất nước, đủ thứ lo nên chưa thảnh thơi là có
lý do. Còn Tăng Ni tu ở Thiền viện không phải bận tâm lo
gì cả, như vậy thì còn gì mà không thảnh thơi ? Thế nên
quí vị phải học thuộc lòng câu được chỗ thảnh thơi
hãy thảnh thơi. Tất cả phải siêng năng bằng cách thảnh
thơi; thảnh thơi như mây tự bay cao nước tự trôi.
Tuy cũng làm việc cũng hoạt động, nhưng hoạt động giống
như mây bay, như nước chảy vậy thôi. Nấu cơm thì cứ nấu
cơm, khiêng củi thì cứ khiêng củi, nhổ cỏ thì cứ nhổ
cỏ, nhưng làm như nước chảy như mây bay vậy đó. Sống
như vậy mới đúng tinh thần ở núi, chớ còn được thảnh
thơi mà không chịu thảnh thơi thì quá khờ, thật đáng thương
mà cũng đáng trách.
Chỉ
thấy mây đen nhồi sóng lớn, thuyền câu chìm đắm chửa
nghe rồi
nghĩa là sao ? Mây đen bay, gió đùa nước, sóng dậy; đó là
chuyện gió thổi thì sóng dậy, chớ không phải gió thổi
có ý làm chìm thuyền câu. Gió thổi thì sóng đùa, duyên nào
theo duyên nấy, nếu chúng ta là chiếc thuyền câu ở trong
cảnh đó, mau chèo vào bờ thì không bị chìm được yên ổn.
Ðâu phải mỗi lần gió là thuyền chìm ! Vậy tất cả chúng
ta phải tu làm sao như mây bay nước chảy vậy. Làm thì cứ
làm, sống cũng cứ sống, không dính mắc vào cái gì cả.
Mọi cái ngang trái ngược đãi của người chung quanh, coi như
gió thổi đùa sóng, chúng ta là chiếc thuyền, núp vào bờ
là an ổn. Nếu khi gió thổi sóng dậy, chúng ta bơi thuyền
ra đương đầu với sóng gió thì thuyền úp. Con người chúng
ta có những cái ngu rất đáng thương. Ở trên, trong chỗ thảnh
thơi mà không chịu thảnh thơi là cái ngu thứ nhất. Tới
đây, gió thổi sóng dậy là chuyện của gió Ðó
của sóng, chớ gió đâu có ý nhận chìm thuyền. Vậy mà chúng
ta không chịu chèo thuyền vô bờ, lại cứ chèo thuyền ra
khơi đương đầu với sóng gió nênthuyềnbịúp.
Ðó là cái ngu thứ hai. Quí vị hiện có mặt ở
đây có ai ngu như thế không ? - Càng học càng tu mới thấy
mình càng ngu. Người đời cứ tưởng mình khôn, nghe người
nói trái tai là xông vô gây chuyện. Người ta nói trái là
chuyện của người ta, mình vẫn là mình có dính dáng gì đâu,
vậy mà cũng xen vào để phiền não, không ngu là gì ? Học
qua bài kệ này quí vị ráng học cho thuộc để khôn lên.
Xưa nay không lối nào khác, người thông suốt thì cùng chung
một đường. Chư Phật đều có để phương tiện, vốn thuật
lại chí nguyện tiếp nối công phu. Tâm mong người trở thành
rường cột cho Phật pháp, để làm mẫu mực cho người sau
soi xét noi theo. Tôi theo khắp các Kinh trong Ðại tạng, mở
bày tâm địa ra nơi từ chương (chữ nghĩa) mà soạn thành
một bản luận lưu truyền, đặt tên là "Kiến Tánh Thành
Phật".
Thiền
sư Chân Nguyên nhắc lại, ngày xưa và hiện nay không có đường
nào khác, người thông suốt thì cùng đi chung một đường
chớ không có hai. Chư Phật đều có để phương tiện là
Kinh Luật Luậncho chúng ta
tìm hiểu. Sở dĩ Ngài thuật lại cuốn sách này là để tiếp
nối công phu và phương tiện của chư Phật, chư Tổ để
lại. Thâm tâm Ngài mong có người trở thành rường cột của
Phật pháp, để làm mẫu mực cho người sau soi xét noi theo.
Ngài xem các Kinh trong Ðại tạng, rồi mở bày tâm địa ra
nơi chữ nghĩa, soạn thành Luận để lưu truyền đề tên
là Kiến Tánh Thành Phật; là quyển Luận mà chúng ta
đang học đây.
Nhằm
nêu rõ nguyện lực ra đời, và giúp lo gánh vác sứ mạng
Như Lai, đời đời tiếp nối ngọn đèn Phật Tổ, làm sáng
rực con mắt của trời người. Ðời sau ai là người có chí
lớn, giữ gìn gia phong của Phật, phò trì tượng pháp an ổn
lâu dài, thì phước tuệ trang nghiêm tối thắng. Hoặc kẻ
thấy đài Cửu phẩm hư đổ và các Kinh bản cũ mục, thì
hãy khuyến hóa đàn na, cùng nhau góp sức hưng công tu bổ
lại, tự rất mừng vui cho mình, thật đã làm được nhân
duyên tốt đẹp. Nếu hay hết lòng đền đáp ân Phật, sẽ
sớm được Di Ðà thọ ký.
Ở
đây nói, vì ngài Chân Nguyên muốn làm rõ cái nguyện lực
trong đời này và phụ gánh vác sứ mạng của Như Lai, khiến
cho ngọn đèn của Phật Tổ đời đời được tiếp nối
sáng mãi, để cho cả trời người thấy được ngọn đèn
sáng đó. Thế nên Ngài ước mong đời sau ai là người có
chí lớn, thì gìn giữ gia phong của Phật, phò trì tượng
pháp được an ổn lâu dài. Người đó sẽ được phước
tuệ trang nghiêm tối thắng.
Ngài nói nếu kẻ nào thấy đài Liên hoa hư đổ,
hoặc những bản Kinh cũ đã hư mục thì hãy khuyến hóa đàn
na thí chủ góp sức tu bổ lại. Ðược như vậy mới là người
tạo nhân duyên tốt đẹp. Người tu theo Tịnh độ, hết lòng
đền đáp ơn Phật như vậy thì sẽ được Phật Di Ðà thọ
ký. Sau đây là bài kệ cảnh tỉnh khuyên đàn na thí chủ
bố thí ủng hộ.
Kệ
cảnh tỉnh đàn na:
Quyến
thuộc đều bỏ đi,
Tiền
của trả lại người.
Chỉ
căn lành gìn giữ,
Ðường
hiểm lương thực đầy.
Âm
:
Quyến
thuộc giai xả khứ
Tài
hóa tán hoàn tha
Ðản
trì tự thiện căn
Hiểm
đạo sung lương thực.
Kinh
nói: "Mình được độ rồi độ người, tự lợi rồi lợi
tha, người đã biết tỏ bày cho người chưa biết, người
giác trước chỉ dạy cho người giác sau". Như một trăng hiện
thành các trăng nơi ngàn sông, trăng trăng rọi sáng rực; tợ
một ngọn đèn mồi truyền cho đèn nơi muôn nhà, đèn đèn
nối tiếp sáng mãi. Chính quyển Luận này là tâm tông của
Phật Tổ. Chính quyển luận này là Kiến tánh thành Phật.
Diệu lý của luận này như tia lửa mặt trời, được chừng
một mảy tơ thì sáng rỡ không cùng tận. Xem học mà ngộ
đạo thì như uống nước cam lồ. Người lượng cao quán sâu
thì suốt tột đáy nguồn của pháp.
Bủa
lưới giăng ngang sông,
Ðược
cá một mắt lưới.
Kinh
Lục đầy pháp giới,
Ngộ
đạo không một chữ.
La
võng bố hoành giang,
Ðắc
ngư nhất mục võng.
Kinh
Lục mãn pháp giới,
Ngộ
đạo vô nhất tự.
Phật
Tổ trong ba đời,
Bốn
mắt cùng nhìn nhau.
Xưa
nay không hai lối,
Thành
Phật sát na thôi.
Tam
thế chư Phật Tổ,
Tứ
mục cộng tương quan.
Cổ
kim vô nhị đạo,
Thành
Phật sát na gian.