B.GIẢNG
GIẢI
II-
TỰA
(Ðoạn
2)
Hòa
thượng Chân Nguyên là người quê ở làng Tiền Liệt, huyện
Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, trước kia còn đồng tử đi xuất
gia theo Phật, lên thẳng chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được ý
chỉ tông ấn dòng Trúc Lâm với Thiền sư Chân Trú hiệu Tuệ
Nguyệt. Không bao lâu Thiền sư Chân Trú nghiễm nhiên trở
về không (tịch). Sư lại gặp thiện tri thức chung nhóm ba
huynh đệ, đồng chí hướng, đồng tu tập, đồng giới phẩm,
tham học thành tài.
Thiền
sư Chân Nguyên người tỉnh Hải Dương, lúc còn bé Ngài đi
thẳng lên chùa Hoa Yên núi Yên Tử, xuất gia với Thiền sư
Chân Trú. Ngài xuất gia không bao lâu Thiền sư Chân Trú tịch,
Ngài mới tìm thiện hữu tri thức để học đạo. Duyên lành
gặp được ba người bạn đồng chí hướng,
đồng giới phẩm, cùng tham học cùng tu tập, được thành
tài.
Sư
y cứ Kinh Phạm Võng, Như Lai đã phó chúc: "Nếu trong khoảng
ngàn dặm có bậc Ðại tông sư, phải mau đến ân cần cầu
xin thọ giới Bồ-tát". Ví như lầu cao bốn tầng phải theo
thứ lớp đi lên. Cũng vậy bốn đàn giới phẩm có thể lên
tới địa vị Phật. Sư lại là người học rộng thấy trong
Kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ Huệ Năng đã được ấn ký ở
Hoàng Mai, rồi gặp nhiều hoạn nạn chưa kịp đăng đàn thọ
giới, sau đó cũng thỉnh chư Tăng đồng đến chứng cho cạo
tóc, thọ giới mới được tròn sáng. Nếu thực là đệ tử
Phật không được trái bỏ vượt qua. Như Lai đã nói, quyết
phải thuận theo. Ngày trước đã có việc như trên, ngày nay
đâu không việc này. Muốn được quả thù thắng, phải tuân
theo điều này mà vâng làm. Sư chuẩn bị đầy đủ ca sa,
tọa cụ, pháp phục, sắm lễ vật với tâm thành, vì pháp
vượt xa xôi thẳng đến chùa Vĩnh Phúc trên núi Tôn Côn Cương,
phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, một lần nữa đảnh lễ Tôn sư Minh
Lương, tức Hòa thượng Mãn Giác truyền pháp tông Lâm Tế,
thỉnh cầu lên đàn thọ giới Bồ-tát. Trong Kinh Phật nói:
bởi người đắc đạo vốn do nhân duyên từ nhiều kiếp
đã ngộ sâu chân như mà cảm kích đến Phật Tổ.
Sau
khi Hòa thượng Chân Trú tịch, thì ngài Chân Nguyên cùng với
ba người bạn đồng tu mới đi học đạo. Lúc đi học đạo
các Ngài y cứ nơi Kinh Phạm Võng. Trong Kinh có dạy "nếu trong
khoảng ngàn dặm có bậc Ðại tông sư phải mau đến ân cần
xin thọ giới Bồ-tát". Thọ giới để tu giống như cái lầu
cao bốn tầng phải theo thứ lớp đi lên. Trước hết là bước
lên tầng thứ nhất, rồi lên tầng thứ hai, rồi lên tầng
thứ ba, tầng thứ tư... Giới luật cũng vậy, tầng thứ nhất
là mười giới Sa-di, tầng thứ hai là hai trăm năm mươi giới
Tỳ-kheo, tầng thứ ba là năm mươi tám giới Bồ-tát, bên
Tăng chỉ có ba tầng. Bên Ni có đủ bốn tầng là Sa-di-ni,
Thức-xoa, Tỳ-kheo ni và Bồ-tát giới. Người theo bốn đàn
giới phẩm này tu hành có thể tiến đến quả vị Phật.
Thiền
sư Chân Nguyên là người học rộng, xem Kinh Pháp Bảo Ðàn,
thấy kể lại việc Lục Tổ Huệ Năng được Ngũ Tổ ấn
chứng cho, sau đó gặp nạn trốn trong rừng, nhưng sau khi hết
nạn ra giáo hóa, Ngài cũng cạo tóc thọ giới. Nếu là đệ
tử Phật thì đối với giới luật không được trái bỏ
vượt qua, dù đã ngộ đạo và được ấn chứng. Vì đó
là lời dạy của Như Lai, quyết phải làm theo, ngày xưa đã
như vậy thì ngày nay cũng phải như vậy. Thế nên ngài Chân
Nguyên mới chuẩn bị đầy đủ ca sa, tọacụvà
lễ vật, vượt đường xa thẳng đến chùa Vĩnh Phúctrên
núi Côn Cương, ở phủ Từ Sơn, Kinh Bắc (Bắc Ninh). Ngài
đảnh lễ Thiền Sư Minh Lương một lần nữa để tham học,
sau Ngài ngộ đạo và được truyền pháp của tông Lâm Tế.
Từ đây, Ngài đã đầy đủ giới đức và là người ngộ
đạo, nên nói người có chủng duyên lành nhiều đời nhiều
kiếp, nên khi đi tu có sự cảm kích đến Phật Tổ, khiến
gặp được những bậc cao tăng thạc đức, chỉ dạy cho đạo
lý chân chánh. Ngược lại nếu không có duyên phước ở nhiều
đời thì không có cơ hội tốt đó.
Sư
xúc động than rằng: "Phật xưa sớm được công quả cao siêu,
do siêng tu thắng hạnh đầu đà. Hương hoa muôn vật là ngoại
tài, cánh tay hay một ngón tay là nội thân tài, ân Phật khó
đền đáp, đức Tổ đâu dễ trả !" Sư bèn cung kính đối
trước tượng Phật dùng lửa đốt ngón tay phát nguyện: "Trước
đốt một ngón tay, nguyện đem pháp cúng dường này đền
đáp ân sâu của Phật Tổ, Sư Trưởng". Sau Sư đốt tiếp
một ngón tay nữa: "Nguyện đem pháp cúng dường này, nương
theo Kinh Phạm Võng thọ giới Bồ-tát và thẳng lên mười
đại nguyện lực Bồ-đề. Nguyện đời đời tiếp nối đèn
tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa y bát của chư Tổ.
Vì tông và giáo đốt ngón tay, kính dâng lên Tổ Ðiều Ngự.
Tùy nguyện của chúng hữu tình, mà cảm đến trí vô lậu".
Ngài
Chân Nguyên khi đã nhận được yếu chỉ Thiền Tông Ngài
xúc động than rằng: Phật xưa sớm được công quả cao
siêu, do siêng tu thắng hạnh đầu đà. Hương hoa muôn vật
là ngoại tài, cánh tay hay một ngón tay là nội thân tài, ân
Phật khó đền đáp, đức Tổ đâu dễ trả. Ngài nhớ
đến công ơn của đức Phật trải qua nhiều năm tu hành khó
khổ mới thành Phật. Ngài nghĩ ngày nay mình ngộ được đạo,
thấu được lý Thiền, mình phải làm sao ? Lấy cái gì cúng
dường Phật để tỏ lòng biết ơn ? Ngài nói rằng hương
hoa muôn vật... là ngoại tài là cái ở bên ngoài. Còn cánh
tay hay ngón tay là nội tài, Ngài đem hết tâm thần và sinh
mạng để cúng dường Phật Tổ, mới mong đền đáp được
phần nào cái ơn khó đền của Phật Tổ. Ngài cung kính đối
trước tượng Phật, dùng lửa đốt ngón tay phát nguyện:
Trước
đốt một ngón tay, nguyện đem pháp cúng dường này đền
đáp ân sâu của Phật Tổ Sư Trưởng. Quí vị thử tưởng
tượng, ở trước tượng Phật đưa ngón tay vào lửa cho nó
cháy từ từ, cháy cho đến hết ngón tay, thật là can đảm.
Chúng ta ngày nay lúc thọ giới Bồ-tát, chỉ đốt một chút
trên đầu mà còn thấy đau điếng, huống là để ngón tay
trong lửa, cho nó cháy lụn từ từ đến cụt ngón tay ! Ðó
là ý chí siêu phàm, vì Phật Tổ mà không tiếc thân mạng
của Ngài. Sau đó Ngài lại đốt tiếp một
ngón tay nữa với lời phát nguyện: Nguyện đem pháp
cúng dường này, nương theo Kinh Phạm Võng, thọ giới Bồ-tát
và thẳng lên mười đại nguyện lực Bồ-đề. Nguyện đời
đời tiếp nối đèn tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa
y bát của chư Tổ. Vì tông và giáo đốt ngón tay, kính dâng
lên Tổ Ðiều Ngự. Tùy nguyện của chúng hữu tình mà cảm
đến trí vô lậu. Khi Ngài thọ giới Bồ-tát, trong Kinh
Phạm Võng có nói cúng dường nội tài bằng cách thiêu thân,
hoặc thiêu ngón tay hoặc thiêu ngón chân v.v... Thế nên Ngài
đốt ngón tay thứ hai là vì tông (Thiền) giáo (Kinh) mong đời
đời tiếp nối trí tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa
y bát của chư Tổ. Ngài dâng lên cho Tổ Ðiều Ngự Giác Hoàng
chứng giám và tùy theo tâm niệm của chúng hữu tình mà trí
vô lậu của Ngài được tỏ sáng để hướng dẫn dìu dắt
chúng sanh.
Tóm
lại, ngài Chân Nguyên vì cái ơn cao dày của Phật, Tổ, Sư
trưởng nên Ngài hy sinh thân mạng để đền đáp, đó là
Ngài đốt ngón tay thứ nhất. Ngài đốt ngón tay thứ hai Ngài
nguyện đời đời kiếp kiếp luôn luôn tiếp nối đèn trí
tuệ của Phật, và kế thừa y bát của Tổ để làm lợi
ích cho chúng sanh. Ðốt hai ngón tay với hai ý nguyện rất
cao sâu.
Sư
dốc chí cầu quả Phật Vô Thượng Bồ-đề nên nhiếp niệm
nơi núi rừng, ở yên chốn vắng vẻ, tư duy Phật pháp, mở
rộng quy mô to lớn, còn mãi với trời đất, gầy dựng nền
tảng cho tông và giáo, quần sanh được lợi lạc, pháp giới
đều thấm nhuần ân đức.
Sau
khi ngộ đạo và đốt tay cúng dường phát nguyện, Ngài luôn
ở nơi vắng vẻ yên tĩnh, để suy gẫm về Phật pháp và
mở bày phương tiện hướng dẫn cho người sau tu, mong Phật
pháp còn mãi với trời đất. Vì vậy mà Ngài gầy dựng nền
tảng cho tông và giáo để cho quần sanh được lợi lạc,
pháp giới được thấm nhuần ân đức của Phật. Ðó là
nguyện lớn vì lợi ích chúng sanh mà Ngài muốn cho Phật pháp
được bền lâu.
Sư
từng chọn nơi phúc địa Việt Nam, với cảnh chùa Quỳnh
Lâm, Hoa Yên là hai cảnh danh lam, khiến trở thành như trên
hội Linh Sơn nước Tây Thiên Trúc, là cột trời ở Việt
Nam, bảo phường của Phật Tổ, nêu cao đây là Cực lạc.
Ngài
Chân Nguyên chọn nơi để giáo hóa cho mọi người. Dưới
đất bằng Ngài chọn chùa Quỳnh Lâm, trên núi Ngài chọn
chùa Hoa Yên là hai chỗ được coi là danh lam phúc địa, để
gầy dựng cho có cơ mở mang sáng suốt. Giống như trên hội
Linh Sơn ngày xưa Phật giảng Kinh ở Ấn Ðộ và cũng tương
tợ như cõi Cực lạc vậy.
Người
dân thường thì thuế vụ đầy đủ, làm thích tử tu hành
thì đốt hương chúc Thánh: "Mạch nước lâu dài, Thiền tông
sáng rỡ, tượng pháp lưu
truyền, độ người vô lượng".
Là
công dân sống trong đất nước, thường phải có bổn phận
đóng thuế, làm tất cả nhiệm vụ đối với quốc gia cho
đầy đủ. Còn người tu thì phải đốt hương chúc Thánh.
Tức là đốt hương để cầu nguyện cho đất nước được
thái bình bền vững lâu dài và Thiền tông thì sáng rỡ, Phật
pháp truyền mãi trên đời, làm lợi ích cho người vô số.
Từ
đó Sư hăng hái phát chí nguyện lớn, khuyến hóa mọi người
khắp nơi đem tiền của kết duyên lành, góp phần công đức,
rồi ra sức tạo dựng đài "Cửu Phẩm Liên Hoa". Qua chín năm
thì hoàn thành ba đài ở ba nơi:
1.
Ðài Cửu phẩm ở chùa Quỳnh Lâm, núi Tiên Du.
2.
Ðài Cửu phẩm ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử.
3.
Ðài Cửu phẩm ở chùa Linh Ứng, huyện Thanh Hà.
Ngài
Chân Nguyên là người tu Thiền ngộ lý Thiền, nhưng khi truyền
bá Phật pháp trong quần chúng, Ngài dùng phương tiện vừa
Thiền vừa Tịnh. Về Tịnh Ngài tổ chức dựng những đài
Cửu phẩm liên hoa cho người vừa đi vừa quay vừaniệmPhật.
Cửu phẩm liên hoa gồm có thượng phẩm thượng sanh, trung
phẩm trung sanh, hạ phẩm hạ sanh; trong thượng phẩm lại
có thượng, trung, hạ; trong trung phẩm cũng có thượng, trung,
hạ; trong hạ phẩm cũng có thượng, trung, hạ, tất cả là
chín phẩm. Người tu giỏi thì được sanh lên thượng phẩm,
người tu vừa vừa thì được sanh lên trung phẩm, người
tu thấp nhất thì được sanh lên hạ phẩm. Ai tu cũng được
lên đài sen, cao thấp gì cũng có chỗ hết, không người nào
mất phần cả. Phương tiện như thế người dân quê thấy
dễ tu mới thích tu. Giả sử người dân đang nhọc nhằn làm
ăn chưa tu kịp, lúc gần chết nhớ niệm Phật, tối thiểu
cũng được sanh lên hạ phẩm. Ðó là phương tiện giáo hóa
của Ngài hồi xưa. Ba đài Cửu phẩm liên hoa đặt ở ba chùa.
Ðài thứ nhất đặt ở chùa Quỳnh Lâm núi Tiên Du. Chùa Quỳnh
Lâm ở vùng đồng bằng gần mé sông, đến đó chúng ta không
thấy núi. Ðài thứ hai đặt ở chùa Hoa Yên trên núi Yên
Tử. Ðài thứ ba ở chùa Linh Ứng, huyện Thanh Hà.
Sư
lại khắc in các Kinh Pháp Hoa... đem hết lòng làm Phật sự
để đền đáp ân Phật. Tượng đức Di Ðà nổi bật trên
đài Cửu phẩm, và thêm tu sửa tượng điện, gác chuông chùa
Long Ðộng, trong ngoài được vuông tròn, công đức viên mãn,
cũng không quên nguyện lực, quyết chí công phu chỉ cầu quả
Phật. Núi Yên Tử vốn là chỗ tuhành,
tùy thời dạo đi qua lại chùa Hoa Yên, Long Ðộng và am Thiền
Dược, được thú ở yên lặng lẽ, lại có phước duyên
sanh ra gặp được Phật pháp.
Ðây
là nói đến việc hoằng hóa của Ngài. Ngài khắc in lại
Kinh Pháp Hoa và các Kinh khác, đồng thời Ngài tạo tượng
Phật A Di Ðà đặt trên đài Cửu phẩm liên hoa, nào là sửa
tượng Phật, điện Phật, gác chuông chùa Long Ðộng, đồng
thời Ngài quyết chí công phu tu cầu Phật quả. Ngài thường
ở chùa Hoa Yên, song Ngài còn tùy duyên qua lại am Thiền Dược
trên núi Yên Tử, Ngài cũng tới lui chùa Long Ðộng, vì những
nơi này vắng vẻ thanh tịnh rất thích hợp với người tu.
Ðó là thời gian vừa tu vừa làm Phật sự của Ngài. Qua đoạn
này, chúng ta thấy ngài Chân Nguyên có lối truyền bá Phật
pháp khác hơn Phật giáo đời Trần. Phật giáo đời Trần
nói tới Tịnh độ, chỉ đề cập tới lý Tịnh độ, như
nói "Tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh độ". Ðến đời Lê có
lẽ ngài Chân Nguyên thấy cơ duyên của người trí thức đối
với Phật giáo hơi kém. Vì đời Lê trọng Nho khinh Phật,
cho nên người trí thức ở triều đình ít để ý tới Phật.
Người để ý tới Phật là người bình dân, nên Ngài phải
hạ thấp phương tiện để người bình dân tu học. Ðời
Trần vua chúa tu Thiền, bá quan là người trí thức cũng nghiên
cứu Thiền, nên không cầnhạthấpphươngtiện.
ÐờiLêgiớitrí
thức theo Nho giáo, họ không nghiên cứu đạo Phật, chỉ có
người bình dân thì hướng theo đạo Phật, nên Ngài hạ thấp
phương tiện, bằng cách tạo những đài Cửu phẩm liên hoa
là sự Tịnh độ, để cho người bình dân thấy dễ tu dễ
gần với Phật pháp hơn.
Triều
Lê niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), đức Giác Hoàng Cổ Phật
sanh trở lại để mở bày hiển rõ tạng Kinh. Mây từ nhuận
khắp, mưa pháp thấm đều, từ hàng Thích tử cho đến muôn
dân đồng được hưởng ân huệ. Vua tôi mừng tụ hội, đúng
thời tiết nhân duyên, Phật pháp hiện tiền. May được chứng
quả mà gánh vác Phật pháp, thay Phật tuyên dương. Ðã rõ
biết pháp tánh rỗng rang vắng lặng, tròn đồng thái hư;
Chân như trong lặng nhiệm mầu, vốn không một vật. Tuy trong
ánh tịch quang vốn không một pháp, mà phương tiện chỉ bày
có nhiều cửa.
Triều
Lê, vua Lê Hy Tông bài Phật, nhưng sau khi được Thiền sư
Tông Diễn cảnh tỉnh, nhà vua hối hận quay về với Phật
pháp. Vua ủng hộ cho Tăng Ni làm Phật sự, nên trong thời
này các vị Thiền sư tán thán vua Lê Hy Tông, xem vua Lê Hy
Tông như là hậu thân của Ðiều Ngự Giác Hoàng. Ðiều Ngự
Giác Hoàng đã tịch ba trăm năm rồi, bây giờ vua Lê Hy Tông
ra đờicũngkínhtrọngvàlo
mở mang truyền bá Phật pháp, nên được xem là hậu thân
của Ðiều Ngự Giác Hoàng. Phải hiểu chỗ này là như vậy,
nếu không thì nói đức Giác Hoàng Cổ Phật sanh trở lại
thì không biết sanh làm sao. Triều đại nhà Lê thì trọng
Nho khinh Phật, nhưng đến đời vua Lê Hy Tông, Phật pháp mới
được truyền bá rộng rãi, nhà nhà mới được thấm nhuần
mưa pháp. Hàng tăng sĩ và muôn dân đều được thấm nhuần
ân huệ của nhà vua, tu hành khiến cho Phật pháp được sống
dậy, nên nói Phật pháp được hiện tiền.
May
được chứng quả mà gánh vác Phật pháp thay Phật tuyên dương.
Người tu hành được chứng quả thì ra gánh vác việc đạo,
thay Phật tuyên dương chánh pháp. Ðã rõ biết pháp tánh
rỗng rang vắng lặng tròn đồng thái hư; Chân như trong lặng
nhiệm mầu vốn không một vật. Ðứng về mặt pháp tánh
thì rỗng rang vắng lặng tròn đồng như thái hư. Ðứng về
mặt chân như thì trong suốt, yên tĩnh, nhiệm mầu vốn không
có một vật. Tuy trong ánh tịch quang vốn không một pháp,
mà phương tiện chỉ bày có nhiều cửa. Trong ánh tịch
quang là trong pháp thân. Pháp thân Phật thì lặng lẽ mà sáng
suốt, vốn không có một vật, nhưng đứng về phương tiện
chỉ bày dạy bảo thì có nhiều pháp môn. Ðoạn này nói trên
lý đạo thì không có ngôn ngữ, không có một cái gìđểtrìnhbàyđược.
Nhưngđứngvề
phương tiện thì lập bày nhiều pháp môn để cho người hiểu
tu theo.
Xét
ngày xưa có thực hành, ngày nay mới có thể học theo. Vì
vậy Kinh Kim Cang phần ba mươi hai. Hội giải câu "Như như
bất động", Thiền sư Xuyên Lão nói: "Một câu rốt sau mới
đến lao quan. Liền được chư Phật ba đời bốn mắt nhìn
nhau, sáu đời Tổ sư có phần thối thân".
Suy
gẫm lại, nhờ ngày xưa đã có tu có hiểu, nên ngày nay ra
đời, mới gặp Phật pháp, mới có thể theo học và tu. Sau
đây là dẫn Kinh Kim Cang. Vì vậy Kinh Kim Cang phần ba mươi
hai. Hội giải câu "Như như bất động". "Như như bất
động" là sao ? Thiền sư Xuyên Lão giải câu "Như như bất
động" là: một câu rốt sau mới đến lao quan. Liền
được chư Phật ba đời bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ
sư có phần thối thân. Thiền sư Xuyên Lão trong quyển
Thiền Tông Bản Hạnh tôi có nói rõ lịch sử của Ngài rồi.
Hôm nay ở đây tôi chỉ nhắc lại sơ thôi. Thiền sư Xuyên
Lão nguyên là Thiền sư Ðạo Xuyên ở đời Tống thuộc dòng
Lâm Tế, Ngài là người tu hành ngộ đạo. Người đời thường
đem Kinh Kim Cang tới hỏi, Ngài giải đáp rất thông suốt,
nên người đời yêu cầu Ngài chú thích Kinh Kim Cang. Bản
Kinh Kim Cang Ngài chú thích gọi
là Xuyên Lão Kim Cang Kinh chú. Ngài dùng hình ảnh Thiền để
giảng Kinh Kim Cang rất hay. Ðây là câu làm bằng chứng: Trong
Kinh Kim Cang có câu như như bất động. Ngài giải một
câu rốt sau mới đến lao quan, nghĩa là "như như bất động"
là chỗ câu rốt sau đến lao quan. Lao quan là cửa chót trong
tam quan, tu đến đây rồi thì liền được chư Phật ba
đời bốn mắt nhìn nhau. Tới đây thì không thể dùng
văn tự ngôn ngữ để nói năng bàn luận mà chỉ nhìn nhau
thôi. Và, tới đây sáu đời chư Tổ cũng thối lui không nói
lời nào cả. Ðó là Thiền sư Xuyên Lão giải câu như như
bất động. Như vậy, "như như bất động" dưới con mắt
nhà Thiền là đã đến chỗ lao quan, là cổng chót. Ðến cổng
chót rồi thì không cần lời nói, mà chỉ nhìn nhau rồi lãnh
hội. Nhìn nhau lãnh hội thì không động. Chính cái nhìn nhau
lãnh hội đó, nên mới nói ba đời chư Phật bốn mắt nhìn
nhau. Và, chư Tổ đến đó chỉ có bước lùi, chớ không giải
thích gì được, nên nói chư Tổ thối thân. Lối giải thích
này của Thiền sư Xuyên Lão được mọi người khen là câu
giải thích rất hay.
Ðáng
bảo là sông ngòi toàn đóng băng, nước chẳng thông thoát;
tột mắt đều là gai góc, không chỗ đặt chân. Ðến trong
ấy thêm một mảy tơ, như trong mắt để kim; bớt một mảy
tơ, dường trên thịt lành khoét thành thương tích. Chẳng
phải vì đoạn dứtyếutân,
bởi do người biết pháp e ngại.
Ðây
tán thán câu giải thích của Thiền sư Xuyên Lão: Ðáng
bảo là sông ngòi toàn đóng băng. Ngài Xuyên Lão giải
đáp như vậy giống như sông ngòi đóng băng không còn một
chút nước lỏng, nước chẳng thông thoát nên ngừng chảy.
Tột
mắt đều là gai góc. Nhìn tột cùng chỗ nào cũng là gai
góc, không có chỗ để chân. Như vậy là khen câu giải thích
của Thiền sư Xuyên Lão, làm cho người nghe bặt dứt hết
nghĩ suy không còn chỗ suy gẫm. Ðến trong ấy thêm một
mảy tơ, như trong mắt để kim; bớt một mảy tơ, dường
trên thịt lành khoét thành thương tích. Ðối với thể
"như như bất động", nếu thêm một chút nhỏ xíu bằng mảy
tơ cũng giống như là để kim trong con mắt. Còn nếu bớt
một chút cũng giống như là thịt lành mà khoét thành thương
tích; thêm là họa mà bớt cũng là họa. Như vậy chỗ "như
như bất động" không thể thêm hay bớt được. Chẳng phải
vì đoạn dứt yếu tân, bởi do người biết pháp e ngại.
Tân là bến đò, là chỗ trọng yếu để mọi người lên
xuống đò qua sông, chỗ quan trọng mà chận lại gọi là đoạn.
Ý nói rằng chỗ như như bất động không thể dấy niệm
phân biệt, nếu khởi tâm phân biệt là đã trái rồi nên
người biết pháp chẳng muốn đoạn dứt chỗ trọng yếu
của Phật Pháp mà ngại người khởi tâm suy nghĩ về chỗ
như như bất động là sai lầm.
Tuy
nhiên như thế, Phật pháp chỉ như trên đây, bèn thấy trên
đất bằng chết chìm, đâu có đèn đèn mồi sáng mãi.
Tới
đây nói ngược lại, tuy chỗ cứu cánh là như vậy, nhưng
nếu Phật pháp chỉ toàn là lời nói dứt nghĩ suy hết thì
sao ? - Bèn thấy trên đất bằng chết chìm. Trên đất
bằng không có nước tại sao lại chết chìm ? Vì đâu có
đèn đèn mồi sáng mãi. Lý này Thiền sư Trường Sa Cảnh
Sầm nói "Nếu ta một bề nêu cao tông giáo, thì trong pháp
đường này cỏ mọc cao một trượng". Vì nói mà không cho
hiểu, không cho suy nghĩ thì đâu có ai chịu đi nghe, không
người đi nghe thì giảng đường vắng người không ai lui
tới, nên cỏ mọc cao cả trượng. Song, nếu muốn giảng đường
có người lui tới để nghe giảng, thì phải phương tiện
hạ thấp xuống mới có người nghe. Có người nghe thì mới
có người hiểu, có người hiểu thì mới có đèn đèn mồi
sáng mãi. Chớ nói không cho hiểu, không hiểu thì không có
người nghe, học thì làm sao có người tiếp nối. Thế nên
ngài Chân Nguyên nói rằng, lời giải đáp của Thiền sư Xuyên
Lão thật là chí lý, tột cùng. Nhưng nếu ai cũng giải như
vậy thì Phật pháp sẽ suy, vì không có người theo tu học.
Không có người theo tu học thì không có sự kế thừa tiếp
nối, làm cho sáng rạng Tổ tông, cho nên ngài Chân Nguyên mới
lập bày phương tiện là lập đài Cửu phẩm liên hoa.
Thượng
tọa Xuyên ngày nay chẳng khỏi đoạt thức ăn trong miệng
cọp mạnh, giành hạt châu dưới hàm rồng dữ, mở toang cửa
mầu của bậc Thánh trước, người hậu học có lối tiến
thân. Buông ra một đường, lại đâu có ngại ? Nói thì toàn
bày pháp thể, nín thì riêng lộ chân thường, động thì chiếc
hạc mảnh mây, tịnh thì an non sắp núi, tiến một bước
như voi chúa xoay đầu, lùi một bước tợ sư tử gầm rống,
pháp vương pháp lệnh đang hành, liền hay tự tại đối với
pháp. Chỉ như một câu rốt sau, làm sao nói ? Lại nói được
chăng ?
Ngài
Chân Nguyên khen Thiền sư Xuyên Lão giải thích như vậy giống
như đoạt thức ăn trong miệng cọp mạnh, giành hạt châu
ở dưới hàm rồng dữ. Ðối với cọp mạnh, rồng dữ mà
giựt được thức ăn giành được hạt châu, là mở toang
cửa mầu của bậc Thánh trước, khéo làm cho người hậu
học có lối để tiến lên. Bây giờ nói cái đặc biệt "Buông
ra một đường lại đâu có ngại". Như vậy thì mở một
đường ra cho người thì có ngại gì ?
Nói
thì toàn bày pháp thể, nín thì riêng lộ chân thường.
Nếu nói thì nói cho người nhận ra pháp thể. Còn nếu nín
thì nín mà vẫn hiện bày được cái chân thường, đó là
cái kỳ đặc. Ðộng thì chiếc hạc mảnh mây, tịnh thì
an non sắp núi. Hai câunàyrất
nên thơ, Ngài nói nếu động thì động như chim hạc bay trên
hư không, như áng mây bay giữa bầu trời; chim hạc áng mây
bay qua không lưu lại dấu vết, không dính không kẹt vào hư
không, bầu trời. Và, nếu tịnh thì vững vàng như núi như
non. Người tu đến chỗ cao siêu rồi thì động cũng được,
tịnh cũng được. Nhưng động thì phải động như mây như
hạc, còn tịnh thì phải tịnh như núi như non, chớ động
như khỉ như vượn, tịnh như cục đất như hòn đá thì không
được. Trong chúng này nếu động tịnh được như vậy thì
tôi cho dạo phố, nếu không được thì phải
khép mình ở trong nội viện để tu. Tại sao vậy ? Vì
động thì dính mắc nên ra ngoài không được, còn tịnh
thì lại chôn vùi không vững như non như núi thì cũng không
được. Tiến một bước như voi chúa xoay đầu, lùi
một bước tợ sư tử gầm rống. Thật là oai ! Bước
tới thì như voi chúa xoay đầu, lùi lại thì giống như sư
tử gầm rống. Như vậy thì cái gì cũng là cái kỳ đặc
hết. Pháp vương pháp lệnh đang hành. Như vậy thì cái
lệnh pháp vương hay pháp lệnh đang thi hành, chớ không lúc
nào mà tầm thường. Liền hay tự tại đối với pháp.
Người như vậy thì hay tự tại đối với pháp. Chỉ như
một câu rốt sau, làm sao nói ? Lại nói được chăng ?
Ðây Ngài dùng hai câu thơ trả lời:
Mây
ở đầu non nhàn quá đỗi,
Nước
chảy dưới khe rất rộn ràng.
Ðó
là nói câu rốt sau. Quí vị thấy câu rốt sau chưa ? Mây
ở đầu non nhàn quá đỗi nghĩa là sao ? Mây bay lơ lửng
ở đầu núi, mây không có ý niệm bám dính đầu núi. Nó
ở đó mà nó vô tâm. Nước chảy dưới khe rất rộn ràng.
Nước chảy dưới khe suối tuy rất rộn ràng, nhưng không
có niệm phải chảy thật nhanh hay chảy thật chậm. Vậy câu
rốt sau là câu gì ? - Tịnh như mây ở đầu núi, mà động
như nước chảy dưới khe. Cái nào cũng cónhưng
mà vô tâm. Như vậy, chúng ta tu làm sao đối với cảnh nào
dù đẹp hay xấu, tâm chúng ta vẫn an nhàn tự tại, không
dính mắc như mây ở đầu núi, như nước chảy dưới khe.
Sống được như vậy mới thấu lý như như bất động trong
Kinh Kim Cang.