B.GIẢNG
GIẢI
II-
TỰA
(Ðoạn
1)
"Kiến
Tánh Thành Phật" là
liễu ngộ xưa nay không một vật. Nguồn linh rỗng lặng, trong
sáng tròn đồng cả thái hư. Pháp tánh bao trùm, nghiễm nhiên
ánh sáng soi suốt nơi sát hải, rõ ràng lồ lộ ngay trước
mắt. Bản tánh Như Lai tự như mà ứng hiện trên trời dưới
đất, nên hay tùy loại, tùy hình, hoặc cõi này phương khác
thị hiện ra đời độ thoát quần sanh. Khai quyền thì phương
tiện có muôn pháp, hiển thật thì hội ngộ về một tâm.
Trỏ Phật quả Bồ-đề vô tướng, vốnrỗng
lặng tròn đồng thái hư. Phó pháp ấn tâm tông Bát-nhã lộ
bày bốn mắt nhìn nhau. Trong Kinh Lăng Già, quyển hai, đức
Phật Thích Ca đã chỉ bày rành rõ. Hàng hậu học ai còn ngờ
vực xin hãy mau tìm Kinh tra cứu, tự nhiên nghi ngờ hết sạch
mà được chứng thật, đốn ngộ kiến tánh thành Phật. Cần
biết diệu lý của Phật pháp, chẳng dính dáng gì đến văn
tự ngôn ngữ, bặt hết mọi hý luận, bản tế trong lặng
tròn đầy, ba đời chư Phật cuối cùng đành ngậm miệng
không lời, nhiều đời Tổ sư rốt ráo cũng im hơi lặng tiếng.
Nên đức Thế Tôn giơ cành hoa chỉ cho đại chúng, ngài Ma-ha-ca-diếp
khế hội mỉm cười, thầy trò bốn mắt nhìn nhau, tuệ nhãn
chiếu sáng lẫn nhau, thầm lặng ấn tâm, phó pháp truyền
y nối vị Tổ.
Kiến
tánh thành Phật là liễu ngộ xưa nay không một vật.
Mở đầu Ngài nói về lý do Kiến tánh thành Phật. Kiến tánh
thành Phật là gì ? Là liễu ngộ xưa nay không một vật. Người
nào liễu ngộ xưa nay không một vật thì gọi người đó
kiến tánh. Quí vị có nhớ ai liễu ngộ lý này không ? Lư
Hành giả sau khi ngộ lý này, Ngài làm bài kệ trình Ngũ Tổ,
câu thứ ba nói rất rõ lý này: "Bản lai vô nhất vật" nghĩa
là "xưa nay không một vật". Ðó là Ngài liễu ngộ hay kiến
tánh. Tại sao thấy "xưa nay không một vật" mà gọi là kiến
tánh ? Vì cái gì chúng ta thấy được, sờ mó được đều
là vật, như cái nhà, cái cây, cái bàn, cái ghế... Vậy, cái
gì mắt thấy được tay sờ mó được đều là vật. Nếu
là vật thì có hình tướng, vì có hình tướng nên sanh diệt
vô thường, sanh diệt vô thường
thì tạm bợ hư giả. Bản tánh thì không sanh diệt không bị
vô thường chi phối, vì nó không phải là một vật. Nếu
là một vật thì nó sanh diệt vô thường. Nhưng nó không phải
một vật sao nói là tánh ?
Trong
đời này có những cái không phải là vật mà vẫn có. Nhà
cửa núi sông... có hình tướng được gọi là vật, còn hư
không có phải là vật không ? Có ai thấy và sờ mó được
hư không không ? Hư không không hình tướng, chúng ta không
thấy không sờ mó được, nhưng vẫn có hư không. Nhà cửa
núi sông... có hình tướng nên bị vô thường chi
phối. Còn hư không không hình tướng song lúc nào cũng có,
mà không bị vô thường chi phối. Nhưng nói hư không quí vị
sẽ hiểu lầm hư không là cái rỗng tuếch không có gì hết
và bản tánh chân thật không hình không tướng không có một
vật cũng rỗng tuếch thì sai. Bản tánh hay tánh giác của
mỗi người tuy không có một vật không hình không tướng,
nhưng có cái biết chớ không rỗng tuếch. Bây giờ tôi nói
chuyện gần nhất cho quí vị tự nghiệm. Khi chúng ta nghĩ
về một vật hay một người, thì chúng ta biết về vật về
người. Nhưng khi chúng ta không nghĩ gì hết chúng ta vẫn có
biết, đâu đợi có vật có người mới có biết.
Ví
dụ, tôi ngồi chơi không nghĩ gì hết, gió thổi tôi cũng
cảm giác mát, tiếng ở xa vang lại tôi vẫn nghe tiếng, người
đi trước mặt tôi vẫn thấy người. Vậy thấy người, nghe
tiếng, cảmgiácmátcósuy
nghĩkhông ? - Không suy nghĩ
mà vẫn biết. Vậy cái biết hình tướng ra sao ? Khi suy nghĩ,
tâm có niệm dấy động bám với hình tướng của pháp trần
hai cái này hợp lại thành tướng sanh diệt. Lúc không suy
nghĩ thì nội tâm vắng lặng, cảnh vật bên ngoài đến liền
có cảm giác biết cảnh vật mà không động; biết mà không
động, không có tướng sanh diệt, không hình tướng mà thường
biết. Cái đó gọi là tánh giác, có sẵn nơi mình mà mình
quên không nhớ. Nếu mình nhớ nó thì chắc cả ngày đi đứng
nằm ngồi không nghĩ suy tính toán gì cả, giống như người
khờ dại. Hiện tại thì chúng ta khôn quá thấy người thì
phân biệt người đẹp xấu, cao thấp, trắng đen... Nghe tiếng
thì phân biệt tiếng trầm bổng, êm dịu, cộc cằn, tiếng
người, tiếng vật, nghĩ đủ thứ thành ra tánh giác bị khuất
lấp bị quên. Ai cũng có tánh giác không động không tướng
mạo mà hằng giác, nhưng không nhớ, chỉ nhớ chạy theo tướng
sanh diệt duyên theo sáu trần cho đó là thật, là điều cần
yếu để phân biệt. Do đó mà quên mất tánh giác chân thật
của mình, nên Phật Tổ thương xót nhắc nhở.
Nguồn
linh rỗng lặng, trong sáng tròn đồng cả thái hư.
Nguồn linh là tánh giác không có tướng mạo, không có một
vật, nhưng sáng suốt thênh thang thanh tịnh tròn đồng như
thái hư. Nói tròn là một lối nói, thái hư thì thênh thang
không ngằn mé, nói tròn
nói vuông gì cũng được. Từ xưa chúng ta có thói quen
nói trời tròn, nói tròn là nói theo thói quen, chớ thái hư
thì không tròn không vuông. Ví dụ hiện giờ chúng ta đang
ngồi trong nhà giảng này, khoảng trống trong nhà giảng gọi
là khoảng hư không. Khoảng hư không trong nhà giảng được
giới hạn bởi bốn bức tường, chúng ta có thể đo chiều
ngang, chiều dài, chiều cao thì tính được hư không trong nhà
giảng này được bao nhiêu khối. Nhưng nếu phá vỡ bốn bức
tường thì hư không không giới hạn không ngằn mé, vì nó
không có tướng mạo nên hòa đồng với hư không trong bầu
trời. Tâm thể của mỗi người cũng vậy, vì nó không có
tướng mạo nên không có giới hạn. Vậy quí vị tưởng tượng
coi tâm mình bao lớn ? Có người nào ngoài tâm mình không ?
Vì tâm mình không giới hạn nên trùm khắp, tất cả muôn
vật muôn người không ngoài tâm mình, mà mình cũng không ngoài
tâm của muôn người muôn vật. Như vậy thì không có cái
cách biệt, do chúng ta căn cứ vào thân tướng nhỏ nhoi ích
kỷ này, mới phân chia nhân ngã bỉ thử, từ cái phân chia
đó mà có muôn sự sai biệt rồi hơn thua với nhau.
Pháp
tánh bao trùm, nghiễm nhiên ánh sáng soi suốt nơi sát hải,
rõ ràng lồ lộ ngay trước mắt. Pháp tánh có chỗ gọi
là nguồn linh, có chỗ gọi là bản tánh; đó chỉ là tiếng
gọi khác, nhưng thể thì không khác. Pháp tánh trùm khắp,
ánh sáng soi suốt nơi sát hải; sát là cõi, hải là biển,
sát hải là cõi nước nhiều như biển cả. Nó thênh thang
trùm khắp, lúc nào cũng lồ lộ ở trước mắt mỗi người,
không ở đâu xa, khỏi cần tìm kiếm.
Bản
tánh Như Lai tựnhưmàứnghiệntrêntrời
dưới đất, nên hay tùy loại, tùy hình, hoặc cõi này phương
khác thị hiện ra đời độ thoát quần sanh.
Ðứng về bản tánh Như Lai thì bản tánh đó như như, từ
cái như như đó mà tùy duyên ứng hiện. Hoặc ứng hiện lên
cõi trời, hoặc ứng hiện dưới nhân gian, tùy theo hình tướng
của mỗi loài ở mỗi cõi mà dùng phương tiện giáo hóa độ
cho được giải thoát. Nói cách khác bản tánh Như Lai hay Phật
pháp thân thì trùm khắp, nhưng tùy duyên tùy loài mà ứng
thân để giáo hóa.
Khai
quyền thì phương tiện có muôn pháp, hiển thật thì hội
ngộ về một tâm. Khai quyền là tạm thời khai mở phương
tiện. Khi giáo hóa Phật tùy căn cơ chúng sanh mở bày phương
tiện nói đến tám muôn bốn ngàn pháp môn. Hiển thật là
chỉ cho cái chân thật, Phật phương tiện nói tám muôn bốn
ngàn pháp môn, được kết tập lại thành Tam Tạng Thánh điển
rất là nhiều, nhưng tất cả đều để phá dẹp vô minh phiền
não tham, sân, si v.v. Khi phiền não hết, vô minh sạch thì trở
về một bản tâm, không có cái gì khác.
Trỏ
Phật quả Bồ-đề vô tướng vốn rỗng lặng tròn đồng
thái hư. Phật chỉ cho mọi người thấy quả Bồ-đề
vốn không có hình tướng, nó rỗng rang thanh tịnh tròn đồng
như thái hư.
Phó
pháp ấn tâm tông Bát-nhã lộ bày bốn mắt nhìn nhau. Phó
pháp là trao cho hay ấn chứng. Phó pháp hay ấn chứng tâm tông
đều ở chỗ bốn mắtnhìnnhau.
Ngài Chân Nguyên ngộ từ bốn mắt nhìn; thầy Ngài
là Thiền sư Minh Lương nhìn Ngài, Ngài nhìn lại, liền cảm
ngộ rồi lấy cái đó làm chuẩn. Xưa đức Phật Thích Ca
và ngài Ma-ha-ca-diếp cũng từ bốn mắt nhìn nhau mà làm chuẩn.
Tại sao trong nhà Thiền hay dùng giai thoại "bốn mắt nhìn"
? Vì mắt là cái hay thấy, mà thấy tức là biết. Người
đời thường nói suy nghĩ mới biết. Bây giờ chúng ta nhìn
người nhìn vật, mà không khởi niệm suy nghĩ phân biệt,
lúc đó thấy người thấy vật mà có biết không ? Cái gì
biết ? Ðó là chỗ mà trong đây chỉ rất rõ ràng không giấu
giếm. Ở hội Linh Sơn đức Phật đưa cành hoa sen lên, mắt
Ngài nhìn đại chúng, Ma-ha-ca-diếp nhìn lại Ngài, hai thầy
trò cảm thông liền. Vậy Phật và Ma-ha-ca-diếp cảm thông
cái gì ? - Phật thấy Ma-ha-ca-diếp, Ma-ha-ca-diếp thấy Phật,
hai thầy trò không khởi niệm nghĩ suy ngay đó là truyền pháp.
Ngày nay chúng ta vừa thấy là khởi niệm, do đó cái thấy
ban đầu bị ẩn mất, nên đây dẫn Kinh:
Trong
Kinh Lăng Già, quyển hai, đức Phật Thích Ca đã chỉ bày rành
rõ. Hàng hậu học ai còn ngờ vực xin hãy mau tìm Kinh tra cứu,
tự nhiên nghi ngờ hết sạch mà được chứng thật, đốn
ngộ kiến tánh thành Phật. Trong Kinh Lăng Già có đoạn
nói, không phải dùng ngôn ngữ mới là nói pháp, mà một cái
nhìn, một cái thấy là đã nói pháp rồi.
Cần
biết diệu lý của Phật pháp, chẳng
dính dáng gì đến văntự ngônngữ,
bặthếtmọihýluận,
bản tế trong lặng tròn đầy, ba đời chư Phật cuối cùng
đành ngậm miệng không
lời, nhiều đời Tổ sư rốt ráo cũng im hơi lặng tiếng.
Diệu lý của Phật pháp thì chẳng có dính dáng gì đến văn
tự ngôn ngữ, bặt hết mọi hý luận. Muốn biết nó không
thể dùng văn tự ngôn ngữ, hay hý luận mà có thể biết
được. Văn tự ngôn ngữ hay hý luận chỉ là trò đùa bàn
luận cho vui, chớ không có lẽ thật. Vì bản tế của diệu
lý vốn tròn đầy thanh tịnh sáng suốt, Phật còn không nói
được, đành phải ngậm miệng không lời, chư Tổ cũng không
nói được, nên thiền tăng hỏi "Thế nào là diệu lý của
Phật pháp ?". Các Ngài chỉ hét hoặc đánh cho một gậy, chớ
không nói, vì nói cái gì cũng trật hết. Phật ngậm miệng
không lời, sao Phật giảng đến bốn mươi chín năm, kết
tập thành Tam Tạng giáo điển ? - Những lời thuyết giảng
của Phật chỉ là phương tiện, không đến được chỗ cứu
cánh đó. Vì là phương tiện nên Kinh nói giáo lý Phật dạy
là ngón tay chỉ mặt trăng. Người
muốn thấy mặt trăng phải khéo nương ngón tay mới
thấy mặt trăng. Ngón tay không phải là mặt trăng và ngón
tay không thể chỉ đến tận mặt trăng, nó chỉ là một phương
tiện nhỏ thôi. Ngôn ngữ trong Tam Tạng giáo điển cũng vậy.
Người tu nếu lấy Kinh điển làm cứu cánh, học thuộc, tụng
nhiều cho là ngộ đạo thì chưa phải. Ðó chỉ là phương
tiện, bám vào phương tiện mà cho là cứu cánh thì sai, phải
biết nương phương tiện để tutiến
đến cứu cánh, mới là người hiểu và ứng dụng được
lời Phật Tổ dạy.
Nên
đức Thế Tôn giơ cành hoa chỉ cho đại chúng, ngài Ma-ha-ca-diếp
khế hội mỉm cười, thầy trò
bốn mắt nhìn nhau, tuệ nhãn chiếu sáng lẫn nhau, thầm lặng
ấn tâm, phó pháp truyền y nối vị Tổ.
Phật đưa cành hoa lên, nhìn khắp đại chúng mà không nói
một lời. Ngài Ma-ha-ca-diếp thấy Phật nhìn tới
mình, Ngài nhìn lại mỉm cười. Thầy trò thông cảm rồi
phó pháp truyền y, dễ như trở bàn tay không khó khăn gì cả.
Theo quan niệm thông thường thì nói mới dễ hiểu, không nói
mà hiểu thì đâu có dễ ! Nhưng, chỉ nhìn mà được ấn
tâm phó pháp truyền y kế thừa Tổ vị, không cực khổ nhọc
nhằn không dễ là gì ? Thật ra, khó thì cũng khó tột đỉnh,
dễ thì cũng dễ quá tưởng tượng của con người. Chỗ phó
pháp truyền y của Phật cho ngài Ma-ha-ca-diếp là hiện tượng
bốn mắt nhìn nhau. Bởi vì mắt nhìn nhau mới cảm thông được,
tai thì không nhìn nhau được. Lẽ ra tai cũng có quyền nhận
ra diệu lý, nhưng làm sao truyền cảm bằng mắt ? Chỉ có
tiếng nói tai mới nghe. Còn mắt thì cảm được, cho nên ngay
nơi mắt thấy liền nhận ra.
Tâm
ấn Bát-nhã tròn đồng cả thái hư chân không tỏ rõ, xưa
nay vẫn như thế. Từ hai mươi tám vị Tổ Tây Thiên truyền
đến sáu
vịTổÐôngÐộ,
chỉthẳng nối tiếp nhau,
bốn mắt
nhìn nhau, im lặng nhìn trừngtrừng,
gượng gọi là tâm ấn mà phó chúc đó thôi.
Từ
xưa đến nay Phật truyền tâm ấn cho Tổ, hoặc Tổ Tổ truyền
nhau chỉ truyền cái chân thật sẵn có của mình, qua hiện
tượng bốn mắt nhìn nhau, im lặng nhìn trừng trừng.
Ðến
các Tổ đời sau ứng hiện ra đời, giúp nêu cao việc giáo
hóa, diễn rộng pháp môn, mở rộng phương tiện. Việc ứng
duyên đã xong, nguyện lực còn để lại, Ngữ lục chợt hưng
thịnh, đều lập thành công án, khai sơn dạy chúng, gậy hét
dạy đuổi, câu câu về nơi tông, cơ cơ chung một lý.
Ðoạn
này nói đến chư Tổ đời sau theo nguyện lực ứng hiện
ra đời nêu cao việc giáo hóa. Các Ngài dùng nhiều phương
tiện hướng dẫn người sau, bằng cách tùy theo căn cơ mà
nói ra những lời chỉ dạy để đánh thức. Những lời nói
đó của chư Tổ được ghi chép để lại gọi là Ngữ lục.
Khi Ngữ lục thạnh hành thì những câu nói khó hiểu đều
được lập thành công án. Khai sơn nghĩa là mở núi, chỉ
cho các Thiền sư lên núi đốn cây phá rừng, để cất cốc
tu hoặc cất chùa giáo hóa môn đồ. Thế nên người đầu
tiên lên núi phá rừng cất chùa giáo hóa gọi là Tổ khai
sơn. Danh từ này quen dùng, nên về sau vị thầy đầu tiên
đào đất đắp nền xây dựng chùa, giáo hóa ở đất bằng
cũng gọi là Tổ khai sơn. Chư Tổ giáo hóa còn dùng gậy đánh,
hoặc hét. Thiền tăng đến tham vấn, vừa hỏi một câu là
bị ăn gậy hoặc nghe hét điếc tai. Các Ngài không trả lời
chỉ đánh hoặc hét. Có một Thiền tăng đến hỏi Tổ Hoàng
Bá "Thế nào là đại ý Phật pháp", Ngài không nói mà đánh
cho một gậy. Tổ Lâm Tế cũng vậy, Thiền tăng đến hỏi
"Thế nào là đại ý Phật pháp", Ngài không nói liền hét
một tiếng. Chư Tổ chẳng những đánh hoặc hét, mà còn nói
những câu dường như vô nghĩa lý, nhưng tất cả đều tùy
theo căn cơ của người thưa hỏi, mà chỉ chỗ tột cùng để
cho họ xoay lại thể chân thật của mình.
Hàng
thượng căn lãnh ngộ thì được cơ đại hành đại dụng,
bậc cao sĩ biết suốt thì rõ pháp vô trụ vô vi. Song người
người xuất gia theo Phật, kẻ kẻ học đạo tham thiền, phải
xét rõ tinh tường Kinh điển của Phật, Ngữ lục của Tổ,
muôn đuốc nghìn đèn chỉ một ngọn lửa. Nếu người căn
cơ bén nhạy bậc thượng thì hội thông muôn pháp thảy ở
nguồn tâm. Nếu người bậc hạ chấp nghiêng lệch một bên
thì thích theo phép thức tình phân biệt, luống mở to cửa
ngõ, tình còn hơn thua, thức chứa nghĩ suy, kẹt tâm hữu lậu,
trái với ý chỉ vô sanh.
Người
căn cơ bậc thượng hoặc nghe một câu, hoặc nghe tiếng hét,
hoặc bị đánh một gậy liền ngộ thì được đại hành
đại dụng. Tại sao chỉ nghe hét hoặc bị đánh lại được
đại hành đại dụng ? Ngài Nghĩa Huyền nếu không bị Tổ
Hoàng Bá đánh ba lần thì không được đại hành đại dụng.
Ngài hỏi "Thế nào là đại ý Phật pháp ?" Liền bị Tổ
Hoàng Bá đánh cho một gậy, ba lần hỏi ba lần bị đánh.
Vì thể chân thật nếu Tổ có cố gắng dùng ngôn ngữ giải
thích cho Ngài lóe thấy chút chút, thì không nhớ, giống như
tia chớp xẹt qua rồi mất, không có ấn tượng mạnh nên
dễ quên. Nhưng Tổ đặc biệt không nói, mà dùng hành động
coi như tàn bạo, để cho Ngài dồn hết tâm lực vào chỗ
mà Ngài muốn biết, đến khi Thiền sư Ðại Ngu khơi lên một
chút, Ngài liền bật ngộ, thì muôn đời không quên. Ðó là đại
hành đại dụng. Ðại hành của người trước quá đặc
biệt thù thắng, nên người sau nhớ đời không quên. Vì vậy
mà Thiền của Tổ Lâm Tế truyền từ trước tới nay hơn
một ngàn năm vẫn còn. Chúng ta ngày nay nghe giảng thì lóe
hiểu, nhưng một lúc lại quên hết. Ðó là tại cơ nhỏ nên
hành cũng nhỏ, dụng cũng nhỏ. Thế nên chúng ta có lóe sáng
một chút thì phải tiếp tục dụng công, cái thấy mới sâu,
lòng tin mới vững. Chớ còn lóe sáng chút chút mà tự mãn,
thấy đã đủ rồi thì từ từ nó mất đi, ban đầu thì nói
đạo lý, dần dần sẽ nói chuyện thế tục, không còn gì
là Phật pháp nữa. Nghe mà nhận được đã hay rồi, nhưng
nhận được phải hằng sống mới là viên mãn. Còn nhận
được mà chưa sống được thì chưa phải là viên mãn. Ðó
là chỗ hết sức quan trọng. Ngài Lâm Tế khi nhận được
thể chân thật rồi, từ đó về sau không còn bình dị phàm
tục nữa, mà phong cách Ngài rất kỳ đặc khác thường. Vì
cơ duyên ngộ đạo của Ngài quá đặc biệt nên Ngài sống
cũng quá đặc biệt. Ngày nay chúng ta nhờ nghe giảng rồi
nhận ra, dễ quá nên không có gì đặc biệt lắm. Thế nên
phải đại hành mới đại dụng. Và khi các Ngài thấu suốt
rồi thì rõ được pháp vô trụ vô vi.
Song
người người xuất gia theo Phật, kẻ kẻ học đạo tham thiền,
phải xét rõ tinh tường Kinh điển của Phật, Ngữ lục của
Tổ, muôn đuốc nghìn đèn chỉ một ngọn lửa. Chúng ta
ngày nay tu học phải hiểu rõ Kinh Phật, thấu suốt lời dạy
của Tổ. Kinh Phật nói hay Ngữ lục Tổ nói, chỉ có một
mục đích là giải khổ cho chúng sanh, giống như muôn đuốc
nghìn đèn chỉ là lửa, chớ không có gì khác. Phải thấy
rõ hiểu suốt như vậy, đừng nói Kinh này khác với Kinh kia,
Ngữ lục của Tổ này khác với Ngữ lục của Tổ kia, rồi
đem ra tranh cãi chống đối với nhau. Làm như thế là chưa
thấu triệt được lời dạy của Phật Tổ.
Nếu
người căn cơ bén nhạy bậc thượng thì hội thông muôn pháp
thảy ở nguồn tâm. Nếu là người căn cơ bén nhạy thì
thấy tất cả pháp đều gốc ở nguồn tâm. Như tất cả
lời Phật nói kết tập thành Tạng Kinh, đều dạy lóng lặng
vọng tưởng, để trở về bản tâm chân thật của chính
mình. Rồi bao nhiêu Ngữ lục của chư Tổ cũng dạy dừng
vọng tưởng trở về tâm chân thật của mình, chớ không
dạy cái gì khác. Như vậy mới thấy người thấu suốt lý
đạo, không cố chấp văn tự ngôn ngữ khác biệt, mà một
bề quay về chân tâm của mình thôi.
Nếu
người bậc hạ chấp nghiêng lệch một bên thì thích theo
phép thức tình phân biệt, luống mở to cửa ngõ, tình còn
hơn thua, thức chứa nghĩ suy, kẹt tâm hữu lậu, trái với
ý chỉ vô sanh. Người căn cơ thấp kém thì chấp nghiêng
lệch hoặc bên này hoặc bên kia, theo thức tình phân biệt
rồi cho cái này hơn cái kia kém. Suy gẫm chất chứa kẹt trong
tâm hữu lậu, vì vậy mà trái với ý chỉ vô sanh. Thế nên
người học Phật mà lý luận nhiều tranh chấp nhiều, rốt
cuộc chỉ là người mê chấp chớ tu chưa đến đâu.
Bởi
do chưa xét tột trí tự nơi mình, nên còn bị người lừa
dối, chìm đắm nơi giáo nơi tông, tranh luận nhân ngã, phân
biệt kia đây, nghĩ tìm kẽ hở mà công kích lẫn nhau, nhà
mình nhà người, đấu lý tranh lời giành hiểu biết. Ai còn
như thế là chưa vượt khỏi pháp trần phiền não, chưa lãnh
hội chân như bình đẳng, ngã chấp pháp chấp chẳng quên,
thức thần khư khư chấp cứng, sẽ mãi mãi chìm đắm nơi
tông giáo. Ai hay nơi dốc đứng buông tay, mới đáng gọi đích
thực trượng phu, xưanay một
vật cũng không, lưới giáo nơm bẫy buông sạch. Ðó là chỗ
gọi: "Mộng huyễn không hoa, đâu nhọc nắm bắt, được mất
phải quấy, thảy đều buông hết, âm thanh sắc pháp, vốn
từ tâm sanh, tâm có phân biệt đều rơi vào đường tà".
Cho nên nói: "Pháp tánh vốn rỗng lặng, không lấy cũng không
thấy. Tánh không tức là Phật, chẳng thể nghĩ lường được".
Tông chỉ Bát-nhã vốn ngộ không chỗ được mà được. Từ
xưa đến nay không có kiến chấp sai khác, nguồn chân trong
lặng nhiệm mầu, ánh tịch quang vô tướng vô vi, thể vọng
như hoa đốm trong không, huyễn khởi lên liền có tên có chỗ.
Bởi
do chưa xét tột trí tự nơi mình, nên còn bị người lừa
dối, chìm đắm nơi giáo nơi tông, tranh luận nhân ngã, phân
biệt kia đây, nghĩ tìm kẽ hở mà công kích lẫn nhau, nhà
mình nhà người, đấu lý tranh lời giành hiểu biết.
Ðây là cái bệnh mà ngày nay nhiều người vấp phải. Người
vấp phải bệnh này là vì họ chưa được trí vô sư nên
còn bị người lừa gạt, chìm đắm nơi giáo (Kinh) nơi tông
(Thiền) rồi tranh luận nhân ngã. Cái gì của tông mình thì
hơn, của tông người thì kém, tìm kiếm kẽ hở của tông
người để công kích bài bác, đấu lý tranh giành phần thắng.
Ai
còn như thế là chưa vượt khỏi pháp trần phiền não, chưa
lãnh hội chân như bình đẳng, ngã chấp pháp chấp chẳng
quên, thức thần khư khư chấp cứng, sẽ mãi mãi chìm đắm
nơi tông giáo. Câu này chỉ cho người còn tâm nhân ngã.
Còn nhân ngã tranh luận hơn thua là người chưa vượt khỏi
pháp trần phiền não. Sở dĩ chúng ta có phiền não với nhau
là vì ý thức phân biệt duyên với pháp trần. Ví dụ như
nghe người chê ta xấu, tiếng chê qua mất rồi, nhưng ý thức
ta duyên theo bóng dáng của tiếng chê là pháp trần, khởi
phân biệt nhân ngã rồi sanh ra bực bội. Ðó là pháp trần
phiền não. Hoặc thấy người làm điều trái ý ta, việc làm
của người đó đã qua rồi, nhưng ý thức ta duyên theo bóng
dáng của người đó rồi khởi phân biệt mà sanh phiền giận.
Ðó là pháp trần phiền não. Vì chưa nhận ra chân như bình
đẳng, nên tâm chấp ngã chấp pháp còn nguyên, thức thần
khư khư chấp cứng. Người như thế sẽ mãi mãi chìm đắm
nơi Thiền nơi Kinh, nơi chữ nghĩa, không có giác ngộ.
Ai
hay nơi dốc đứng buông tay mới đáng gọi đích thực trượng
phu. Người đối với pháp tu, đối với đạo
nhắm thẳng một đường mà tiến, không nghiêng bên
này không ngả bên kia, giống như người đi trên bờ dốc
đứng, không nương gậy, không vịn bờ thõng tay đi một cách
tự nhiên, đó mới là bậc trượng phu. Thiền tông còn gọi
là tâm tông, tức là tông chỉ thẳng chân tâm. Người nào
khi được chỉ thẳng chân tâm mà nhận ra, đó là người
đi trên dốc đứng buông tay, là hàng trượng phu. Nếu chỉ
thẳng chân tâm mà không nhận ra, còn phải nương kinh nương
giáo là còn nương phương tiện, chưa buông tay đi trên dốc
đứng.
Xưa
nay một vật cũng không, lưới giáo nơm bẫy buông sạch.
Nhận thẳng bản tâm thì không có một vật, nên nói "Bản
lai vô nhất vật". Vì vậy lưới giáo là phương tiện phải
buông sạch. Giáo lý giống như cái nơm để bắt cá, cái bẫy
để bắt chim. Cái nơm là phương tiện để bắt cá, khi bắt
được cá rồi thì phải bỏ cái nơm, vì trọng tâm là bắt
cá, nên nói được cá quên nơm. Ở thế gian ai ăn ở bạc
bẽo vô ơn vô nghĩa thì bị chê là được cá quên nơm. Nhưng
ở đây thì dạy khác, dạy con người phải biết cái gì là
phương tiện, cái gì là cứu cánh; được cứu cánh phải
bỏ phương tiện, nếu bám vào phương tiện thì không được
cứu cánh. Cái bẫy dùng để bắt chim, khi được chim rồi
thì phải bỏ cái bẫy, vì trọng tâm là bắt chim. Như vậy
được cá được chim thìphảibỏnơm
bỏ bẫy, vì trọng tâm là bắt được cá bắt được chim,
nơm bẫy chỉ là phương tiện, cá chim là cứu cánh. Cũng vậy
giáo lý giống như nơm bẫy, là phương tiện để chúng ta
đạt được cứu cánh là thành Phật, thành Tổ. Khi thành
Phật thành Tổ là đạt được cứu cánh thì giáo lý cũng
phải quên. Thế nên nói lưới giáo nơm bẫy buông sạch.
Ðó
là chỗ gọi "mộng huyễn không hoa, đâu nhọc nắm bắt, được
mất phải quấy thảy đều buông hết". Cái gì có hình
tướng có ngôn ngữ đều không thật, giống như mộng như
huyễn, như hoa đốm trong hư không. Nó vốn là không thật
mà nhọc công nắm bắt để làm gì ? Thế nên được mất,
phải quấy thảy đều buông hết. Khi buông hết những cái
không thật thì trở về cái chân thật. Ðược mất, phải
quấy, là cái tạm bợ giả dối mà bám giữ thì không bao
giờ nhận ra cái thật. Thế nên người biết tu đối với
chuyện được mất, phải quấy buông hết thì gần với đạo,
còn nắm giữ những cái đó thì cách đạo muôn trùng. Vậy
mà ngồi lại ai cũng bàn chuyện phải quấy, hơn thua đủ
thứ. Ðó là hướng xa đạo mà không biết !
Âm
thanh sắc pháp, vốn từ tâm sanh, tâm có phân biệt đều rơi
vào đường tà. Ðối với âm thanh sắc tướng mà tâm
khởi phân biệt là rơi vào đường tà. Tà đây không phải
đối với chánh, mà là nghiêng một bên. Tâm vừa khởi niệm
phân biệt thì có phải quấy; phải quấy là hai bên, thấy
hai bên là lệch rồi.
Cho
nên nói "pháp tánh vốn rỗng lặng, không lấy cũng không thấy,
tánh không tức là Phật chẳng thể nghĩ lường được".
Pháp tánh còn gọi là pháp thân hay chântâm,
nó vốn rỗng rang lặng lẽ nênkhông
thể thấy, cũng không thể sờ mó nắm bắt được, vì nó
không có hình tướng, không bị sanh diệt
vô thường chi phối nên gọi là tánh Phật. Và, vì nó rỗng
lặng không hình không tướng, nên không thể dùng ý niệm
nghĩ lường được, càng
suy lường về tánh Phật thì càng sai càng xa.
Tông
chỉ Bát-nhã vốn ngộ không chỗ được mà được.
Câu này sao mâu thuẫn quá ! Không chỗ được mà được là
sao ? Trong Bát Nhã Tâm Kinh chúng ta tụng hằng đêm có câu:
"Vì không có chỗ được nên Bồ-tát y theo Bát-nhã-ba-la-mật-đa
tâm không ngăn ngại. Vì không ngăn ngại, nên không sợ hãi,
xa hẳn điên đảo mộng tưởng, đạt đến cứu cánh Niết-bàn.
Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã-ba-la-mật-đa, được
đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác." Ðể hiểu chỗ
này tôi đưa ra vài ví dụ cho quí vị hiểu từ cạn tới
sâu. Ví dụ một cái bàn ở trước mắt chúng ta, được chưng
bày nào vòng, xoa, xuyến... đầy bàn. Nhưng tất cả những
món nữ trang đó là thau mạ vàng, không phải vàng
thật. Vì chúng ta không biết, thấy nó vàng đẹp liền mua
vài món để làm của. Vậy những món nữ trang chúng ta mua
có phải là vàng thật không ? Chắc chắn là không thật. Cũng
vậy, tất cả pháp thế gian là hư ảo không thật, mà chúng
ta bám vào đó thì làm gì có được cái chân thật ? Ðó là
ví dụ nhỏ. Còn việc lớn hơn là chúng ta tu là tìm cái chân
thật có sẵn nơi mình. Thân năm uẩn này vốn không thật
mà chúng ta thấy nó là thật, nên không thấy được cái chân
thật có sẵn nơi mình. Vì vậy, Phật dạy chúng ta phải dùng
trí Bát-nhã quán chiếu thấy ngay nơi thân năm uẩn không thật
có cái chân thật. Như vậy, trước phải thấy cái giả rồi,
sau mới nhận ra cái thật. Nếu ngay thân năm uẩn này mà thấy
là thật, rồi cho là mình thì không bao giờ nhận ra cái chân
thật, cho nên ở đây nói chỗ không được mà được. Nghĩa
là chiếu soi thấy năm uẩn đều không, mới qua khỏi tất
cả khổ ách. Hoặc thấy tất cả pháp đều không, không có
chỗ được mới được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Người tu còn bám vào cái hư ảo cho là thật, thì đừng
mong nhận được cái chân thật, mà phải thấy rõ các pháp
không thật không có chỗ được, mới nhận ra cái chân thật
hay Phật tánh, đây gọi là kiến tánh. Ðó là ý nghĩa "Tông
chỉ Bát-nhã vốn ngộ không chỗ được mà được".
Từ
xưa đến nay không có kiến chấp saikhác,
nguồn chân trong lặng nhiệm mầu, ánh tịch quang vô tướng
vô vi, thể vọng như hoa đốm trong không, huyễn khởi lên
liền có tên có chỗ.
Nếu từ xưa đến nay chúng ta không có kiến chấp sai khác,
thì nguồn chân nơi chúng ta nó trong trẻo yên lặng, nhiệm
mầu, sáng suốt, vô tướng, vô vi. Tất cả tướng hiện ra
là cái hư vọng, giống như hoa đốm trong không, tạm khởi
lên rồi có tên có chỗ, nhưng sau đó nó mất. Vì chúng ta
cứ chạy theo tướng hư dối quên đi cái chân thật, nên chúng
ta không nhận ra được.