B.GIẢNG
GIẢI
I-
LỜI TIỂU DẪN
KHẮC
IN LẠI SÁCH KIẾN TÁNH THÀNH PHẬT
Sách
này đặt tên "Kiến Tánh Thành Phật", nghĩa là sao ?
Bởi muốn cho người ngưỡng mộ tên này, cần nhận được
lý thật của nó. Như kinh nói: "Vì muốn cho chúng sanh khai,
thị, ngộ, nhập tri kiến Phật". Người nhận thấy lý đó
thì có thể thành Phật. Còn mê nó thì ta cũng không hề mất.
Bởi tự tánh sâu lắng, bản tâm trong lặng, cao vút tồn tại
một mình, cao vượt thoát không gì ngoài. Mới biết, tất
cả hàm linh đều có đủ đức tánh Như Lai, do vì chúng sanh
chướng sâu tuệ cạn, nên dùng hàng ngày mà chẳng tự thấy.
Vậy nên Ðức Năng Nhân thầy ta rất thương xót chúng sanh
luân hồi mãi nơi khổ thú, một lòng vì việc cứu khổ mà
dạy cho họ minh tâm kiến tánh. Cũng như nhà Nho chúng ta vì
"thành đức" dạy cho người cùng tột lý tánh, chỉ là một
đạo lý thôi.
Sách
này đặt tên "Kiến Tánh Thành Phật" nghĩa là sao ? Bởi muốn
cho người ngưỡng mộ tên này, cần nhận được lý thật
của nó.Hỏi tại sao sách này đặt tên là Kiến Tánh
Thành Phật, thì được giải thích vì muốn cho người
ngưỡng mộ tên này và cần nhận được lý thật của nó.
Nghe nói Kiến Tánh Thành Phật ai cũng mong muốn được
Kiến tánh thành Phật. Ðây là cách gây ấn tượng mạnh cho
mọi người thích thú muốn tu. Kế tiếp là dẫn câu Vì
muốn cho chúng sanh khai, thị, ngộ, nhập tri kiến Phật
trong Kinh Pháp Hoa để làm chứng. Nhập Tri Kiến Phật hay thành
Phật không khác. Chúng ta học Kiến tánh thành Phật
sẽ thấy một lối đi, nhận ra bản tánh của mình là được
thành Phật, đó là cái căn bản của quyển sách. Thế nên
đây mới nói Người nhận thấy lý đó thì có thể thành
Phật. Lý đó tức là lý Kiến tánh thì có thể thành Phật.
Còn
mê nó thì ta cũng không hề mất. Bản tánh mình vốn có
sẵn, nếu nhận ra nó thì mình thành Phật, nếu mình quên
nó thì nó cũng không mất. Tại sao vậy ? Bởi tự tánh
sâu lắng, bản tâm trong lặng, cao vút tồn tại một mình,
vượt thoát không gì ngoài. Ðây giải thích tại sao bản
tánh không mất. Vì bản tánh sâu lắng, hằng trong sáng lặng
lẽ, cao vút, còn mãi, chỉ có một mình, không có gì ở ngoài
nó được. Như vậy bản tánh có sẵn nơi mọi người không
bao giờ mất, nhưng nó quá yên lặng hằng trong sáng, nhận
ra nó là cái nhân thành Phật, nếu quên nó thì nó cũng hằng
hữu không bao giờ mất. Mới biết, tất cả hàm linhđều
có đủ đức tánh Như Lai, do vì chúng sanh chướng sâu tuệ
cạn, nên dùng hằng ngày mà chẳng tự thấy. Ðây nói
rõ tánh Phật có sẵn trong tất cả hàm linh (chúng sanh), cho
nên nói tất cả hàm linh đều có đức tánh Như Lai. Do vì
chúng sanh chướng sâu tuệ cạn tức là phước duyên thô thiển.
Tất cả quí vị ở đây có thấy mình chướng sâu tuệ cạn
không ? Chắc ai cũng biết mình chướng thì sâu mà tuệ thì
cạn, nên có tánh Phật sẵn mà không nhận ra. Chúng sanh cũng
vậy, vì chướng làm che ngăn trở ngại, trí tuệ thì cạn
mỏng nên không phá thủng được cái chướng sâu dày, do đó
không thấy được tánh Phật của mình. Vậy nên Ðức Năng
Nhân thầy ta rất thương xót chúng sanh luân hồi mãi nơi khổ
thú, một lòng đem việc cứu khổ dạy cho họ minh tâm kiến
tánh. Ðức Năng Nhân là chỉ cho Phật. Ngài thương chúng
sanh đang mãi chịu luân hồi trong sáu nẻo, đem tấm lòng chân
thành ra lo việc cứu khổ chúng sanh, bằng cách dạy cho họ
được minh tâm, phá thủng cái màng chướng sâu để nhận
ra bản tánh của mình. Cũng như nhà Nho chúng ta vì thành
đức dạy cho người cùng tột lý tánh, chỉ là một đạo
lý thôi. Thời nhà Lê là thời trọng Nho khinh Phật, bấy
giờ vua Lê Hy Tông vừa tỉnh ngộ theo Phật, nên ngài Chân
Nguyên hay các vị học Phật thời đó muốn nói giáo lý đạo
Phật cho quần chúng nghe, thường dẫn Nho làm chứng để cho
họ tin, do đó mà có câu này.
Tôi
có một người bạn tâm đắc, nhân nói với nhau: Chúng ta
mang tên Tỳ-kheo, từ lâu đã kết chặt nghiệp tập huân nhiễm,
tự bỏ của cải nhà mình đi làm khách lang thang, chẳng hay
biết châu báu trong áo, không lạ gì chẳng thấy tánh ! Dù
có mà người chẳng khéo nhận thấy tự tánh ấy mới ngầm
khiến bậc Tiên đức trình thuật lại sách này. Bởi chẳng
biết mình có khả năng ấy, đâu khỏi phạm vào lời răn
nhắc: "Khi nói đến tâm tánh thì trừng mắt nhìn nhau ?"
Trong
lời Tiểu Dẫn ngài Diệu Trạm nói: Tôi có một người
bạn tâm đắc, nhân nói với nhau: Chúng ta mang tên Tỳ-kheo,
từ lâu đã kết chặt nghiệp tập huân nhiễm, tự bỏ của
cải nhà mình đi làm khách lang thang, chẳng hay biết châu báu
trong áo, không lạ gì chẳng thấy tánh. Qua câu nói của
ngài Diệu Trạm chúng ta cảm thấy đau thống thiết, vì mình
đã xuất gia làm Tỳ-kheo mà lâu nay cứ kết chặt nghiệp,
huân nhiễm theo tập tục thế gian rồi tự bỏ của cải nhà
mình làm khách đi lang thang cầu thực, trong áo có sẵn hạt
châu vô giá mà không biết. Có châu mà không biết thì chuyện
không thấy tánh không có gì là lạ, nhất định là phải
như vậy. Lời nói của ngài Diệu Trạm và bạn Ngài ở thời
nhà Lê, chúng ta thấy xót xa, xét lại tu sĩ chúng ta ngàynaycógiốngcácNgàikhông
? Ðây là một câu hỏi để mình tự nghiệm. Dù có mà
người chẳng khéo nhận thấy tự tánh ấy mới ngầm khiến
bậc tiên đức trình thuật lại sách này. Mặc dù chúng
ta có sẵn tánh Phật là của báu mà không nhận thấy, thế
nên khiến cho các bậc tiên đức (tiên đức chỉ cho ngài
Chân Nguyên) mới viết ra sách này để nhắc cho chúng ta nhớ.
Bởi
chẳng biết mình có khả năng ấy, đâu khỏi phạm vào lời
răn nhắc: "Khi nói đến tâm tánh thì trừng mắt nhìn nhau?".
Khi hỏi thế nào là chân tâm thế nào là Phật tánh thì trừng
mắt mà nhìn chớ không thể trả lời được, như câm như
điếc. Ðó là đoạn văn, trước hết ngài Diệu Trạm trình
bày lý do tại sao cuốn sách này tên là Kiến Tánh Thành
Phật. Kế tiếp Ngài nêu lên lý do tại sao Thiền sư Chân
Nguyên phải viết cuốn sách này.
Bản
sách này, tôi được trưởng lão Chính Giám viện chùa Vĩnh
Nghiêm tặng cho. Cuối lời tựa thấy có ghi: "Ðời Lê, niên
hiệu Chính Hòa thứ 19 (1698), in tại chùa Long Ðộng", thì
biết khoảng cách từ đời Trần đến đời Hậu Lê ít có
người nhận được tông chỉ vậy.
Khoảng
ba trăm năm sau từ cuối đời Trần đến cuối đời Lê, tông
chỉ Thiền ít người nhận được nên Thiền sư Chân Nguyên
mới cố gắng viết ra quyển Kiến Tánh Thành Phật này.
Tổ
sư Tuệ Ðăng của chúng tôi sợ rằng càng lâu càng thất
truyền, nên Ngài biên soạn tập sách này, cùng lời biện
biệt để chỉ bày. Hãy xem bài tựa ban đầu, lời đơn sơ
mà đầy ý vị, chất phác mà có văn vẻ. Chỗ trước thuật
vừa khuyên người, lại mở bày nghĩa ẩn chứa sâu kín, nói
thì gồm cả phước hữu vi, lời thì mang đầy hương vị
kiến tánh. Ðó là nghĩa tiếp nối bậc Thánh từ trước,
mở mang cho người về sau.
Thiền
sư Chân Nguyên có hai hiệu, một hiệu Chân Nguyên và một
hiệu Tuệ Ðăng. Ngài sợ Thiền tông lâu ngày bị thất truyền,
tức là từ đời Trần trở về sau xa dần dần, người đời
không còn nhận được bản tâm, không thấy được bản tánh
nên Ngài mới biên soạn quyển Kiến Tánh Thành Phật
cùng những lời biện biệt để chỉ bày. Ngài Diệu Trạm
tán thán Thiền sư Chân Nguyên rằng, Ngài sợ Thiền tông đời
Trần bị thất truyền nên Ngài mới viết cuốn sách này để
giảng dạy, biện biệt cho mọi người biết được ý nghĩa.
Muốn biết chỗ này chúng ta hãy xem Lời tựa ở sau. Ngài
Diệu Trạm nói Lời tựa tuy đơn sơ mà đầy ý vị, tuy chất
phác mà có văn vẻ. Chỗ trước thuật của Ngài vừa khuyên
người, lại mở bày ý nghĩa ẩn chứa sâu kín. Như ở trước
tôi nói, trong đây vì để thích hợp với người bình dân
nên Ngài nói về phước hữu vi là lập đài Cửu phẩm liên
hoa, niệm Phật cầu vãng sanh hay in Kinh sách. Tuy nói về pháp
hữu vi nhưng chứa đầy ý nghĩa kiến tánh. Ngài làm như vậy
là Ngài tiếp nối tinh thần của những bậc Thánh trước
và cũng để mở mang cho người sau đồng nhớ hiểu để tu
hành.
Song,
với người đồng đạo khi thưởng thức ý vị sách này,
hoặc có nhận lấy được điều gì, thì cũng như một phen
trợ giúp cho việc đi xa, lên cao, chớ cho rằng sách này không
thể học theo mà phủ nhận đi. Ðời nay đã cách xa, lời
nói cũng bị mai một, sách này chẳng còn được lưu hành,
nên nương theo bản cũ kính cẩn khắc in lại để truyền
rộng ra. Nhưng bản cũ nét chữ đơn giản và cẩu thả, nay
có tạm sửa lại cho đúng. Pháp sự này đã hoàn thành, tạm
mượn ít lời vụng về để tỏ bày duyên khởi, đâu dám
nói là Lời tựa !
Chùa
Pháp Vũ, cuối thu năm Ðinh Dậu
Hậu
học Tỳ-kheo Diệu Trạm
Kính
ghi
Bản
được cất giữ tại chùa Pháp Vũ, thôn Quảng Nội, xã Ðồng
Lại, tổng Ðông Cao, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang, tỉnh
Hải Dương.
Mùa
an cư kiết hạ, tại am Lan Nhã Thiền Dược, bên mé Ðông
chùa Hoa Yên, núi Yên Tử, Hòa thượng Tuệ Ðăng Chân Nguyên
hiệu san.
Qua
hai dòng trên của Lời tựa chúng ta biết thêm am Thiền Dược
nằm bên mé Ðông chùa Hoa Yên trên núi Yên Tử chớ không
phải ở dưới chùa Long Ðộng.
Ðoạn
này ngài Diệu Trạm nói lên lý do mà Ngài in lại quyển Kiến
Tánh Thành Phật này và viết Lời tiểu dẫn. Ngài nói
rằng với người đồng đạo khi thưởng thức ý vị sách
này, hoặc nhận hiểu được điều gì thì cũng như đi xa
hay lên cao mà có được sự trợ giúp, đó là cái tốt. Vậy
chớ cho rằng sách này không thể học theo mà phủ nhận nó.
Chúng ta phải biết sách này giúp cho chúng ta phần nào trong
việc đi xa là tu tiến đến Phật quả và việc lên cao là
giải thoát sanh tử, đừng nghĩ rằng quyển sách này không
có lợi ích, bỏ đi thì rất uổng. Bởi vì đời nay đã
cách xa, lời nói cũng bị mai một, sách này chẳng còn được
lưu hành. Từ đời Lê tới đời Nguyễn sau này, quyển
Kiến
Tánh Thành Phật càng ngày càng không được người biết
tới, nên bị mai một, vì vậy mà ngài Diệu Trạm cho in tái
bản để cho mọi người đọc. Ðó là lần tái bản ngài
Diệu Trạm ghi Lời tiểu dẫn.