A.
CHÁNH VĂN
II-
TỰA
"Kiến
Tánh Thành Phật" là liễu ngộ xưa nay không một vật.
Nguồn linh rỗng lặng, trong sáng tròn đồng cả thái hư. Pháp
tánh bao trùm, nghiễm nhiên ánh sáng soi suốt nơi sát hải,
rõ ràng lồ lộ ngay trước mắt. Bản tánh Như Lai tự như
mà ứng hiện trên trời dưới đất, nên hay tùy loại, tùy
hình, hoặc cõi này phương khác thị hiện ra đời độ thoát
quần sanh. Khai quyền thì phương tiện có muôn pháp, hiển
thật thì hội ngộ về một tâm. Trỏ Phật quả Bồ-đề
vô tướng, vốn rỗng lặng tròn đồng thái hư. Phó pháp ấn
tâm tông Bát-nhã lộ bày bốn mắt nhìn nhau. Trong Kinh Lăng
Già, quyển hai, đức Phật Thích Ca đã chỉ bày rành rõ. Hàng
hậu học ai còn ngờ vực xin hãy mau tìm Kinh tra cứu, tự
nhiên nghi ngờ hết sạch mà được chứng thật, đốn ngộ
kiến tánh thành Phật. Cần biết diệu lý của Phật pháp,
chẳng dính dáng gì đến văn tự ngôn ngữ, bặt hết mọi
hý luận, bản tế trong lặng tròn đầy, ba đời chư Phật
cuối cùng đành ngậm miệng không lời, nhiều đời Tổ sư
rốt ráo cũng im hơi lặng tiếng. Nên đức Thế Tôn giơ cành
hoa chỉ cho đại chúng, ngài Ma-ha-ca-diếp khế hội mỉm cười,
thầy trò bốn mắt nhìn nhau, tuệ nhãn chiếu sáng lẫn nhau,
thầm lặng ấn tâm, phó pháp truyền y nối vị Tổ.
Tâm
ấn Bát-nhã tròn đồng cả thái hư chân không tỏ rõ, xưa
nay vẫn như thế. Từ hai mươi tám vị Tổ Tây Thiên truyền
đến sáu vị Tổ Ðông Ðộ, chỉ thẳng
nối tiếp nhau, bốn mắt nhìn nhau, im lặng nhìn trừng trừng,
gượng gọi là tâm ấn mà phó chúc đó thôi.
Ðến
các Tổ đời sau ứng hiện ra đời, giúp nêu cao việc giáo
hóa, diễn rộng pháp môn, mở rộng phương tiện. Việc ứng
duyên đã xong, nguyện lực còn để lại, Ngữ lục chợt hưng
thịnh, đều lập thành công án, khai sơn dạy chúng, gậy hét
dạy đuổi, câu câu về nơi tông, cơ cơ chung một lý.
Hàng
thượng căn lãnh ngộ thì được cơ đại hành đại dụng,
bậc cao sĩ biết suốt thì rõ pháp vô trụ vô vi. Song người
người xuất gia theo Phật, kẻ kẻ học đạo tham thiền, phải
xét rõ tinh tường Kinh điển của Phật, Ngữ lục của Tổ,
muôn đuốc nghìn đèn chỉ một ngọn lửa. Nếu người căn
cơ bén nhạy bậc thượng thì hội thông muôn pháp thảy ở
nguồn tâm. Nếu người bậc hạ chấp nghiêng lệch một bên
thì thích theo phép thức tình phân biệt, luống mở to cửa
ngõ, tình còn hơn thua, thức chứa nghĩ suy, kẹt tâm hữu lậu,
trái với ý chỉ vô sanh. Bởi do chưa xét tột trí tự nơi
mình, nên còn bị người lừa dối, chìm đắm nơi giáo nơi
tông, tranh luận nhân ngã, phân biệt kia đây, nghĩ tìm kẽ
hở mà công kích lẫn nhau, nhà mình nhà người, đấu lý tranh
lời giành hiểu biết. Ai còn như thế là chưa vượt khỏi
pháp trần phiền não, chưa lãnh hội chân như bình đẳng,
ngã chấp pháp chấp chẳng quên, thức thần khư khư chấp
cứng, sẽ mãi mãi chìm đắm nơi tông giáo. Ai hay nơi dốc
đứng buông tay, mới đáng gọi đích thực trượng phu, xưanay
một vật cũng không, lưới giáo nơm bẫy buông sạch. Ðó
là chỗ gọi: "Mộng huyễn không hoa, đâu nhọc nắm bắt,
được mất phải quấy, thảy đều buông hết, âm thanh sắc
pháp, vốn từ tâm sanh, tâm có phân biệt đều rơi vào đường
tà". Cho nên nói: "Pháp tánh vốn rỗng lặng, không lấy cũng
không thấy. Tánh không tức là Phật, chẳng thể nghĩ lường
được". Tông chỉ Bát-nhã vốn ngộ không chỗ được mà
được. Từ xưa đến nay không có kiến chấp sai khác, nguồn
chân trong lặng nhiệm mầu, ánh tịch quang vô tướng vô vi,
thể vọng như hoa đốm trong không, huyễn khởi lên liền có
tên có chỗ.
Hòa
thượng Chân Nguyên là người quê ở làng Tiền Liệt, huyện
Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, trước kia còn đồng tử đi xuất
gia theo Phật, lên thẳng chùa Hoa Yên núi Yên Tử, được ý
chỉ tông ấn dòng Trúc Lâm với Thiền sư Chân Trú hiệu Tuệ
Nguyệt. Không bao lâu Thiền sư Chân Trú nghiễm nhiên trở
về không (tịch). Sư lại gặp thiện tri thức chung nhóm ba
huynh đệ, đồng chí hướng, đồng tu tập, đồng giới phẩm,
tham học thành tài.
Sư
y cứ Kinh Phạm Võng, Như Lai đã phó chúc: "Nếu trong khoảng
ngàn dặm có bậc Ðại tông sư, phải mau đến ân cần cầu
xin thọ giới Bồ-tát". Ví như lầu cao bốn tầng phải theo
thứ lớp đi lên. Cũng vậy bốn đàn giới phẩm có thể lên
tới địa vị Phật. Sư lại là người học rộng thấy trong
Kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ Huệ Năng đã được ấn ký ở
Hoàng Mai, rồi gặp nhiều hoạn nạn chưa kịp đăng đàn thọ
giới, sau đó cũng thỉnh chư Tăng đồng đến chứng cho cạo
tóc, thọ giới mới được tròn sáng. Nếu thực là đệ tử
Phật không được trái bỏ vượt qua. Như Lai đã nói, quyết
phải thuận theo. Ngày trước đã có việc như trên, ngày nay
đâu không việc này. Muốn được quả thù thắng, phải tuân
theo điều này mà vâng làm. Sư chuẩn bị đầy đủ ca sa,
tọa cụ, pháp phục, sắm lễ vật với tâm thành, vì pháp
vượt xa xôi thẳng đến chùa Vĩnh Phúc trên núi Tôn Côn Cương,
phủ Từ Sơn, Kinh Bắc, một lần nữa đảnh lễ Tôn sư Minh
Lương, tức Hòa thượng Mãn Giác truyền pháp tông Lâm Tế,
thỉnh cầu lên đàn thọ giới Bồ-tát. Trong Kinh Phật nói:
bởi người đắc đạo vốn do nhân duyên từ nhiều kiếp
đã ngộ sâu chân như mà cảm kích đến Phật Tổ.
Sư
xúc động than rằng: "Phật xưa sớm được công quả cao siêu,
do siêng tu thắng hạnh đầu đà. Hương hoa muôn vật là ngoại
tài, cánh tay hay một ngón tay là nội thân tài, ân Phật khó
đền đáp, đức Tổ đâu dễ trả !" Sư bèn cung kính đối
trước tượng Phật dùng lửa đốt ngón tay phát nguyện: "Trước
đốt một ngón tay, nguyện đem pháp cúng dường này đền
đáp ân sâu của Phật Tổ, Sư Trưởng". Sau Sư đốt tiếp
một ngón tay nữa: "Nguyện đem pháp cúng dường này, nương
theo Kinh Phạm Võng thọ giới Bồ-tát và thẳng lên mười
đại nguyện lực Bồ-đề. Nguyện đời đời tiếp nối đèn
tuệ của chư Phật, kiếp kiếp kế thừa y bát của chư Tổ.
Vì tông và giáo đốt ngón tay, kính dâng lên Tổ Ðiều Ngự.
Tùy nguyện của chúng hữu tình, mà cảm đến trí vô lậu".
Sư
dốc chí cầu quả Phật Vô Thượng Bồ-đề nên nhiếp niệm
nơi núi rừng, ở yên chốn vắng vẻ, tư duy Phật pháp, mở
rộng quy mô to lớn, còn mãi với trời đất, gầy dựng nền
tảng cho tông và giáo, quần sanh được lợi lạc, pháp giới
đều thấm nhuần ân đức. Sư từng chọn nơi phúc địa Việt
Nam, với cảnh chùa Quỳnh Lâm, Hoa Yên là hai cảnh danh lam,
khiến trở thành như trên hội Linh Sơn nước Tây Thiên Trúc,
là cột trời ở Việt Nam, bảo phường của Phật Tổ, nêu
cao đây là Cực lạc.
Người
dân thường thì thuế vụ đầy đủ, làm thích tử tu hành
thì đốt hương chúc Thánh: "Mạch nước lâu dài, Thiền tông
sáng rỡ, tượng pháp lưu truyền, độ người vô lượng".
Từ đó Sư hăng hái phát chí nguyện lớn, khuyến hóa mọi
người khắp nơi đem tiền của kết duyên lành, góp phần
công đức, rồi ra sức tạo dựng đài "Cửu Phẩm Liên Hoa".
Qua chín năm thì hoàn thành ba đài ở ba nơi:
1.
Ðài Cửu phẩm ở chùa Quỳnh Lâm, núi Tiên Du.
2.
Ðài Cửu phẩm ở chùa Hoa Yên, núi Yên Tử.
3.
Ðài Cửu phẩm ở chùa Linh Ứng, huyện Thanh Hà.
Sư
lại khắc in các Kinh Pháp Hoa... đem hết lòng làm Phật sự
để đền đáp ân Phật. Tượng đức Di Ðà nổi bật trên
đài Cửu phẩm, và thêm tu sửa tượng điện, gác chuông chùa
Long Ðộng, trong ngoài được vuông tròn, công đức viên mãn,
cũng không quên nguyện lực, quyết chí công phu chỉ cầu quả
Phật. Núi Yên Tử vốn là chỗ tu hành, tùy thời dạo đi
qua lại chùa Hoa Yên, Long Ðộng và am Thiền Dược, được
thú ở yên lặng lẽ, lại có phước duyên sanh ra gặp được
Phật pháp.
Triều
Lê niên hiệu Chính Hoà (1680-1705), đức Giác Hoàng Cổ Phật
sanh trở lại để mở bày hiển rõ tạng Kinh. Mây từ nhuận
khắp, mưa pháp thấm đều, từ hàng Thích tử cho đến muôn
dân đồng được hưởng ân huệ. Vua tôi mừng tụ hội, đúng
thời tiết nhân duyên, Phật pháp hiện tiền. May được chứng
quả mà gánh vác Phật pháp, thay Phật tuyên dương. Ðã rõ
biết pháp tánh rỗng rang vắng lặng, tròn đồng thái hư;
Chân như trong lặng nhiệm mầu, vốn không một vật. Tuy trong
ánh tịch quang vốn không một pháp, mà phương tiện chỉ bày
có nhiều cửa. Xét ngày xưa có thực hành, ngày nay mới có
thể học theo. Vì vậy Kinh Kim Cang phần ba mươi hai. Hội giải
câu "Như như bất động", Thiền sư Xuyên Lão nói: "Một câu
rốt sau mới đến lao quan. Liền được chư Phật ba đời
bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư có phần thối thân".
Ðáng bảo là sông ngòi toàn đóng băng, nước chẳng thông
thoát; tột mắt đều là gai góc, không chỗ đặt chân. Ðến
trong ấy thêm một mảy tơ, như trong mắt để kim; bớt một
mảy tơ, dường trên thịt lành khoét thành thương tích. Chẳng
phải vì đoạn dứtyếutân,
bởi do người biết pháp e ngại. Tuy nhiên như thế, Phật
pháp chỉ như trên đây, bèn thấy trên đất bằng chết chìm,
đâu có đèn đèn mồi sáng mãi. Thượng tọa Xuyên ngày nay
chẳng khỏi đoạt thức ăn trong miệng cọp mạnh, giành hạt
châu dưới hàm rồng dữ, mở toang cửa mầu của bậc Thánh
trước, người hậu học có lối tiến thân. Buông ra một
đường, lại đâu có ngại ? Nói thì toàn bày pháp thể, nín
thì riêng lộ chân thường, động thì chiếc hạc mảnh mây,
tịnh thì an non sắp núi, tiến một bước như voi chúa xoay
đầu, lùi một bước tợ sư tử gầm rống, pháp vương pháp
lệnh đang hành, liền hay tự tại đối với pháp. Chỉ như
một câu rốt sau, làm sao nói ? Lại nói được chăng ?
Mây
ở đầu non nhàn quá đỗi,
Nước
chảy dưới khe rất rộn ràng.
TỤNG
:
Ðược
chỗ thảnh thơi hãy thảnh thơi,
Mây
tự bay cao nước tự trôi.
Chỉ
thấy mây đen nhồi sóng lớn,
Thuyền
câu chìm đắm chửa nghe rồi.
Âm
:
Ðắc
ưu du xứ thả ưu du,
Vân
tự cao phi thủy tự lưu.
Chỉ
kiến hắc vân phiên đại lãng,
Vị
văn trầm khước điếu ngư chu.
Xưa
nay không lối nào khác, người thông suốt thì cùng chung một
đường. Chư Phật đều có để phương tiện, vốn thuật
lại chí nguyện tiếp nối công phu. Tâm mong người trở thành
rường cột cho Phật pháp, để làm mẫu mực cho người sau
soi xét noi theo. Tôi theo khắp các Kinh trong Ðại tạng, mở
bày tâm địa ra nơi từ chương (chữ nghĩa) mà soạn thành
một bản luận lưu truyền, đặt tên là "Kiến Tánh Thành
Phật".
Nhằm
nêu rõ nguyện lực ra đời, và giúp lo gánh vác sứ mạng
Như Lai, đời đời tiếp nối ngọn đèn Phật Tổ, làm sáng
rực con mắt của trời người. Ðời sau ai là người có chí
lớn, giữ gìn gia phong của Phật, phò trì tượng pháp an ổn
lâu dài, thì phước tuệ trang nghiêm tối thắng. Hoặc kẻ
thấy đài Cửu phẩm hư đổ và các Kinh bản cũ mục, thì
hãy khuyến hóa đàn na, cùng nhau góp sức hưng công tu bổ
lại, tự rất mừng vui cho mình, thật đã làm được nhân
duyên tốt đẹp. Nếu hay hết lòng đền đáp ân Phật, sẽ
sớm được Di Ðà thọ ký.
Quyến
thuộc đều bỏ đi,
Tiền
của trả lại người.
Chỉ
căn lành gìn giữ,
Ðường
hiểm lương thực đầy.
Quyến
thuộc giai xả khứ
Tài
hóa tán hoàn tha
Ðản
trì tự thiện căn
Hiểm
đạo sung lương thực.
Nghĩ
đến lạnh hãy lo dệt áo ấm, chớ đợi sau khi đã lạnh.
Nghĩ đến khát hãy lo đào giếng, chuẩn bị trước khi chưa
khát. Lo sẵn cầu đò, làm phước niệm Phật, in Kinh tạo
tượng, như gấm thêm hoa, lấy làm công án vãng sanh Tây Phương,
cửu huyền thất tổ cùng chung được vượt lên chín phẩm
hoa sen nơi thế giới Cực lạc. Kinh nói: "Mình được độ
rồi độ người, tự lợi rồi lợi tha, người đã biết
tỏ bày cho người chưa biết, người giác trước chỉ dạy
cho người giác sau". Như một trăng hiện thành các trăng nơi
ngàn sông, trăng trăng rọi sáng rực; tợ một ngọn đèn mồi
truyền cho đèn nơi muôn nhà, đèn đèn nối tiếp sáng mãi.
Chính quyển Luận này là tâm tông của Phật Tổ. Chính quyển
Luận này là Kiến tánh thành Phật. Diệu lý của luận
này như tia lửa mặt trời, được chừng một mảy tơ thì
sáng rỡ không cùng tận. Xem học mà ngộ đạo thì như uống
nước cam lồ. Người lượng cao quán sâu thì suốt tột đáy
nguồn của pháp.
Hội
rằng:
Bủa
lưới giăng ngang sông,
Ðược
cá một mắt lưới.
Kinh
Lục đầy pháp giới,
Ngộ
đạo không một chữ.
Hội
Vân
La
võng bố hoành giang,
Ðắc
ngư nhất mục võng.
Kinh
Lục mãn pháp giới,
Ngộ
đạo vô nhất tự.
Bản
tánh rỗng lặng, tròn đồng thái hư, trong lặng nhiệm mầu
và tròn sáng, trọn không một vật. Nên biết, ngàn Kinh muôn
Luận đều là lời nói chỉ mặt trăng, đâu ích gì với lý
này. Tin tức ấy như thế ! Như thế ! Rõ biết muôn pháp,
tạm đồng với hoa đốm trong không. Nếu là bậc thượng
cơ, ngại gì một tiếng cười !
Phật
Tổ trong ba đời,
Bốn
mắt cùng nhìn nhau.
Xưa
nay không hai lối,
Thành
Phật sát na thôi.
Tam
thế chư Phật Tổ,
Tứ
mục cộng tương quan.
Cổ
kim vô nhị đạo,
Thành
Phật sát na gian.
Ðó
là chân không vô tướng, là cha mẹ của trời đất muôn vật,
làm nền tảng cho thế giới sanh linh, suốt cả xưa nay, chẳng
sanh chẳng diệt. Mây tụ thì tối mà chân không chưa từng
tối. Mặt trời soi thì sáng mà chân không chưa từng sáng.
Ẩn hiển cùng bày, sắc không chẳng hai, trời đất muôn vật,
chỉ một thể nguyên thần, vô trụ vô vi. Chợt hiện ra mặt
thật xưa nay, lìa danh lìa tướng, mở toang then chốt trên
đảnh môn hướng thượng, đèn tâm của Phật Tổ truyền
sáng mãi không cùng tận. Khi hiển mà nói, thì có tám muôn
pháp môn. Với mật mà ngộ, thì chỉ bốn mắt nhìn nhau.
Quốc
gia có mãi, ngôi báu kim luân cùng với trời đất còn hoài.
Phật
đạo không cùng, nối Tổ truyền tông đồng với Thứu Phong
chẳng mất.
Kính
đề tựa.
Trường
thủy, hàng hậu học truyền giữ Tổ thiền, Thích tử Trương
Viết Ðức tự Tính Phương giữ bản này.
Triều
Lê niên hiệu Chính Hòa thứ 19 (1698), ngày lành mùa Ðông năm
Mậu Dần khắc in lại.
Bản
khắc in lưu trữ tại chùa Long Ðộng, núi Yên Tử, nay lại
dời ra lưu trữ tại chùa Quỳnh Lâm để cho người sau hiểu
rõ.
Thích
Tử Chân Bình ghi chép.