PHẦN
HAI.
CÁI
THẤY, THIỀN ĐỊNH VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẠI THỪA
Tiếp
Theo
Giai
đoạn thành tựu
Bản
tánh của Tâm thức
Bốn
yoga: Nhất niệm, Đơn giản, Một vị, Không-thiền-định
Sự
chuyển hóa những Giác quan, Thức tình phiền não và các Uẩn
Sáu
đối tượng của giác quan
Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc, Tâm thức
Năm
thức tình phiền não
Sân
hận, Kiêu mạn, Tham lam, Ghen ghét, Vô minh
Năm
uẩn:Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức
Bốn
điểm chính yếu về Thân, Ngữ, Tâm và Pháp Thân
Kết
luận Bài Giảng Thứ Hai
GIAI
ĐOẠN THÀNH TỰU
Bản
tánh của Tâm thức
38.
Bất cứ cái gì xuất hiện đều là vọng tưởng và không
có hiện hữu thật sự ; Sanh tử và niết bàn chỉ là những
tư tưởng và không gì khác hơn.
Nếu
con có thể giải thoát những tư tưởng ngay khi chúng vừa
khởi lên, điều ấy bao gồm mọi giai đoạn của con đường
; Áp dụng yếu chỉ cho việc giải thoát những tư tưởng,
hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Bây
giờ chúng ta đi đến những lời dạy về một trong những
thực hành thuộc về Đại Toàn Thiện : sự thực hành của
giai đoạn thành tựu, siêu việt khỏi mọi thứ ý niệm hóa
bất kỳ nào.
Kinh
Samadhiraja nói, “Chúng ta cần hiểu rằng, trong thật địa
vô sanh, không có cái gì trong mọi thứ chúng ta tri giác –
thân thể chúng ta, nhà cửa, xe cộ v.v... – có một hiện
hữu thật sự nào.” Nếu các bạn khảo sát kỹ càng bất
kỳ sự vật gì, các bạn sẽ không thể tìm ra một điểm
nào nơi ấy nó được sanh ra, có một điểm nào nơi ấy nó
tiếp tục hiện hữu, hay có một điểm nào nơi ấy nó ngừng
hiện hữu. Đấy chỉ vì sự kiện liên kết thoáng chốc của
một chuỗi những nhân và những duyên mà một hiện tượng
riêng biệt khởi ra, giống như sự kết hợp của những tia
sáng mặt trời và một cơn mưa rào mùa hè tạo thành một
mống cầu vồng. Nếu các bạn có thể khai triển sự xác
tín toàn triệt rằng toàn bộ trò phô diễn không ngừng của
những hình tướng huyễn hóa là trống không trong bản chất,
điều này tự nó là giai đoạn thành tựu tối hậu.
Chúng
ta, những chúng sanh bình thường, đã bị thuyết phục rằng
tất cả hiện tượng của cả sanh tử lẫn niết bàn trước
tiên có sanh ra, rồi hiện hữu theo cách nào đó một thời
gian, và cuối cùng thôi hiện hữu. Nhưng nếu chúng ta theo
đuổi một nghiệm xét triệt để những sự vật, dùng lý
luận của Trung Đạo, chúng ta không tìm thấy một phần tử
nhỏ nhất nào của hiện hữu trong những hiện tượng ấy.
Một khi chúng ta hiểu ra điều đó, thật dễ dàng buông bỏ
sanh tử và thoát khỏi sự hấp dẫn của niết bàn, vì cả
hai không gì khác hơn là những phóng tưởng của tâm thức
nhị nguyên. Thấy bằng con mắt của một vị Phật, thì ngay
cả sự tích tập công đức và thực hành sáu ba la mật đều
không có bất kỳ thực thể nội tại nào, chúng vô tự tánh.
Dầu
chúng ta có thích tin bao nhiêu rằng những sự vật là thường
hằng, chúng cũng không là như vậy. Niềm vui hôm qua chuyển
thành nỗi buồn hôm nay, nước mắt hôm nay trở thành nụ
cười ngày mai. Vì những nhân và duyên khác nhau của chúng
tác động, những thức tình, hành động tốt và xấu, sướng
và khổ, tất cả có vẻ như thành hình. Tuy nhiên một người
giác ngộ khi nhìn vào thế giới của ảo tưởng, nó có vẻ
rất thật với chúng ta, người ấy thấy nó không có bản
chất nào hơn một ảo ảnh hay một vương quốc chinh phục
được trong giấc mộng đêm qua. Chính vì chúng ta tin quá mạnh
mẽ vào sự hiện hữu có thực và hiển nhiên của thế giới
vật chất mà chúng ta cảm thấy sự hấp dẫn và ghét bỏ
với những sự vật. Không có sự mê tín này, tâm thức chúng
ta sẽ không lệ thuộc vào mọi thứ vọng tưởng ấy và cũng
không có cái gì là sanh tử nào cả.
Tâm
thức bình thường thì thất thường như một con khỉ không
chịu yên, phút chốc vui vẻ khi chúng ta vừa cho nó một miếng
đồ ăn và thình lình nổi điên ngay khi chúng ta dơ cây gậy
về phía nó. Mỗi khoảnh khắc, tâm thức chuyển vào một
cái gì mới. Một giây phút chúng ta có thể nghĩ về guru với
sự sùng mộ lớn lao, giây phút sau chúng ta khát khao một đối
tượng gì ham thích. Những liên tục của tư tưởng và trạng
thái tâm thức này thường hằng thay đổi, như những hình
thể của những đám mây trong gió, nhưng chúng ta lại gán
cho chúng một sự quan trọng lớn lao. Một người già xem những
đứa trẻ đang chơi biết rất rõ rằng cái gì đang diễn
tiến thì không quan trọng chút nào và không cảm thấy phấn
chấn hay đảo lộn với những gì xảy ra trong trò chơi của
chúng. Tuy nhiên, những đứa trẻ thì cho đó là rất nghiêm
trọng. Giống như chúng, khi nào chúng ta trải nghiệm khổ
đau, thay vì thấy nó như là kết quả như mộng của những
hành động xấu trong quá khứ của chúng ta và biến nó thành
một dịp may để đảm nhận sự khổ đau của những người
khác trên chính chúng ta, chúng ta lại cảm thấy đảo lộn
và chán chường. Chúng ta tự nhủ rằng, là một người đã
từng thực hành nhiều như thế, chúng ta thực sự không đáng
bị những khốn khổ như vậy, và chúng ta bắt đầu cảm
thấy hoài nghi về những ân sủng của thầy chúng ta và Tam
Bảo. Một thái độ như vậy chỉ làm tăng thêm những khó
khăn cho chúng ta.
Tâm
thức là cái tạo ra cả sanh tử lẫn niết bàn. Tuy nhiên không
có gì cả trong ấy – nó chỉ là những tư tưởng. Một khi
các bạn nhận ra những tư tưởng là trống không, tâm thức
sẽ không có quyền lực làm huyễn hoặc các bạn được nữa.
Nhưng chừng nào các bạn còn cho những tư tưởng hư vọng
ấy là thật, chúng còn tiếp tục hành hạ các bạn một cách
không thương xót, như chúng đã từng làm suốt vô số đời
quá khứ. Để chiếm hữu được sự kiểm soát trên tâm thức,
các bạn cần biết điều cần làm và điều cần tránh, và
các bạn cũng cần rất cảnh giác và thận trọng, thường
trực xem xét những tư tưởng, lời nói và hành động của
các bạn.
Tâm
thức ở trọ trong thân thể như một người du khách trong
một căn nhà. Bất cứ điều gì thân thể gặp gỡ, chính
là tâm thức thấy, nghe, ngửi, nếm, hay cảm giác nó. Một
khi tâm thức ra đi, thân thể chỉ là một cái xác. Nó chẳng
để ý cái trước mặt là đẹp hay xấu. Nó chẳng để ý
nó được tán dương hay sỉ nhục. Nó không cảm thấy thích
thú nào khi được bọc trong quần áo thêu thùa, không đớn
đau nào khi bị đốt cháy. Tự nó, thân thể là một vật
không khác gì với một cục đất hay đá. Và khi thân thể
và tâm thức lìa nhau, lời nói, là một thứ gì giữa hai cái
đó, cũng biến mất, như một tiếng vang tan biến. Đối với
thân, ngữ và tâm thức, tâm thức mới là cái đáng kể, và
chính cho tâm thức mà Pháp phải được áp dụng.
Khi
các bạn nhận biết bản chất trống không của tâm thức,
bám chấp rơi rụng và các bạn không còn bị những tư tưởng
hư vọng của các bạn cho vào tròng. Khi một Bồ tát giúp
đỡ những người khác, ngài không có ý niệm nào nhận trở
lại một cái gì, hay được ca ngợi vì sự rộng lượng của
ngài ; ngài không có một bám chấp nào vào đức hạnh của
ngài. Đây là Quán Thế Âm tuyệt đối, tự thân lòng bi và
tánh Không.
39.
Tự tâm của con, tỏ biết và trống không không tách lìa,là
Pháp thân.
Hãy
để mọi sự như nó là trong tánh giản dị nền tảng, và
sáng tỏ sẽ tự khởi hiện. Chỉ có không làm gì cả con
sẽ làm tất cả những việc cần làm; Để cho mọi sự trong
tánh Giác trống không trần trụi, hãy trì tụng thần chú
sáu âm.
Sẽ
không hay khi tìm kiếm đâu đó bên ngoài các bạn bản tánh
tối hậu của tâm – nó ở bên trong. Khi chúng ta nói đến
“tâm”, điều quan trọng là biết chúng ta đang nói về cái
tâm bình thường, nghĩa là vô số chuỗi tư tưởng tạo ra
và duy trì trạng thái mê lầm của chúng ta, hay như ở đây,
về bản tánh của tâm ở tận nguồn của mọi tư tưởng
ấy – trạng thái trong sáng, trống không của tánh giác hoàn
toàn thoát khỏi mọi mê lầm.
Để
minh họa sự phân biệt này, đức Phật dạy rằng có hai cách
để thiền định – giống như con chó và giống như con sư
tử. Nếu các bạn liệng một cây gậy vào một con chó, nó
sẽ đuổi theo cây gậy ; nhưng nếu các bạn liệng một cây
gậy vào một con sư tử, con sư tử sẽ đuổi theo các bạn.
Các bạn có thể liệng nhiều cây gậy như mình muốn vào
một con chó, nhưng chỉ một cây gậy vào con sư tử. Khi các
bạn hoàn toàn bị quấy rối bởi những tư tưởng, lần lượt
chạy theo mỗi tư tưởng với cái đối trị của nó là một
công việc không cùng. Đấy cũng giống như con chó. Tốt hơn
là giống như con sư tử, nhìn vào nguồn gốc của những tư
tưởng này, tánh giác trống không, trên bề mặt của nó những
tư tưởng chuyển động như những đợt sóng lăn tăn trên
mặt hồ, nhưng chiều sâu của nó là trạng thái bất biến
của
sự đơn giản tối hậu. Ở yên trong sự tương tục không
lay chuyển của trạng thái này, hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Bốn
Yoga
Con
đường Phật giáo có thể được diễn tả bao quát theo hai
hệ thống : nhân thừa và quả thừa. Nhân thừa bao gồm cả
Tiểu thừa và Đại thừa tổng quát, nói đến năm con đường
; còn quả thừa tức là Mật thừa, nói đến bốn yoga : nhất
niệm, đơn giản, một vị và không thiền định.(56) Giáo
lý bốn yoga nhắm vào sự hợp nhất của giai đoạn phát triển
và giai đoạn thành tựu.
Nhất
niệm
40.
Hãy để tĩnh lặng cắt đứt đà của những tư tưởng chuyển
động ;
Trong
chuyển động thấy thật tánh của tĩnh lặng.
Nơi
tĩnh lặng và chuyển động là một, hãy hộ trì tâm tự nhiên
;
Trong
kinh nghiệm của nhất niệm, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Tâm
thức nói chung có hai phương diện, tĩnh lặng và chuyển động.
Đôi khi tâm thức thì yên tĩnh và thoát khỏi những tư tưởng,
giống như một cái ao yên bình ; đây là tĩnh lặng. Thỉnh
thoảng, những tư tưởng phải khởi lên trong đó ; đây là
chuyển động. Thật ra, dù trong một ý nghĩa, có một chuyển
động của những tư tưởng ở trong sự tĩnh lặng, nhưng
thật sự không có sự khác biệt giữa hai trạng thái này
– bản tánh của tĩnh lặng nguyên là tánh Không, bản tánh
của chuyển động cũng nguyên là tánh Không. Tĩnh lặng và
chuyển động chỉ là hai tên gọi của chỉ một tâm.
Phần
lớn thời gian chúng ta không tỉnh giác về trạng thái của
tâm thức của mình và không chú ý tâm thức là tĩnh lặng
hay chuyển động. Trong khi các bạn đang thiền định, một
tư tưởng có thể khởi lên trong tâm các bạn – chẳng hạn
ý nghĩ đi siêu thị mua đồ. Nếu các bạn tỉnh giác với
tư tưởng và ngay đó để nó tự tan biến, bấy giờ đó
chính là sự chấm dứt của nó. Nhưng nếu các bạn vẫn không
tỉnh giác với cái đang xảy ra và để tư tưởng ấy lớn
lên và phát triển, nó sẽ dẫn đến một tư tưởng thứ
hai, làm bạn lìa khỏi sự thực hành của các bạn, và rất
nhanh các bạn sẽ thấy mình thật sự đứng dậy và đi ra
đến chợ. Rồi nhiều tư tưởng và ý niệm nữa sẽ khởi
lên – làm sao mua cái này, bán cái nọ... – Đến điểm này
các bạn đã rất xa khỏi sự trì tụng mani.
Thật
hoàn toàn tự nhiên khi những tư tưởng cứ khởi. Vấn đề
không phải là cố gắng dừng chúng lại, không thể nào làm
thế, mà là giải thoát chúng. Điều này được làm bằng
cách an trụ trong một trạng thái của sự đơn giản, nó để
cho những tư tưởng khởi lên và lại biến mất mà không
xâu thêm vào chuỗi những tư tưởng nào khác. Khi các bạn
không kéo dài nữa chuyển động của những tư tưởng, chúng
tự tan mất không để lại dấu vết. Khi các bạn không làm
hư hỏng trạng thái của tĩnh lặng bằng những tạo tác của
trí óc, các bạn có thể duy trì sự thanh tĩnh tự nhiên của
tâm thức không phải có cố gắng nào. Đôi khi, hãy để cho
những tư tưởng của các bạn trôi chảy, và trông chừng
bản tánh bất biến ở dưới chúng. Đôi khi, thình lình cắt
đứt dòng tư tưởng, hãy nhìn vào tánh giác trần truồng.
Vô
số tư tưởng và ký ức, bị kích thích bởi những khuynh
hướng chúng ta đã quen thuộc, khởi lên trong tâm thức. Cái
này nối tiếp sau cái kia, mỗi tư tưởng có vẻ biến mất
vào quá khứ, chỉ để được thay thế bằng cái tiếp theo,
đến lượt cái này trở thành hiện tại thoáng qua cho tâm
thức trước khi chính nó nhường chỗ cho những tư tưởng
tương lai. Mỗi tư tưởng có khuynh hướng bị lây nhiễm bởi
cái đà chuyển động của một tư tưởng trước nó, đến
độ ảnh hưởng của một chuỗi tư tưởng lớn lên theo thời
gian ; điều này được gọi là “sợi dây xích của mê lầm.”
Như cái chúng ta gọi là một tràng hạt thật ra là một chuỗi
của những hạt đơn lẻ, cũng thế cái chúng ta thường gọi
là tâm chỉ là một tiếp nối của những tư tưởng nhất
thời ; một chuỗi tư tưởng tạo thành dòng của tâm thức,
và dòng tâm thức dẫn đến đại dương của hiện hữu. Sự
tin tưởng của chúng ta rằng tâm thức là một thực thể
là một kết luận được đặt nền trên một thẩm xét không
đầy đủ. Chúng ta tin một dòng sông chúng ta thấy hôm nay
cũng vẫn là một dòng sông chúng ta thấy hôm qua, nhưng trong
thật tế một dòng sông không bao giờ ở nguyên dạng dù chỉ
một giây – nước làm nên con sông hôm qua chắc hẳn đã
là một phần của đại dương bây giờ. Điều tương tự
cũng đúng với vô số tư tưởng chạy qua “tâm” chúng ta
từ sáng đến chiều. Dòng tâm thức của chúng ta chỉ là
một tiếp nối những tư tưởng trong khoảnh khắc ; không
có cái thực thể riêng biệt nào mà các bạn có thể chỉ
ra như là một cái tâm.
Bây
giờ, nếu chúng ta nghiệm xét thẩm tra tiến trình tư tưởng
theo luận lý của Trung Đạo, sẽ trở nên rõ ràng rằng những
tư tưởng quá khứ thì đã chết, như một cái xác. Những
tư tưởng tương lai thì chưa sanh. Ngay những tư tưởng hiện
tại, chúng không thể nói được là có những đặc tính nào
như nơi chốn, màu sắc, hay hình dạng ; chúng không để lại
dấu vết ; và thực vậy chúng không được tìm thấy ở đâu
cả. Thật ra, không thể có điểm tiếp xúc giữa những tư
tưởng quá khứ, hiện tại và tương lai ; nếu như có một
tương tục thật sự giữa chúng, chẳng hạn như giữa một
tư tưởng quá khứ và một tư tưởng hiện tại, điều này
tất yếu có nghĩa là hoặc tư tưởng quá khứ là hiện tại
hay tư tưởng hiện tại là quá khứ. Nếu quá khứ có thể
thực sự trải dài đến hiện tại theo cách này, thì theo
như vậy tương lai cũng phải đã có mặt trong hiện tại.
Thế nhưng không biết về bản chất thật sự của những
tư tưởng, chúng ta duy trì thói quen nhìn chúng như là nối
kết tương tục với nhau, cái này sau cái kia ; đây là gốc
rễ của mê lầm, vọng tưởng và là cái khiến chúng ta càng
ngày càng bị thống trị bởi những tư tưởng và xúc cảm
của chúng ta, cho đến khi sự lầm lạc điên đảo hoàn toàn
ngự trị.
Điều
quan trọng cốt tử là tỉnh giác với sự sanh khởi của những
tư tưởng và làm lặng những con sóng tư tưởng tấn công
các bạn. Giận dữ chẳng hạn là một khuynh hướng tàn phá
cực kỳ làm hư hỏng tất cả những phẩm tính tốt đẹp
các bạn có thể có. Không có ai vui thích sống cùng với một
người sân hận. Không có cái gì rất đáng sợ một cách
nội tại nơi sự xuất hiện của những con rắn, nhưng bởi
vì thường thường chúng rất dễ tấn công, nên chỉ thấy
chúng là đã gây ra sợ hãi hết hồn. Trong một người hay
một con rắn, một ưu thế của giận dữ như vậy thì không
gì khác hơn là kết quả của một sự tích tập không hề
kiểm soát của những tư tưởng tiêu cực. Nếu ngay khoảnh
khắc một tư tưởng giận dữ khởi lên, các bạn nhận biết
nó là thế nào và hiểu nó tiêu cực ra sao, sự giận dữ
của các bạn sẽ tự lặng xuống và các bạn sẽ luôn luôn
có thể khả ái với bất kỳ ai. Ngược lại, nếu các bạn
để cho tư tưởng giận dữ đầu tiên làm sanh khởi tư tưởng
thứ hai, rất nhanh chóng cơn giận của các bạn sẽ hoàn toàn
vượt ngoài kiểm soát, và các bạn sẽ sẵn sàng liều cả
đời mình để hủy diệt đối thủ của các bạn.
Bởi
thế, hãy luôn luôn nhớ rằng một tư tưởng chỉ là kinh
nghiệm của nhiều yếu tố và hoàn cảnh thoáng qua cùng phối
hợp. Dù tư tưởng là tốt hay xấu, nó không có hiện hữu
đích thực nào. Khi một tư tưởng vừa khởi lên, nếu các
bạn nhận biết ngay bản chất trống không của nó, nó sẽ
bất lực không thể nảy sanh thêm tư tưởng thứ hai, và chuỗi
xích của mê lầm sẽ dừng lại ngay đó. Như chúng ta đã
nói, điều này không có nghĩa chúng ta phải cố gắng đè
nén sự sáng tạo tự nhiên của tâm thức các bạn, hay các
bạn phải nỗ lực dừng dứt mỗi tư tưởng với một đối
trị riêng biệt. Đơn giản chỉ nhận biết tánh Không của
những tư tưởng và để cho chúng nghỉ ngơi trong tâm thức
buông xả. Tánh bổn nhiên của tâm thức, tinh khôi và bất
biến, bấy giờ sẽ thường tại sống động và an vững.
Trong
hai phương diện của thực hành thiền định, chỉ và quán,(57)
sự tĩnh chỉ cung cấp nền tảng trên đó quán chiếu, hay
viễn tượng rộng rãi, có thể bộc lộ bản tánh của tâm
thức và như thế cho phép các bạn giải thoát những thức
tình tiêu cực của các bạn. Nếu nền tảng, sự tĩnh chỉ,
là không an trụ, quán chiếu sẽ cũng không vững vàng, và
những vọng tưởng của các bạn sẽ khó kiểm soát. Bởi
thế cần yếu phải khai triển yoga nhất niệm, an trụ trong
tánh giác không chao động.
Đơn
giản
41.
Bằng cách khảo sát chân lý tương đối, hãy an lập chân
lý tuyệt đối; Ở trong chân lý tuyệt đối, hãy thấy chân
lý tương đối khởi lên như thế nào.Nơi cả hai chân lý
không tách lìa, vượt khỏi trí thức, là trạng thái của
đơn giản; Trong cái thấy thoát khỏi mọi tạo tác, hãy trì
tụng thần chú sáu âm.
Trong
chân lý quy ước, tương đối, chúng ta có thể chấp nhận
rằng thế giới hiện tượng có thể bị phá vỡ thành những
phần tử không còn có thể phân chia ; nhưng luận lý của
Trung Đạo chứng tỏ rằng những phần tử đó không bao giờ
có một hiện hữu độc lập và thường hằng nào. Như thế,
làm sao chúng ta có thể nói rằng những đối tượng vật
chất là thực sự hiện hữu ? Tương tự, dù chúng ta cố
gắng chia chẻ tâm thức thành những khoảnh khắc của thức
không còn có thể phân chia, chúng ta thấy rằng những cái
này rốt ráo cũng không có một hiện hữu cụ thể có thể
sờ nắm nào cả.
Nhận
biết sự tương tục và toàn khắp của bản tánh trống không
này, sự vô tự tánh này, là nhận biết chân lý tuyệt đối.
Đây là trạng thái tự nhiên vốn như thế của tâm thức,
không bị chạm nhiễm bởi bất kỳ che chướng nào, trong đó
tất cả hiện tượng được thấy như Phật thấy chúng, như
mộng hay như ảo ảnh huyễn thuật. Ở đây, những tư tưởng
không làm sanh ra những cảm xúc tiêu cực hay tích tập nghiệp,
những hoàn cảnh thuận lợi không tạo ra kiêu hãnh hay luyến
chấp, và những hoàn cảnh trái nghịch nhanh chóng được chuyển
hóa thành con đường của giác ngộ – ví dụ, một sự gặp
gỡ với người nào chọc giận các bạn, thay vì khởi nóng
giận, nó lại giúp các bạn phát sanh lòng bi và trở thành
một dịp may để nhận biết chân lý tuyệt đối không tách
lìa với Bồ đề tâm. Nếu các bạn không thể bỏ đi sự
luyến chấp vào những sự vật, đấy chỉ vì các bạn không
nhận biết bản tánh Không của chúng. Một khi các bạn đã
chứng ngộ bản tánh Không này, các bạn không còn cảm thấy
kiêu hãnh vì thành công như mộng hay thất vọng bởi thất
bại như mộng nữa.
Một
số người thấy mình được bao bọc bởi sắc đẹp, tiện
nghi, dư dả tự nhiên và an toàn, trong khi những người khác
có thể phải sống trong khó nhọc, cằn cỗi, nghèo túng và
những môi trường nguy hiểm. Bây giờ, đấy không phải là
kết quả của may mắn hay của sắp xếp ngẫu hứng nào. Được
sanh ra trong một nơi dễ chịu là kết quả của sự rộng
lượng, hay giúp đỡ và đức hạnh trong những đời trước
; trong khi những hoàn cảnh sống thù nghịch là hậu quả của
sự làm hại những người khác trong những đời trước bằng
cách tấn công họ, bỏ tù họ v.v... Những hiện tượng không
phải là công việc của một đấng sáng tạo ; chúng chỉ
là cái biểu lộ ra như kết quả phối hợp của nhiều nhân
và duyên. Như là kết quả của ánh sáng mặt trời chiếu
qua một màn mưa, một cầu vồng xuất hiện trên bầu trời,
cũng thế, như là kết quả của một số lớn những hành
động trong những đời quá khứ của các bạn, trong đời
này các bạn hoặc là hạnh phúc, khỏe mạnh, giàu có và được
mọi người yêu mến hay bất hạnh, nghèo khó, bệnh tật bao
vây và bị khinh thường. Thật vậy, mỗi chi tiết của vũ
trụ và chúng sanh chứa đựng không gì khác hơn kết quả
của nhiều yếu tố liên lập hội họp nhau trong chốc lát
; đấy là tại sao tất cả hiện tượng quá đỗi vô thường
và chịu sự biến dịch thường hằng đến thế.
Thế
nên khi các bạn khảo sát sự vật gì một cách sâu xa, các
bạn luôn luôn đi đến tánh Không và chỉ có tánh Không ;
tánh Không là bản chất tuyệt đối của mọi sự. Là những
người sơ học, chúng ta có thể đang ở trên con đường tích
tập hay con đường kết hợp,(58) những chúng sanh bình thường
chúng ta chưa có sự chứng ngộ thật sự tánh Không. Chúng
ta biết rằng khói chỉ ra sự hiện diện của lửa nhưng nó
không chính là lửa ; tuy nhiên, bằng cách theo khói chúng ta
có thể tìm thấy lửa. Tương tự, quan trọng là hiểu rằng
cái thấy về tánh Không là không cùng một thứ với kinh nghiệm
thực sự về tánh Không ; nhưng bằng cách theo cái thấy và
trở nên quen thuộc với nó, chúng ta sẽ đến chỗ chứng
ngộ thực sự bản thân tánh Không, thoát khỏi mọi ý niệm
hay lý thuyết. Đây là cái hiểu tối hậu của Trung Đạo,
sự không tách lìa hai thứ chân lý, sự hợp nhất của những
hình tướng và tánh Không.
Bản
tánh Không của tất cả hiện tượng là chân lý tuyệt đối,
và cách thức chúng xuất hiện là chân lý tương đối. Bằng
cách khảo sát chân lý tương đối các bạn sẽ đến chỗ
chứng ngộ chân lý tuyệt đối, bởi vì chân lý tuyệt đối
là bản tánh tối hậu của mọi sự. Nếu toàn thể thế giới
– tất cả châu lục, núi rừng của nó – bị tiêu hoại
và hoàn toàn biến mất, chỉ có hư không toàn khắp còn lại.
Một cái gì rất tương tự xảy ra khi các bạn thực sự chứng
ngộ những hiện tượng tương đối là gì, rằng chúng không
hiện hữu như những thực thể cứng đặc : không có gì còn
lại ngoài tánh Không toàn khắp. Nhưng chừng nào các bạn
còn tin vào sự hiện hữu cứng đặc, hữu hình của chân
lý tương đối, các bạn sẽ không bao giờ có thể chứng
ngộ chân lý tuyệt đối. Một khi các bạn chứng ngộ chân
lý tuyệt đối, các bạn sẽ thấy cái gì xuất hiện trong
nó – trò chơi vô tận, toàn thể của những hiện tượng
tương đối – như không gì khác hơn một ảo tưởng hay một
giấc mộng, mà các bạn sẽ chẳng cảm thấy chút gì luyến
bám. Chứng ngộ rằng hình tướng và tánh Không là một chính
là điều gọi là đơn giản, hay sự giải thoát khỏi mọi
giới hạn ý niệm, giải thoát khỏi mọi tạo tác.
Hai
chân lý không phải là hai thực thể phân biệt, như những
cái sừng của một con bò ; chúng chỉ là những phương diện
“xuất hiện’ và “trống không” của trạng thái bổn
nhiên. Trước tiên đã hiểu cái thấy một cách trí thức,
hãy khai triển kinh nghiệm đầu tay và tin vào tính nhất như
của hình tướng và tánh Không. Sự chứng ngộ về tính bất
khả phân của hai chân lý là một kinh nghiệm sâu xa, hoàn
toàn vượt khỏi mọi ý niệm trí thức. Đây là yoga của
tính đơn giản. Duy trì cái thấy này, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Một
vị
42.
Nơi những hình tướng, hãy cắt lìa sự bám chấp của tâm
thức ; Nơi tâm thức, hãy phá hủy hang ổ của những hình
tướng tưởng tượng ; Nơi mà tâm thức và những hình tướng
là một chính là tánh Không trống trải vô biên ; Trong sự
chứng ngộ một vị, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Cách
thức những hiện tượng khách quan xuất hiện cho chúng ta
thật ra là một tác động của tâm một cách chủ quan. Những
sự vật đối với chúng ta có vẻ hoặc sạch hay dơ, xấu
hay tốt, hấp dẫn hay ghê tởm, chỉ tùy thuộc vào cách thức
tâm thức riêng của chúng ta tri giác chúng. Như Shantideva nói
về những cõi địa ngục.
Ai
làm ra mặt đất bằng sắt nóng đỏ này ?
Từ
đâu có ra những bờ sông lửa ?
Mọi
sự ấy
Khởi
sanh từ tâm thức tiêu cực xấu xa.
Thật
vậy, khi các giác quan của các bạn gặp gỡ một đối tượng,
cái phần mà bản thân đối tượng tác động chỉ là khởi
xướng tiến trình của tri giác trong ý thức các bạn. Từ
lúc đó trở đi, vì tâm thức các bạn phản ứng với đối
tượng, bị ảnh hưỏng bởi tất cả thói quen được tích
tập và những kinh nghiệm quá khứ, toàn bộ tiến trình là
hoàn toàn chủ quan. Thế nên, khi tâm thức các bạn đầy giận
dữ, toàn bộ thế giới có vẻ như là một cõi địa ngục.
Khi tâm thức các bạn an bình, thoát khỏi mọi bám níu hay
trụ trước, và bất cứ điều gì các bạn làm đều phù
hợp với những giáo lý, các bạn kinh nghiệm mọi sự là
thanh tịnh một cách nguyên sơ. Trong khi một vị Phật thấy
những địa ngục là một thiên đường, thì những chúng sanh
mê lầm thấy một thiên đường là những địa ngục.
Những
tri giác của chúng ta được nhuộm màu bởi những vọng tưởng
theo cùng cách như cái thấy của một người bị bệnh vàng
da được nhuộm màu bởi mật trong đôi mắt, khiến nó thấy
cái tù và màu trắng ra màu vàng. Chính sự bám chấp làm cho
tâm thức phóng chiếu những vọng tưởng của nó lên những
hình tướng. Khi tâm thức vừa tri giác vật gì, nó bám chấp
vào tri giác ấy ; bấy giờ nó đánh giá đối tượng như
là đáng ưa, kinh tởm hay trung tính ; cuối cùng, bước vào
hành động trên cơ sở của tri giác méo mó này với thích
muốn, ghét bỏ hay thản nhiên, nó tích tập nghiệp.
Để
cắt đứt sự bám chấp của tâm thức, quan trọng là hiểu
rằng mọi hình tướng hiện ra là trống không, như nước
được các bạn thấy trong một ảo ảnh. Những hình thể
đẹp không làm lợi gì cho tâm thức, những hình thể xấu
cũng chẳng làm hại gì cho nó. Hãy cắt lìa những trói buộc
của hy vọng và sợ hãi, thích muốn và ghét bỏ, và an trụ
trong tánh bình đẳng với sự thấu hiểu rằng mọi hiện
tượng là không gì hơn những phóng chiếu của tâm thức của
tự các bạn.
Một
khi các bạn nhận biết thật tánh của tâm thức, toàn bộ
sự tưởng tượng bịa đặt này về những hình tướng tương
đối và sự bám luyến vào chúng sẽ hoàn toàn sụp đổ.
Tốt và xấu, sạch và dơ, mất đi hương vị thúc ép của
chúng và tan thành một vị. Các bạn sẽ đạt đến sự chứng
ngộ của Jetsun Milarepa, không phân biệt giữa sắt và vàng.
Khi Gampopa dâng cúng ngài vàng và trà, Milarepa nói : “Ta là
một lão già không cần vàng và cũng không có bếp để nấu
trà.” Ở trong cái thấy này, hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Không-thiền-định
43.
Trong bản tánh của tâm, sự đơn giản của tánh giác trống
không, mọi sự vật đều vốn giải thoát ; Những tư tưởng,
sự sáng tạo tự do của tánh giác, đều thanh tịnh trong cảnh
giới của chúng. Tâm và tánh giác là một trong tinh túy đơn
nhất. Trong sự không-thiền-định của Pháp thân, hãy trì
tụng thần chú sáu âm.
Bản
chất tối hậu của tâm thức là tánh giác bổn nhiên, từ
đó những tư tưởng lưu xuất như tia sáng chiếu ra từ mặt
trời. Một khi bản tánh này của tâm thức được nhận biết,
vọng tưởng tan biến như mây tan trong bầu trời. Bản tánh
của tâm thức thoát ngoài vọng tưởng thì không có sanh, trụ
hay diệt. Trong thuật ngữ của Mật chú thừa, nó được gọi
là tâm bổn nguyên tương tục,(59) hay tính đơn giản thường
hằng hiện diện. Nó cũng được diễn tả trong các kinh, chẳng
hạn Bát Nhã ba la mật nói :
Tâm,
Tâm
không hiện hữu
Sự
biểu lộ của nó là tánh sáng tỏ.(60)
Khi
các bạn khảo sát cái tâm tĩnh, cái tâm động và cái tâm
có thể nhận biết sự tĩnh và động, dù cho các bạn có
tìm kiếm bao lâu cái tâm, các bạn cũng sẽ không tìm thấy
gì ngoài tánh Không : tâm không hình dạng, không màu sắc và
không bản chất. Đây là phương diện trống không của tâm.
Tuy nhiên tâm có thể biết những sự vật và tri giác vô số
hiện tượng. Đây là phương diện sáng tỏ của tâm. Sự
không tách lìa hai phương diện này, tánh Không và Sáng Tỏ,
là tâm bổn nguyên tương tục.
Vào
lúc này, sự sáng tỏ tự nhiên của tâm các bạn bị che ám
bởi những vọng tưởng. Nhưng khi sự che ám này tan đi, các
bạn sẽ bắt đầu khám phá sự chói sáng của tánh giác,
cho đến khi các bạn đến một điểm mà, cũng như một hình
vẽ trên mặt nước biến mất ngay khoảnh khắc nó được
vẽ ra, những tư tưởng của các bạn được giải thoát ngay
khoảnh khắc chúng khởi ra. Thể nghiệm tâm theo cách này là
gặp gỡ nguồn gốc tối sơ của Phật tánh, sự thực hành
của sự quán đảnh truyền pháp thứ tư. Khi bản tánh của
tâm được nhận biết, đó gọi là niết bàn ; khi nó bị
che ám bởi vọng tưởng, đó gọi là sanh tử. Tuy nhiên cả
sanh tử lẫn niết bàn không bao giờ lìa khỏi dòng tương
tục của cái tuyệt đối. Khi sự chứng ngộ tánh giác đạt
đến mức độ đầy đủ của nó, những thành lũy của vọng
tưởng sẽ bị phá vỡ và đô thành của Pháp thân vượt
khỏi thiền định có thể được nắm lấy một lần cho mãi
mãi. Ở đây không còn sự phân biệt nào giữa thiền định
và sau thiền định, và kinh nghiệm được an trụ một cách
không cố gắng ; đây là không-thiền-định. Trong cảnh giới
vô biên của Pháp thân, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Tóm
tắt, yoga nhất niệm nhấn mạnh sự thuần hóa tâm thức,
và yoga của sự đơn giản kiến lập cái quán thấy. Hai cái
này hợp nhất trong kinh nghiệm của một vị, và khi kinh nghiệm
này trở thành không thể lay động, đó là yoga của không
thiền định.
Bốn
yoga của Mật chú thừa tương đương với năm con đường
của hệ thống Kinh thừa. Bởi thế quan trọng là giữ gìn
cái thấy, thiền định và hành động của cả kinh điển
và tantra cùng với nhau. Mọi cấp độ khác biệt của giáo
lý chỉ có một mục đích, là cắt đứt những phiền não
che ám ; bởi thế chúng hoàn toàn đồng ý với nhau. Nhiều
dòng suối khác biệt nhau của những giáo lý, phản ánh những
nhu cầu của những học trò khác biệt và trí huệ của những
vị thầy khác biệt, thực chất chỉ là một dòng sông độc
nhất.
Vị
y sĩ không ai sánh nổi của Takpo là Gampopa linh thánh, ban đầu
phụng thờ một đạo sự Kadampa và thực hành con đường
Đại thừa. Về sau, dưới chân Jetsun Milarepa, ngài thực hành
những hệ thống mật thừa Mahamudra và nội nhiệt và những
cái còn lại của sáu Yoga của Naropa, trở thành một trong
những vị tổ của dòng Kagyu. Những vị thầy Kadampa vĩ đại,
nổi tiếng vì sự thực hành hệ thống kinh điển, cũng đã
dạy những đệ tử của các ngài giai đoạn thành tựu của
Maha-mudra và sáu yoga, đã hòa trộn khéo léo tất cả những
thực hành này. Chớ bao giờ quên rằng cái chính không phải
là sự thực hành của chúng ta thuộc về kinh hay tantra, hoặc
nó là cấp độ này hoặc cấp độ kia, mà là nó dùng như
một đối trị hiệu quả đối với bám chấp và những phiền
não che ám.
Sự
chuyển hóa những Giác quan, Thức tình phiền não và các Uẩn
Trong
tất cả vô số giáo lý về nhiều cấp độ tạo thành con
đường Mật thừa, tinh túy là thấy tất cả mọi hình tướng
là thân thể của hóa thần, nghe tất cả âm thanh là thần
chú và nhận biết tất cả những tư tưởng là Pháp thân.
Theo cách này, sáu tri giác giác quan, năm phiền não độc hại
và năm uẩn được chuyển hóa thành những tương ứng thuộc
về trí huệ của chúng, và thân, ngữ và tâm thức được
chứng ngộ là mạn đà la kim cương, mạn đà la tự hữu của
tánh thanh tịnh bổn nhiên.
Sáu
đối tượng của giác quan
Sắc
44.
Nhận biết bất cứ sắc gì xuất hiện như là hóa thần bổn
tôn là điểm cốt yếu của giai đoạn phát triển. Sự bám
chấp vào hình tướng đẹp, xấu được giải thoát trong bản
tánh của chính nó. Thoát khỏi bám nắm, tâm như nó biến
hiện là thân của Quán Thế Âm Tối Thượng. Trong sự vốn
tự giải thoát của những kinh nghiệm thấy, hãy trì tụng
thần chú sáu âm.
Tâm
tự chính nó là không thể sờ nắm, như không gian trống không,
và chỉ có thể đi vào hoạt động nào, dù dẫn đến sanh
tử hay niết bàn, qua trung gian của thân. Ngay ở trung ấm,
chúng ta có một thân như mộng nó cho phép chúng ta kinh nghiệm
nhiều giai đoạn chuyển tiếp từ một đời này sang đời
kế tiếp. Trong khi tâm thức và thân thể kết hợp, thế giới
hiện tượng có thể được tri giác nhờ những giác quan và
những thức tương ứng của chúng. Chức năng của các thức
giác quan này chỉ là tri giác những đối tượng tương ứng
của chúng – sắc, thanh, hương... – mà không thêm vào cái
gì cả. Nhưng bấy giờ, khi tâm thức tạo tác trên những
tri giác này, nghĩ rằng, “Cái này đẹp”, “Cái kia xấu”,
“Cái này làm hại tôi”, “Cái kia đem lại cho tôi thích
thú”. Không phải hình sắc của đối tượng bên ngoài, cũng
không phải con mắt, cũng không phải nhãn thức sản xuất
ra những tạo tác chủ quan này, mà cuối cùng chúng sẽ dẫn
đến sự tích tập nghiệp ; nhưng chính là tâm thức. Một
vật đẹp đẽ không có phẩm tính nội tại tốt đẹp đối
với tâm thức, và một vật xấu xí không có sức mạnh nội
tại nào để làm nó khó chịu. Đẹp và xấu chỉ là những
phóng chiếu của tâm thức. Khả năng gây ra hạnh phúc hay
khổ đau không phải là một đặc tính của bản thân sự
vật bên ngoài. Chẳng hạn, việc thấy một người đặc biệt
có thể gây ra hạnh phúc cho người này và khổ đau cho người
khác. Chính tâm thức góp thêm những tính chất ấy vào đối
tượng được tri giác.
Theo
cách ấy, khi một sự vật gặp một trong những giác quan được
tri giác bởi giác quan thứ sáu là tâm thức, thì hoặc ưa
thích hoặc khó chịu, tri giác bị méo mó này có ra là do bám
chấp. Đây chính là nền tảng của sanh tử. Nhưng nếu không
có bám chấp, tri giác được giải thoát thành trí huệ. Đây
là kinh nghiệm sự thanh tịnh của niết bàn, nơi đó không
còn cần thiết phải khước từ những cảm giác thích thú.
Chính là để giải thoát khỏi bám chấp mà các bạn cần
tu hành trong việc nhận biết mọi hình tướng là những cảnh
giới Phật và mọi chúng sanh là những bổn tôn. Thấy những
sự vật theo lối này chuyển hóa tri giác của các bạn về
thế giới thành tánh thanh tịnh bổn nhiên và cho phép các
bạn chứng ngộ mọi phẩm tính của những cảnh giới Phật.
Khi
các bạn khảo sát cẩn thận bản chất của mọi hiện tượng
vô cùng và khác nhau trong vũ trụ và tất cả chúng sanh trong
đó, các bạn thấy rằng không có cái gì ngoài sự tương
tục của tánh Không. Có câu nói, “Sự thật của tánh Không
là sự thật của mọi sự.” Thật vậy, tánh Không là cái
khiến những hiện tượng vô cùng có thể xuất hiện. Thế
giới hiện tượng chúng ta tri giác, là trò phô diễn tự do
và giải thoát của tánh Không, chính là cảnh giới Phật và
mọi chúng sanh nam nữ là Quán Thế Âm và Tara. Đây là nền
tảng đích thực của Mật thừa.
Như
chúng ta bây giờ, chúng ta cảm thấy bị hấp dẫn bởi cái
gì đẹp và ghê sợ cái gì xấu ; chúng ta cảm thấy sung sướng
khi gặp một người bạn và bị đảo lộn khi thấy người
chúng ta không ưa. Những phản ứng này đều được sản xuất
ra bởi cái tâm thức bám chấp vào những đối tượng. Khi
chúng ta có thể nhìn ngay cả những sức mạnh xấu như là
sự phô diễn của trí huệ Quán Thế Âm, sự bám chấp này
được tịnh hóa và không có sức mạnh xấu nào có thể phá
rối cuộc đời hay sự thực hành của chúng ta. Khi chúng ta
tri giác mọi hiện tượng như là thanh tịnh một cách nguyên
sơ, như trò chơi của những hóa thần, thần chú và trí huệ,
tất cả tri giác giác quan có thể được dùng như con đường.
Khi chúng ta thấy rằng mọi sự khởi lên từ tánh Không như
sự biểu lộ của Quán Thế Âm, và như thế nhận biết cảnh
giới của thanh tịnh vô cùng, bấy giờ chúng ta không phân
biệt nữa giữa tốt và xấu, sạch và dơ ; tất cả là trò
chơi phô diễn của Quán Thế Âm. Những bạn thân là Quán
Thế Âm, những kẻ thù là Quán Thế Âm, tất cả là một
như Quán Thế Âm.
Khi
kinh nghiệm này khởi ra, hãy thận trọng chớ bám chấp nó
hay cảm thấy kiêu hãnh về nó. Cái thanh tịnh bao la này không
phải là sản phẩm của sự thiền định của chúng ta ; nó
là thật tánh của sự vật. Vàng trong căn bản không bao giờ
bị thoái hóa hư hỏng vì trộn lẫn với những chất khác
trong quặng vàng, và qua những tiến trình trích chiết và tinh
lọc nó chỉ trở thành chính nó. Cùng cách đó, mọi sự,
toàn thể vũ trụ và tất cả chúng sanh là bổn lai Không.
Những hiện tượng không bị hư hỏng ô nhiễm bởi ý niệm
về dơ cũng như không được cải thiện bởi ý niệm về
sạch. Thật tánh đơn giản luôn luôn chỉ là chính nó.
Như
bản văn gốc nói, tu hành bằng cách kinh nghiệm mọi hình
tướng là thanh tịnh là điểm cốt yếu của giai đoạn phát
triển. Thông thường cái này bao gồm sự quán tưởng một
hóa thần bổn tôn, nhưng nếu các bạn không thể giữ gìn
mọi chi tiết của sự quán tưởng trong tâm thức, thì thấy
thế giới như là một cõi Phật và những chúng sanh đều
có bản tánh của hóa thần bổn tôn đã đủ. Hộ trì kinh
nghiệm này, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Thanh
45.
Nhận biết những âm thanh như là thần chú là điểm cốt
yếu của thực hành trì tụng ; Sự bám chấp vào âm thanh
như là thích thú hay khó chịu được giải thoát trong bản
tánh của chính nó. Thoát khỏi bám nắm, âm thanh tự nhiên
của sanh tử và niết bàn là tiếng nói của sáu âm. Trong
sự vốn tự giải thoát của cái nghe, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Thường
thường, khi nghe những lời khen, những tin tức tốt, hay âm
nhạc đẹp đẽ làm cho chúng ta thích thú ; trong khi ngược
lại, nghe chỉ trích, những tố cáo sai lầm về chúng ta, những
tin tức xấu về những người chúng ta yêu mến, hay những
tiếng động nặng nề, chát chúa tức khắc làm chúng ta cảm
thấy khốn khổ hay tức giận. Khả năng tạo ra những tâm
trạng như vậy là một đặc tính không phải của bản thân
những âm thanh khác nhau ấy, mà là của tâm thức bám chấp.
Bồ tát, người biết rằng bản tánh của tâm là vô sanh,
tri giác mọi âm thanh thích thú hay khó chịu như là thần chú.
Khen ngợi không làm người ấy cảm thấy hãnh diện, và lời
nói thô bạo, thay vì kích thích sự giận dữ, chỉ làm tăng
thêm nhẫn nhục và lòng bi của người đó. Nếu các bạn
tri giác mọi âm thanh như là thần chú, những tin tức xấu
tốt sẽ không quấy rầy các bạn gì hơn là một ngọn gió
quấy rầy một trái núi. Thật vậy, bị đảo lộn khi các
bạn nghe những tin tức xấu chỉ tạo ra sự khổ đau cho các
bạn ; nó chẳng làm cho người chết sống lại cũng chẳng
lập lại những tài sản đã bị lấy mất.
Như
mọi hiện tượng, những âm thanh là kết quả của một phối
hợp những nhân và duyên khác nhau và không hiện hữu như
là những thực thể độc lập. Âm thanh đẹp đẽ của một
cây đàn tùy thuộc vào sự phù hợp thích đáng của mọi
sợi đàn, và nếu một sợi bị đứt hay lạc khỏi hợp âm
thì âm thanh nó tạo ra sẽ bất hòa và khó chịu. Hãy khảo
sát cẩn thận và sâu xa mọi âm thanh ; những âm thanh tự
nhiên của thời tiết, gió, sấm, xào xạc của lá cũng như
tiếng thú vật kêu, lời nói con người và bài hát, đều
được tạo dựng bởi những yếu tố căn bản của âm thanh,
và bản tánh của những yếu tố đó là tánh Không.
Chủng
tự A, tượng trưng cho bản tánh vô sanh, được xem là nguồn
gốc của tất cả âm thanh và chứa đựng tinh túy của chư
Phật trí huệ. Nói riêng, từ nó mà thần chú sáu âm sanh
khởi. Khi các bạn trì tụng thần chú, hãy nhận biết mọi
âm thanh đều khởi từ tánh Không, như là một trò phô diễn
vô cùng những thần chú – ngữ của chư Phật. Bấy giờ,
ngay một số ít những trì tụng cũng sẽ kết trái. Đây là
sự thực hành đem tất cả âm thanh vào con đường.
Sự
nói chuyện bình thường, nó vốn là sự biểu lộ của thương
hay ghét, sẽ chỉ làm cho bánh xe mê lầm càng quay nhanh hơn.
Nhưng sự trì tụng thần chú sẽ bảo vệ tâm thức các bạn
và dẫn dắt các bạn chứng ngộ bản tánh trí huệ của lời
nói. Bởi thế, hãy trì tụng manÏi mọi lúc, cho đến khi nó
trở thành một với hơi thở của các bạn.
Hương
46.
Nhận biết những hương như là vô sanh là điểm cốt yếu
của giai đoạn thành tựu ; Sự bám chấp vào mùi hương như
thơm hay thúi được giải thoát trong bản tánh của chính nó.
Thoát khỏi bám nắm, mọi mùi là giới luật thơm tho của
Quán Thế Âm Tối Thượng ; Trong sự vốn tự giải thoát của
cái ngửi, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Chúng
ta thích thưởng thức những mùi thơm, và chúng ta bịt mũi
trước những mùi thối. Tuy nhiên mọi mùi, dù là hương thơm
tinh tế của trầm hay mùi hôi thối của cứt đái, là trống
không trong bản chất ; hãy nhận biết chúng là thanh tịnh
và vô tự tánh, và dâng cúng chúng cho chư Phật như là hương
thơm của giới luật hoàn hảo. Một sự cúng dường như thế
làm hoàn thiện cả hai sự tích tập công đức và trí huệ.
Bởi vì chư Phật không bị nhiễm ô bởi những tri giác nhị
nguyên, chúng ta cũng phải buông bỏ mọi tư tưởng thích và
không thích. Khi chúng ta làm thế, tri giác những mùi sẽ được
giải thoát vào bản tánh của chính nó.
Vị
47.
Nhận biết những vị như một bữa tiệc thánh lễ là điểm
cốt yếu của cúng dường. Sự bám chấp vào cái nếm như
ngon ngọt hay ghê tởm được giải thoát trong bản tánh của
chính nó ; Thoát khỏi bám nắm, đồ ăn và thức uống là
những bản chất làm đẹp lòng Quán Thế Âm Tối Thượng.
Trong sự vốn tự giải thoát của cái nếm, hãy trì tụng
thần chú sáu âm.
Chúng
ta thường thưởng thức những vị ngon ngọt, thơm tho và chán
ghét thứ gì đắng, chua, cay, nồng. Thật ra chính chỉ tâm
thức bám chấp vào những vị ngon hay dở. Một khi tâm thức
chứng ngộ rằng những thuộc tính ấy là vô sanh và vô tự
tánh, bản tánh thanh tịnh của mọi thứ vị có thể được
nhận biết. Đồ ăn và thức uống bấy giờ trở thành sự
dâng cúng trí huệ của ganachakra, sự thực hành dâng cúng
thánh lễ.(61)
Qua
sự thực hành này, các bạn sẽ tích tập công đức, đánh
bại sự khát khao quen thuộc của mình với đồ ăn và thức
uống, và không rơi vào những cách thức không thích hợp của
sự tự nuôi sống mình. Khi mọi bám chấp được giải thoát
trong tánh bổn nhiên, đó là sự cúng dường tối thượng.
Xúc
48.
Nhận biết những cảm giác là tánh nhất như căn bản là
điểm cốt yếu của vị bình đẳng ; Những cảm giác no và
đói, nóng và lạnh, được giải thoát trong bản tánh của
chính chúng. Thoát khỏi bám nắm, mọi cảm giác là hoạt động
của hóa thần ; Trong sự vốn tự giải thoát của cảm giác,
hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Chúng
ta phân biệt giữa cảm giác mềm mại của lụa và thô nhám
của sợi đay, sự bằng phẳng của một cái tách và nhọn
bén của một cái gai. Nhưng giống như những tri giác giác
quan khác, những cảm giác này không hơn gì những giấc mộng
ban ngày.
Khi
các bạn thôi phân biệt giữa những cảm giác thích và không
thích, để cho chúng như chúng là, trong nhất như căn bản
của bản tánh trống không của chúng, tâm thức sẽ không
luôn luôn phấn chấn hay buồn bã nữa. Đây là kinh nghiệm
của vị bình đẳng, sự thực hành tối thượng đưa cả
hai sướng và khổ vào con đường. Khát khao cảm giác sự
vật mềm mại và thấy cái gì thô ráp khó chịu chỉ là bám
chấp. Hãy để mọi luyến bám và ghét bỏ lắng xuống trong
bản tánh trống không, và hoạt động Phật sẽ tự hiển
lộ một cách tự nhiên.
Tóm
tắt, bám chấp vào những tri giác giác quan là cái giữ các
bạn lưu lạc trong sanh tử, và đấy là tại sao vẫn thường
dạy rằng các bạn cần bỏ mọi lạc thú của các giác quan.
Nhưng nếu các bạn đã chứng ngộ tánh Không của những hiện
tượng ảo huyễn và bởi thế thực sự thoát khỏi bám chấp,
tất cả những tri giác giác quan của các bạn có thể đem
vào con đường để tăng trưởng sự tích tập công đức
và trí huệ của các bạn, và đem lại tiến bộ cho những
kinh nghiệm thiền định và sự chứng ngộ của các bạn.
Bất cứ cái gì các bạn thấy, nếm, ngửi, nghe hay cảm giác,
hãy nghĩ chúng giống như sự phản chiếu của mặt trăng trong
nước hay như một cầu vồng sống động trong bầu trời –
hấp dẫn đối với mắt nhưng thoáng qua và không lưu lại,
không thể nắm bắt và không có một hiện hữu chắc thật
nào. Thấy biết trong đường lối này, những tri giác của
các bạn sẽ không bao giờ bao giờ bị đông cứng bởi dừng
trụ hay vướng mắc bởi bám chấp.
Tâm
thức
49.
Nhận biết mọi hiện tượng đều Không là điểm cốt yếu
của
cái
thấy ; Niềm tin vào đúng và sai được giải thoát trong bản
tánh của chính nó. Thoát khỏi bám nắm, mọi thứ hiện hữu
của sanh tử và niết bàn, là dòng tương tục của Pháp thân.
Trong sự vốn tự giải thoát của những tư tưởng, hãy trì
tụng thần chú sáu âm.
Tâm
thức, phân chia kinh nghiệm thành chủ thể và đối tượng,
trước tiên đồng hóa mình với chủ thể, “tôi” ; rồi
với ý niệm “của tôi” và bắt đầu bám chấp vào thân
tôi, tâm tôi, tên tôi. Sự luyến bám vào ba ý niệm này càng
lớn lên mạnh mẽ, chúng ta càng trở nên quan tâm đặc biệt
đến phúc lợi riêng của chúng ta. Mọi cố gắng của chúng
ta cho tiện nghi, sự không khoan thứ cho những hoàn cảnh làm
bực mình của đời sống, và sự bận tâm với sướng và
khổ, giàu và nghèo, danh tiếng và mờ tối, khen và chê, đều
do ý niệm “tôi” này.
Chúng
ta thường quá bị ám ảnh bởi chính chúng ta đến độ chúng
ta khó bao giờ nghĩ đến phúc lợi của những người khác
– thật vậy, chúng ta lưu tâm tới những người khác không
hơn một con cọp lưu tâm tới việc ăn cỏ. Điều này hoàn
toàn trái ngược với quan điểm của Bồ tát. Cái ngã thực
sự là một tạo dựng của tư tưởng, và khi các bạn chứng
ngộ rằng cả hai đối vật được bám nắm và tâm thức
bám nắm đều trống không, bấy giờ dễ dàng thấy rằng
những người khác không hề khác biệt với chính các bạn.
Mọi
năng lượng chúng ta thường đặt vào sự chăm sóc chính chúng
ta thì những Bồ tát đặt vào sự chăm sóc những người
khác. Nếu một Bồ tát thấy rằng lao mình vào lửa của địa
ngục thì vị ấy có thể giúp đỡ cho chỉ một chúng sanh,
bấy giờ vị ấy sẽ làm không một khoảnh khắc ngần ngại.
Những Bồ tát đã đạt đến địa thứ tám(62) chứng ngộ
rằng sanh tử và và niết bàn hoàn toàn nhất như. Đây là
cái thấy tối hậu. Vị thầy Sakyapa vĩ đại Jetsun Trakpa Gyaltsen(63)
đã nhận được từ đức Văn Thù trong một linh kiến những
giáo huấn nổi tiếng về “giải thoát khỏi bốn luyến bám.”
Trong câu kệ chót Văn Thù Sư Lợi nói, “Nếu có bám chấp
thì không có cái thấy.” Shantideva cũng nói, “Mọi sự giống
như hư không – đây là điều tôi cần phải chứng ngộ.”
Đó là cái thấy tối hậu của cả kinh và tantra.
Cái
thấy tánh Không trước tiên cần được hiểu, rồi kinh nghiệm
và cuối cùng chứng ngộ. Chính từ tánh Không mà sanh tử
và niết bàn khởi lên, và chính vào tánh Không mà chúng tan
biến. Ngay dù chúng có vẻ đang hiện hữu, chúng thực sự
chẳng bao giờ rời khỏi tánh Không. Bởi thế, nếu các bạn
nhận biết tất cả mọi hiện tượng là Không trong bản chất,
các bạn sẽ có thể đương đầu với bất kỳ thứ gì xảy
ra, dù các bạn kinh nghiệm sướng hay khổ, mà không chút bám
chấp nào.
Được
thấy qua đôi mắt của tánh Không, đúng và sai là những quan
niệm nhị nguyên chúng chỉ có thể hiện hữu trong tương
quan lẫn nhau. Sai chỉ có thể có nếu cũng có cái đúng ;
nhưng nếu cái sai là trống không thì cái đúng cũng phải
trống không. Trong cái thấy tánh Không, bởi thế, không thể
có những khẳng định đúng nào cả, không có những điều
kiện, và không có bám chấp. Khi một Bồ tát an trụ vững
chắc trong cái thấy này, vị ấy không luyến bám vào sự
thanh bình của niết bàn, và để hoàn thành lợi lạc cho chúng
sanh, vị ấy có thể khoác lấy bất kỳ hình thức nào. Vị
ấy có niềm tin miên viễn nó cho phép ngài làm việc với
chúng sanh trong những kiếp bất tận, bất kể họ đã lầm
lạc bao xa. Không hề nghĩ đến giác ngộ cho riêng bản thân
mình, sự quan tâm duy nhất của ngài là giúp đỡ những người
khác tiến về mục đích đó.
Năm
thức tình phiền não
Chứng
ngộ cái thấy hoàn hảo là hoàn toàn thoát khỏi năm độc,
những thức tình phiền não giữ chúng ta làm nô lệ trong sanh
tử. Khi năm độc biến mất, năm trí huệ tương ứng được
hiển lộ.
Sân
hận
50.
Chớ theo đuổi đối tượng của sân hận ; hãy nhìn vào tâm
thức giận dữ.
Sân
giận, vốn tự giải thoát ngay khi nó sanh, là cái Không sáng
tỏ ;
Cái
Không sáng tỏ không gì khác hơn là Trí Huệ Như Tấm Gương.
Trong
sự vốn tự giải thoát của sân hận, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Sanh
tử xảy đến như thế nào ? Khi chúng ta tri giác mọi sự
xung quanh với năm giác quan của mình, tất cả các loại cảm
giác hấp dẫn và ghê sợ khởi lên trong tâm thức chúng ta,
và chính từ những cảm giác này mà sanh tử sanh khởi. Tri
giác thuần túy về sự vật, tự bản thân nó, không phải
là cái gây cho chúng ta lưu lạc trong sanh tử ; mà chính sự
phản ứng của chúng ta với những tri giác này và những giải
thích diễn dịch chúng ta gán cho chúng làm cho bánh xe sanh tử
quay mãi. Bây giờ, đặc trưng kỳ diệu của Mật thừa là,
thay vì kéo dài sanh tử theo cách ấy, chúng ta có thể trau
dồi tri giác về mọi hiện tượng như là trò chơi thanh tịnh
của trí huệ.
Khi
các bạn cảm thấy giận ghét ai đó, sự thù ghét và sân
giận của các bạn không phải là cái gì nội tại nơi người
ấy như một toàn thể cũng như một phương diện nào của
nó. Sự giận ghét của các bạn chỉ hiện hữu trong tâm thức
các bạn. Vừa trông thấy nó, những tư tưởng của các bạn
luôn luôn day đi day lại nó đã làm hại các bạn trong quá
khứ, nó sẽ làm hại các bạn trong tương lai như thế nào,
hay nó đang làm hại các bạn bây giờ ; chỉ nghe tên của
nó là đã làm các bạn đảo lộn. Khi các bạn trở nên trụ
tâm vào những tư tưởng ấy, sự giận ghét đầy đủ phát
triển, và tới lúc này các bạn cảm thấy một thôi thúc
không thể cưỡng được cầm một cục đá và liệng vào
nó, hay chụp lấy cái gì đó để đánh nó, nghĩ rằng, “Tôi
thực sự muốn giết nó !”
Giận
dữ có vẻ cực kỳ mạnh mẽ, nhưng nó lấy sức mạnh từ
đâu để tràn ngập các bạn một cách dễ dàng như thế ?
Nó là sức mạnh nào đó ở bên ngoài, một cái gì có tay
có chân, vũ khí và áo giáp ? Nếu không, thế thì nó ở đâu
trong các bạn ? Nếu thế, nó ở đâu ? Các bạn có thể tìm
thấy nó trong óc não, trong trái tim, trong xương cốt, hay trong
phần nào khác của các bạn ? Dầu không thể xác định ở
chỗ nào, giận dữ hình như hiện diện theo một cách rất
cụ thể, một bám chấp mạnh mẽ nó làm đóng băng tâm thức
các bạn thành một trạng thái cứng đặc và đem lại một
số lớn khổ đau cho cả các bạn và những người khác. Như
những đám mây, quá không chất thể để mang nổi trọng lượng
của các bạn hay để khoác lấy như áo quần, tuy nhiên có
thể làm tối đen toàn bộ bầu trời và che phủ mặt trời,
cũng thế, những tư tưởng có thể che ám sự sáng chói nguyên
thủy của tánh giác. Bằng cách nhận biết bản tánh thông
suốt, trống không của tâm, hãy để cho nó trở lại trạng
thái giải thoát, tự do tự nhiên của nó. Nếu các bạn nhận
biết bản tánh của sân giận là Không, nó bèn mất tất cả
sức mạnh làm hại của nó và hoàn lại thành Trí Huệ Như
Tấm Gương (Đại Viên Cảnh Trí) ; nhưng nếu các bạn không
nhận ra bản tánh của nó và thả lỏng cương cho nó, nó sẽ
không kém là nguồn gốc đích thực của những hành hạ cháy
bỏng và lạnh cóng của địa ngục.
Người
ta thường nghĩ về sự hàng phục và hủy hoại một đối
thủ như là một thành công tích cực, nhưng đấy chắc chắn
không phải là quan điểm của giáo lý Phật giáo. Khi giận
dữ phun như núi lửa, chớ có theo nó, mà thay vào đó hãy
nhìn thẳng vào bản tánh của chính giận dữ ; nó chỉ là
một chế tạo trống không ở trong cái trống không bao la của
tâm thức. Trải qua vô số đời, bị nô lệ bởi sự gây
gổ của riêng các bạn, các bạn đã tích tập vô lượng
nghiệp xấu. Từ giờ trở đi hãy thận trọng hơn, nhớ rằng
giận dữ là hạt giống từ đó mọi hành hạ của những
địa ngục có thể sinh trưởng. Nhổ sạch giận dữ, và không
còn đâu nữa những cõi địa ngục. Bởi thế thay vì ghét
hận những kẻ thù giả danh, mục tiêu tấn công đích thực
của sự giận ghét của các bạn phải là chính bản thân
sự giận dữ.
Nếu
các bạn không theo đuổi những cảm giác giận dữ, nếu các
bạn không tự làm mình xa lánh những người khác bởi sự
sân giận, nếu sự sân giận của các bạn được giải thoát
vào trong thật tánh của chính nó, bấy giờ đó là trí-huệ-như-tấm-gương,
một gương soi trong đó những người khác được phản chiếu
như là chính các bạn. Bao giờ một tư tưởng “sân giận”
có khởi lên trong tâm của Quán Thế Âm, nó chỉ làm cho trí
huệ càng sáng chói thêm nữa. Hơn nữa, khi các bạn hiểu
rõ rằng sân giận không thể nội tại nơi một đối tượng
bên ngoài và rằng tâm thức giận dữ bên trong là không có
một hiện hữu có thể sờ nắm nào, các bạn sẽ cảm thấy
lòng bi tự nhiên tỏa chiếu cho tất cả chúng sanh, đặc biệt
là cho những người bị hành hạ bởi những ngọn lửa của
sân giận.
Ngày
xưa, trong một đời trước của đức Phật, khi ngài là một
Bồ tát trong hình dạng một con rắn, một số đứa bé tàn
ác bắt ngài và hành hạ ngài đến chết. Nếu muốn, Bồ
tát có thể hủy diệt chúng với chỉ một cái nhìn ; nhưng
vì lòng ngài đã thoát khỏi tư tưởng nhỏ nhất về giận
dữ, đó không phải là điều ngài làm. Thay vào đó, ngài
cầu nguyện rằng qua sự tiếp xúc chúng đã có với ngài
bằng cách giết ngài, trong tương lai chúng sẽ trở thành đệ
tử của ngài và được ngài dẫn dắt đến giác ngộ. Sự
can đảm và nhẫn nhục gương mẫu này là kết quả của sự
chứng ngộ đầy đủ của ngài về tánh Không và đại bi.
Sân
giận là một kẻ tử thù của giải thoát, bởi vì một khoảnh
khắc của sân giận phá hủy công đức được tích tập trong
nhiều kiếp. Bởi thế, trừ diệt sân giận là một trong những
mục tiêu chính yếu của một Bồ tát. Thế nên, hăm hở giữ
giới nhẫn nhục, hãy trì tụng thần chú sáu âm. Như có nói,
“Không có lỗi lầm nào lớn hơn sân giận, không có giới
luật nào lớn hơn nhẫn nhục.”
Kiêu
mạn
51.
Chớ chạy theo đối tượng của kiêu mạn ; hãy nhìn vào tâm
thức bám nắm. Tự phụ, vốn tự giải thoát ngay khi
nó sanh, là tánh Không bổn nhiên ; Tánh Không bổn nhiên không
gì khác hơn là trí huệ của sự đồng nhất căn bản. Trong
sự vốn tự giải thoát của kiêu mạn, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Khi
nào chúng ta có được phẩm tính đáng khâm phục nào, hiểu
biết hay khéo léo đặc biệt nào, kiêu hãnh khởi lên tức
thì và làm hư hỏng phẩm tính tích cực ấy. Bị tràn ngập
bởi tự phụ, hoa mắt bởi vẻ đẹp, thông minh, học vấn
và quyền lực của chúng ta, chúng ta hoàn toàn đui mù với
mọi phẩm tính toàn hảo và đích thực của những bậc thầy
vĩ đại. Nhưng thật ra, những người bình thường như chúng
ta, lạc lõng trong mê mờ của sanh tử, dầu đôi khi có được
vài phẩm tính tốt, thì chắc chắn chúng ít hơn nhiều những
lỗi lầm ; và so sánh với những đức hạnh vô lượng của
những con người vĩ đại, những phẩm tính của chúng ta chỉ
nhỏ như đốm bột. Thật ra, những đức tính chúng ta cảm
thấy rất kiêu hãnh thường là những khuyết điểm giả dạng.
Thế
nên, bất cứ những tài năng giới hạn và không bền vững
nào các bạn có, tuyệt đối không có lý do gì để kiêu hãnh
về chúng. Như câu châm ngôn, “Cũng như nước không bao giờ
tụ lại trên chót đỉnh một trái núi, giá trị chân thực
không bao giờ tích tụ trên đỉnh lởm chởm của lòng kiêu
mạn.” Kiêu căng làm dừng sự phát triển lòng sùng mộ,
trí huệ hay từ bi ; nó đóng ngăn các bạn với những ban
phước của thầy và chận đứng mọi tiến bộ trên con đường.
Thế nên, để tránh sự hiểm nguy của sự kiêu mạn, quan
trọng là khảo sát chính các bạn một cách thành thật.
Nếu
các bạn phân tích sự kiêu căng một cách cẩn thận, các
bạn sẽ thấy ra rằng nó không nội tại trong cái gì mà bạn
cảm thấy tự phụ, mà được tạo ra bởi tâm bám nắm. Nếu
các bạn luôn luôn miên mật ở một vị thế khiêm tốn và
giữ tâm thức mình khiêm hạ, sự kiêu hãnh sẽ biến mất
như sương mù buổi sáng. Một tâm thức giải thoát khỏi móng
vuốt của kiêu mạn luôn luôn an trụ trong trí huệ của sự
đồng nhất căn bản (Bình đẳng tánh trí) của Quán Thế
Âm.
Tham
lam
52.
Chớ khao khát đối tượng của tham muốn, hãy nhìn vào tâm
thức tham lam. Tham muốn, vốn tự giải thoát ngay khi nó sanh,
là Không-Lạc ; Cái Không-Lạc này không gì khác hơn là trí
huệ phân biệt tất cả. Trong sự vốn tự giải thoát của
tham muốn, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Bất
cứ hạnh phúc nào mà các bạn mong mỏi từ cha mẹ, con cái,
bạn bè, sự giàu có hay tài sản của các bạn, nó sẽ không
kéo dài lâu, bởi vì cuối cùng tất cả chúng sẽ bị cái
chết giật mất khỏi các bạn – nếu không xảy ra trước
đó. Vô ích khi bám níu vào chúng.
Khi
các bạn chết, cho dù các bạn có đáng khâm phục thế nào,
dù giàu có và quyền lực thế nào, không có cái gì dùng được.
Các bạn sẽ lang thang trong trạng thái trung ấm giữa cái chết
và sự tái sanh, chỉ đồng hành với các bạn là nghiệp tốt
và xấu của mình. Góp nhặt giàu có và tài sản, rồi bảo
vệ và làm tăng trưởng chúng là một công việc làm nản
lòng và không cùng.
Cái
nhìn thấy vàng và kim cương mê hoặc chúng ta, và chúng ta
nhanh chóng bị đánh bại bởi tham muốn thúc dục phải chiếm
hữu chúng. Nhưng dù bằng cách nào đó chúng ta thu xếp để
mua những đồ vật đẹp đẽ và đắt giá ấy, sự bám chấp
của chúng ta, còn lâu mới chấm dứt, mà chỉ tăng thêm. Lo
lắng chúng ta có thể mất châu báu quý giá đã sở đắc
được, chúng ta cất nó thật an toàn và không bao giờ dám
đem nó ra ngoài và đeo nó. Sau cả một đời xây dựng trên
sự thèm khát, kinh nghiệm của chúng ta trong trạng thái trung
ấm chỉ có thể là sợ hãi và kinh hoàng cùng cực.
Buôn
bán, trồng trọt hay việc làm ăn nào mà phúc lợi có được
từ sự hao tốn của những người khác chỉ đem lại cho chúng
ta thêm nhiều nghiệp xấu. Không bao giờ thỏa mãn với cái
chúng ta có, luôn luôn nỗ lực thu được điều chúng ta muốn,
trong vô số đời chúng ta hoàn toàn mòn mỏi, kiệt sức. Chẳng
tốt hơn sao khi buông bỏ tất cả và thay vào đó học cách
làm thế nào được thỏa mãn với áo quần đủ mặc và lương
thực đủ sống ?
Nếu
các bạn cam kết theo sự thực hành và trì tụng thần chú
sáu âm với một tâm thức giải thoát khỏi bám níu, các bạn
sẽ thấy mình càng ngày càng ít bị hấp dẫn bởi những
theo đuổi bình thường của cuộc đời,và các bạn sẽ không
phung phí cuộc đời các bạn nữa. Tham muốn và bám chấp
sẽ lắng vào bản tánh của chính chúng, nó không gì khác
hơn là trí huệ phân biệt tất cả (Diệu quan sát trí) của
Quán Thế Âm.
Ghen
ghét
53.
Chớ đi theo đối tượng của ghen ghét ; hãy nhìn vào tâm
thức chỉ trích, chê bai. Ghen ghét, vốn tự giải thoát ngay
khi nó sanh, là trí trống không ; Trí trống không này không
gì khác hơn là trí huệ thành tựu tất cả.
Trong
sự vốn tự giải thoát của ghen ghét, hãy trì tụng thần
chú sáu âm.
Một
người bình thường cảm thấy ghen ghét, đố kỵ với những
ai có những thành đạt bằng hay hơn mình. Tuy nhiên ghen ghét
cũng lại không phải là một cái gì nội tại trong đối tượng
của sự ghen ghét ; nó chỉ là một chế tạo của tâm thức.
Bất kỳ khi nào một tư tưởng ghen tỵ khởi ra, đơn giản
chỉ nhận biết nó là cái gì và tùy hỷ với tất cả lòng
mình những thành đạt cao hơn của người khác.
Một
khi các bạn cho phép những tư tưởng ghen tỵ nẩy nở, chúng
có thể phát triển thành một cảm xúc quá quắt. Một ví
dụ là câu chuyện về sự ghen tỵ của Đề bà đạt đa với
người anh em chú bác Gautama. Dầu sau khi Gautama đã thành Phật,
Đề bà đạt đa cũng không ngừng nỗ lực làm đủ mọi cách
xảo quyệt để ganh đua với ngài. Những hành vi ghen ghét
của ông đến nỗi cuối cùng mặt đất mở ra dưới chân,
và ông rớt vào lửa của địa ngục ; ở đấy trải qua những
khổ sở kinh khủng, ông hối hận, kêu lên, “Từ sâu thẳm
của lòng mình, tôi quy y ngài, Gautama !” Dầu cho trong một
đời tương lai ông sẽ tái sanh làm một vị Bích Chi Phật,
nhưng trong đời này, ngay cả Phật cũng không cứu được
ông. Ghen tỵ bởi thế là một lỗi lầm rất trầm trọng
; chớ bao giờ rơi vào dưới ảnh hưởng của nó.
Chính
bởi cảm thấy rất hoan hỷ trong lòng các bạn với những
thành đạt của những người khác – chẳng hạn, với những
cúng dường lớn lao của ai đó cho Tam Bảo – các bạn sẽ
tích tập công đức như người kia. Thay vì si mê bởi những
thành đạt của chính các bạn, thay vì rơi vào cái bẫy ghen
tỵ, hãy tùy hỷ với những công đức vô giá của những
người khác, đặc biệt với những hành vi của những vị
rất cao cả. Đó không gì khác hơn là chính trí huệ thành
tựu tất cả (Thành sở tác trí).
Vô
minh
54.
Chớ cho những ý tưởng do vô minh đúc thành là đúng ; hãy
nhìn vào bản tánh của chính vô minh. Những người khách tư
tưởng, vốn tự giải thoát ngay khi chúng sanh, là Không-Giác.
Cái Không-Giác này không gì khác hơn là trí huệ của pháp
giới tuyệt đối và bao la. Trong sự vốn tự giải thoát của
vô minh, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Ở
đây vô minh (si) nghĩa là vô minh về Phật tánh của chính
chúng ta. Về mặt này, chúng ta vô minh như một người ăn
xin với một viên ngọc quý trong bàn tay, do không nhận biết
giá trị đến thế nào, liệng bỏ nó. Chính vì vô minh mà
chúng ta làm nô lệ cho những tư tưởng của chúng ta và không
thể phân biệt đúng với sai. Chính vì vô minh mà chúng ta
không tin vào những kết quả lợi lạc của sự cầu nguyện
Tam Bảo. Chính vì vô minh mà chúng ta không nhận biết chân
lý của Pháp. Vô minh là gốc rễ đích thực của tám mươi
bốn ngàn phiền não tiêu cực, vì chừng nào chúng ta còn không
thấy rằng thật tánh của mọi sự là tánh Không, chúng ta
còn khăng khăng tin rằng những sự vật có thật hiện hữu
; và đây là nguồn gốc của mọi tri giác mê lầm và mọi
tư tưởng xấu xa.
Tuy
nhiên vô minh không thường tồn như bóng tối thường trực
của một hang sâu dưới mặt đất. Như mọi hiện tượng
khác, nó chỉ có thể sanh khởi từ tánh Không và bởi thế
không thể có hiện hữu chân thật. Một khi các bạn nhận
ra bản tánh Không của vô minh, nó chuyển thành trí huệ của
pháp giới tuyệt đối và bao la (Pháp giới tánh trí). Đây
là tâm trí huệ của Quán Thế Âm, Phật tánh, yếu tính của
chư Như Lai, Như Lai tạng hiện diện trong tất cả chúng sanh.
Chỉ vì vô minh, như đức Phật đã bày tỏ, khiến chúng ta
tin vào tri giác mê lầm của chúng ta thay vì nhận biết Phật
tánh là bản tánh của chính chúng ta.
Bằng
cách xác lập bản tánh Không của vô minh, hãy nhận biết
sự mờ tối và mê vọng của nó là chính pháp giới bao la
tuyệt đối. Bấy giờ trụ trong kinh nghiệm này và thực hành
cái thấy, thiền định và hành động. Đây là tâm yếu tối
thiết của Quán Thế Âm.
Bởi
thế, bất kỳ khi nào những tư tưởng và thức tình liên
hệ với năm độc sanh khởi, thay vì tự để cho mình bị
chúng mang đi xa, hãy nhìn thẳng vào bản tánh của chúng ;
bằng cách làm như thế, cuối cùng các bạn sẽ đến chỗ
nhận biết năm độc chính là năm trí huệ bổn nguyên, chúng
là tình trạng tự nhiên của tâm không mê vọng. Đến điểm
này, tất cả tư tưởng của các bạn sẽ được giải thoát
ngay khi chúng khởi, và các bạn sẽ không bao giờ mất cái
thấy về tánh giác, Quán Thế Âm tuyệt đối.
Quán
Thế Âm tuyệt đối không gì khác hơn là tánh Không, tuy nhiên
trên bình diện tương đối Quán Thế Âm khoác lấy vô số
hình sắc để gặp gỡ những nhu cầu của chúng sanh. Tất
cả những biểu lộ này, với danh hiệu, hình thể và màu
sắc khác nhau, là sự phô diễn của trí huệ ngài, sự biểu
lộ của tính sáng tạo của tánh Không và đại bi. Đặc biệt,
Quán Thế Âm phô diễn năm hình sắc chính tương ưng với
năm uẩn và năm cõi(64) của sanh tử. Năm bài kệ tiếp theo
giải thích sự chuyển hóa của năm uẩn, hay skandha, thành
năm phương diện này của Quán Thế Âm.(65)
Năm
uẩn
Sắc
55.
Sắc là vô sanh, bổn lai không, như bầu trời ;
Tinh
túy của cái Không-Giác này là Quán Thế Âm –
Không
có cái gì khác ngoài Vua Thiêng Liêng của Bầu Trời.
Trong
cái thấy tánh Không này, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Chúng
ta thấy một cầu vồng trong bầu trời chỉ vì sự phối hợp
của tia sáng mặt trời và mưa. Theo cùng cách này, tất cả
vô số hình sắc mà chúng ta thấy chỉ có từ sự phối hợp
thoáng chốc của một số điều kiện ; dưới sự xem xét
cẩn thận tỉ mỉ, không có cái nào trong những duyên đó
có thể tìm thấy một hiện hữu bản chất nào. Ví dụ, chúng
ta dùng chữ thân thể để chỉ một hỗn hợp thường trực
thay đổi của xương, thịt và máu, tuy nhiên trong thực tế
không có một thực thể nào như là một thân thể.
Chính
năm uẩn chống đỡ cho ý niệm sai lầm về một cái “tôi”
hiện hữu một cách chất thể, cái “tôi” ấy là nguồn
gốc của mọi khổ đau. Nhưng một khi chúng ta nhận biết
sắc uẩn là Không, nó không gì khác hơn là Quán Thế Âm.
Danh hiệu đặt cho phương diện này của Quán Thế Âm, Vua
của Bầu Trời, truyền đạt cách thức bao la và toàn khắp
mà ngài khoác lấy hình sắc. Trong mỗi một lỗ chân lông
của thân thể ngài vô số cõi Phật xuất hiện mà lỗ chân
lông không lớn thêm hay những cõi Phật không nhỏ bớt. Tuy
nhiên, thân Quán Thế Âm không phải là thịt máu mà là sự
phô diễn của trí huệ ngài, trống không trong bản chất.
Nhận biết điều này, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Thọ
56.
Cảm giác là thòng lọng trói siết tâm thức cùng đối tượng
;
Khi
con biết nó là tánh nhất như bất nhị, nó là Quán Thế Âm
–
Không
có cái nào khác ngoài Thòng Lọng Phong Phú Thiêng Liêng.
Trong
sự chứng ngộ vị nhất như, hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Chính
sự kết hợp của thân thể và tâm thức cho phép những cảm
giác thích thú và khó chịu, sướng và khổ sanh khởi. Khi
thân các bạn cảm thấy một đau đớn nhỏ nào, như cái gai
đâm, lý do các bạn ghét nó là vì các bạn tin vào ý niệm
một cái ngã cá biệt. Bởi thế các bạn nghĩ, “Tôi... thân
tôi... hạnh phúc của tôi... đau khổ của tôi.” Sự kiện
khi những người khác cũng kinh nghiệm cùng một đau đớn
không làm cho các bạn khổ não gì cả là bằng chứng các
bạn tin vào một cái “tôi” như thế nào.
Uẩn
cảm giác này là sợi dây trói buộc các bạn vào ba cõi của
sanh tử. Cảm giác là phản ứng căn bản của thích và không
thích nó xảy ra khi các bạn gặp gỡ một cái gì trong thế
giới hiện tượng. Nó xảy ra qua tác động của các giác
quan và các thức tương ứng của chúng. Nếu các bạn khảo
sát nó, các bạn sẽ nhận ra nó không có một thực thể nào
; bấy giờ cảm giác trở thành trí huệ của nhất như, và
bản tánh của nó không gì khác hơn là phương diện của Quán
Thế Âm được biết như là Thòng Lọng Phong Phú, Amoghapasha
trong tiếng Sanskrit.
Amoghapasha
thuộc về bộ tộc trân bảo, và ngài sẵn đủ nhiều năng
lực đến độ chỉ nghe danh hiệu và thần chú của ngài cũng
sẽ mở rộng kinh nghiệm thiền định của các bạn, làm sâu
xa thêm trí huệ của các bạn, kéo dài mạng sống của các
bạn, và làm lớn rộng thêm nhiều công đức và sự thịnh
vượng của các bạn. Tuy nhiên phương diện năng lực thần
diệu này của Quán Thế Âm thật ra không gì khác hơn là tự
tâm của các bạn. Khi nào, qua sự chứng ngộ tánh Không, các
bạn tri giác những hiện tượng sanh tử như là sự thanh tịnh
vô biên, các bạn mở ra phần tương ứng giác ngộ của thọ
uẩn, kho tàng của những phẩm tính mãi mãi giàu có ; đây
là Bảo Sanh Phật, Ratnasambhava.
Amoghapasha,
Thòng Lọng Phong Phú, là một đồng nghĩa với viên ngọc như
ý. Giống như một thòng lọng, ngọc như ý có thể đem ngay
cả những chư thiên và con người quyền lực nhất vào dưới
sự kiểm soát của nó và đẩy tất cả chúng sanh đến giác
ngộ. Khi các bạn cảm thấy sắp rơi vào vực thẳm của những
thức tình đen tối, hãy cầu nguyện đến Quán Thế Âm ; vào
lúc cái thòng lọng của lòng bi của ngài bắt được các
bạn, các bạn sẽ tràn đầy tin tưởng vào sự toàn giác
của ngài. Bởi thế, với niềm tin và sùng mộ nhất niệm,
hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Xác
định (tưởng)
57.
Xác định, nếu con chấp nó là chắc thật, là vọng tưởng
;
Khi
con đến với tất cả chúng sanh với lòng bi, đấy là Quán
Thế Âm.
Không
có cái gì khác ngoài Bậc Cao Cả Nạo Vét Sạch những Chiều
Sâu của Sanh Tử. Trong lòng bi không thiên vị, hãy trì tụng
thần chú sáu âm.
Tâm
thức các bạn không ngừng xác định, đánh giá bất kỳ thứ
gì các bạn gặp, “Cái này có thể làm vui lòng tôi, cái
này có thể làm hại tôi.” Chính vì như một kết quả của
tiến trình này mà các bạn khao khát cái gì thích thú và sợ
hãi cái gì không thích. Sự đánh giá do tâm thức các bạn
tạo ra khởi từ cách thức tri giác mọi sự một cách quy
ngã. Nhưng giờ đây, thay vì xác định những sự vật theo
bao nhiêu sướng hay khổ chúng sẽ đem lại cho các bạn, các
bạn nên nhắm vào hạnh phúc và khổ đau của toàn thể chúng
sanh. Điều này sẽ mở ra một lòng bi bao la không chút thiên
vị nào, và các bạn sẽ nhận biết uẩn thứ ba này, tưởng
uẩn, như là phương diện của Quán Thế Âm được biết với
danh hiệu là Bậc Nạo Vét những Chiều Sâu của Sanh Tử.
Khi
các bạn nạo vét những chiều sâu của biển cả, bất kỳ
thứ gì dưới đáy đều được đưa lên trên mặt. Cũng thế,
hoạt động đại bi của Quán Thế Âm đưa lên những cõi
cao hơn tất cả những chúng sanh nào chìm đắm trong những
chiều sâu của hiện hữu, những cõi thấp của sanh tử.
Nếu
vì chỉ một chúng sanh, Quán Thế Âm phải làm việc cặm cụi
cho đến hết vòng thời gian, lòng đại bi của ngài cũng sẽ
không hề giảm sút. Bậc Nạo Vét Sạch những Chiều Sâu của
Sanh Tử luôn luôn thường trực sẵn sàng đến giúp đỡ chúng
sanh. Điều này được minh họa bởi câu chuyện sau đây.
Ngày
xưa một đoàn nhà buôn đi biển để tìm hòn đảo châu báu
trong truyền thuyết. Bị đắm tàu bởi một trận bão, họ
tìm chỗ trú ẩn trên một hòn đảo của những yêu tinh ăn
thịt người. Những yêu tinh này, để chinh phục những nhà
buôn, biến hình thành những công chúa đẹp đẽ, với sự
giả dạng này, chúng dễ dàng quyến rũ và lấy được lòng
tin của họ. Về sau, những công chúa yêu tinh này lấy tất
cả nhà buôn làm chồng ; từ đó, những nhà buôn bị giữ
dưới sự canh chừng cẩn mật và không bao giờ cho ra xa khỏi
nhà.
Tuy
nhiên một hôm, người trưởng đoàn nhà buôn đi xa hơn thường
lệ mà không để ý. Ông đến một tòa nhà đồ sộ làm bằng
sắt. Từ bên trong một tiếng nói cất lên, “Nghe đây, hỡi
các bạn ! Chúng ta cũng là những nhà buôn bị đắm tàu trên
đảo này và bị nhốt ở đây. Hãy cẩn thận ! Các bạn đã
bị lừa ; những công chúa các bạn đã cưới thật ra là
những yêu tinh, và chúng định giết và ăn thịt tất cả
các bạn.” Lúc đó, trưởng đoàn mới hiểu rằng ông và
những người của ông ta đã bị lừa gạt và là tù nhân
của những công chúa yêu tinh. “Chúng ta đang ở trong một
cái bẫy khủng khiếp, nhưng không có cách nào thoát sao ?”
Tiếng
nói bảo : “Với chúng tôi thì không, nhưng với các bạn
thì còn có một dịp may. Về phía đông của thành phố có
một cái hồ, và trên bờ hồ là một cái hang gọi là Hang
Cỏ Vàng. Mỗi đêm trăng đầu tháng và giữa tháng, Quán Thế
Âm, trong hình dáng con ngựa Valaha vương giả, hay Đám Mây
Quyền Năng, đến hang từ cõi trời thứ Ba Mươi Ba để ăn
cỏ, uống nước và cuộn mình trên cát vàng. Nó gọi những
ai muốn rời bỏ hòn đảo của yêu tinh này muốn về châu
Diêm Phù Đề hãy đến và leo lên lưng. Tôi đã nghe các công
chúa yêu tinh nói rằng người nào nắm bờm con ngựa Valaha
và không nghe theo những lời năn nỉ giả tạo của họ sẽ
thoát được an toàn về Ấn Độ.”
Ông
trưởng đoàn vội vã trở lại nói với các bạn đồng hành
điều vừa được nghe, và tất cả bọn họ kinh sợ cho hoàn
cảnh mình, hiểu rằng đây là hy vọng duy nhất để có lại
tự do, họ cầu nguyện Quán Thế Âm từ đáy lòng họ.
Như
đã nói trước, vào đêm trăng rằm con ngựa trời xuất hiện,
bình an gặm cỏ ở Hang Cỏ Vàng. Khi nó sắp bay lên, nó gọi
những nhà buôn cấp tốc cỡi lên lưng. Những công chúa yêu
tinh, thấy các tù nhân của mình sắp trốn thoát, bắt đầu
than khóc. Họ đem những đứa con đã có với những nhà buôn
và van xin họ hãy ở lại để trông nom đám con cái đáng
thương của họ, chúng cũng khóc vang. Một vài người đi buôn,
không thể cắt đứt những luyến bám của họ và cưỡng
lại được những năn nỉ của những người vợ yêu tinh,
đã rớt xuống đất ; nhưng những người khác, không nghe
những van xin đầy nước mắt này, cầu nguyện Quán Thế Âm
với niềm tin lớn lao và an toàn về châu Diêm Phù Đề.
Lòng
bi của Quán Thế Âm, thoát khỏi tưởng uẩn, đổ xuống bình
đẳng trên mọi chúng sanh. Ngài sẽ vét cạn không mệt mỏi
những chiều sâu của sanh tử cho đến khi không còn một chúng
sanh nào sót lại.
Uẩn
thứ nhất là sự nắm bắt đầu tiên của các bạn về một
đối tượng. Uẩn thứ hai là cảm giác của các bạn rằng
đối tượng ấy là thích, không thích hay trung tính với các
bạn. Uẩn thứ ba là sự đánh giá của các bạn về cường
độ của cảm giác này là mạnh, vừa hay yếu ; bấy giờ
tâm thức các bạn bám chấp vào sự đánh giá này như cái
gì thực có và vững chắc, nó tạo thành căn cứ cho hai giai
đoạn tiếp sau. Chính qua chuỗi tiến trình này, năm uẩn và
mọi khổ đau xảy ra. Tuy nhiên, bằng cách trì tụng thần
chú sáu âm với sùng tín hoàn toàn, các bạn có thể thoát
khỏi những gông cùm của sự xác định, đánh giá và như
thế giải thoát khỏi cái bẫy của sanh tử.
Thúc
đẩy (hành)
58.
Thúc đẩy, là những hoạt động sanh tử, giữ con quay vòng
trong sáu cõi ; Nếu con thấu hiểu sanh tử và niết bàn là
hoàn toàn nhất như, đó là Quán Thế Âm – Không có cái gì
khác ngoài Bậc Đại Bi Chuyển Hóa Chúng Sanh. Hành động cho
những người khác trong một vị, hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Thúc
đẩy là ám ảnh cưỡng bách phải hoạt động trên căn cứ
của những cảm giác tham muốn và ác cảm của các bạn, và
như thế tích tập nghiệp. Bởi thế, cái thúc đẩy là kiến
trúc sư của sanh tử và niết bàn. Hoàn toàn nô lệ cho thúc
đẩy, các bạn đã lang thang từ đời này sang đời khác từ
vô thủy. Nhưng nếu các bạn nhận biết rằng bản tánh của
thúc đẩy là trống không, và rằng những thúc đẩy không
cùng của các bạn thật ra là vô số khía cạnh của trí huệ,
các bạn sẽ không chịu sự thống trị của chúng nữa.
Theo
Kim Cương thừa, Quán Thế Âm thấm khắp tất cả những mạn
đà la như Đấng Quyền Năng của sự Nhảy Múa Hoa Sen. Dầu
trong yếu tính, một vị Phật hoàn toàn giác ngộ diễn xuất
những tài nguyên vô tận của lòng bi, ngài nhận lấy hình
thức của một Bồ tát để giúp đỡ chúng sanh trực tiếp
theo nhu cầu họ. Mọi sự Bồ tát làm đều để lợi lạc
cho chúng sanh ; ngài không có mục đích riêng tư nào, bất
kể hoàn cảnh gì. Mức độ cao cả này của lòng bi mang theo
với nó vô số phẩm tính giác ngộ, đặc biệt là sự chứng
ngộ rằng sanh tử và niết bàn là chỉ một vị.
Hiện
giờ, các bạn thấy khó khăn thấu hiểu những đặc tính
bao la không thể nghĩ bàn nổi như đại bi và khả năng cứu
giúp những người khác của Quán Thế Âm. Những nếu các
bạn trì tụng thần chú này với lòng sùng mộ nhất niệm,
một ngày nào các bạn cũng sẽ có thể làm lợi lạc cho chúng
sanh ở một tầm cỡ vô biên như vậy. Từ đáy lòng các bạn,
hãy mong mỏi giúp đỡ tất cả chúng sanh, và hồi hướng
tất cả công đức của bạn cho họ, với sự tin chắc rằng
Quán Thế Âm thừa nhận những nguyện vọng của các bạn
và ban cho các bạn ân sủng của ngài để đưa chúng tới
chỗ trọn vẹn.
Thức
59.
Thức, sự biểu lộ của tâm bình thường, có tám chức năng
; Nếu con thấu hiểu tâm tối hậu là Pháp thân, nó là Quán
Thế Âm – Không có cái gì khác ngoài Đại Dương Thiêng Liêng
của những Bậc Chiến Thắng. Biết rằng tự tâm con là Phật,
hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Nếu
một hạt giống trong đất nảy sinh từ một giống cây độc,
rễ và lá phát triển từ nó chắc chắn cũng phải độc,
hay ngay cả làm chết người. Cùng cách ấy, bất kỳ khi nào
năm uẩn hiện diện, khổ đau phải xảy ra từ đó. Then chốt
làm chúa trùm cả năm uẩn là thức, vì chính thức bám chấp
vào các uẩn như thực sự hiện hữu, bám chấp lạc thú như
lạc thú và khổ đau như khổ đau. Thật vậy, thức là tâm
mê lầm và những vọng tưởng của nó. Bây giờ, một khi
các bạn nhận biết rằng thức không bao giờ thực sự hiện
hữu và bởi thế, không thể tiếp tục hiện hữu cũng không
đến chỗ chấm dứt, các bạn bèn giải thoát khỏi móng vuốt
của nó. Nhưng cho đến khi nào các bạn đạt đến điểm
này, thức thường trực kéo dài hư vọng, sẽ tiếp tục phát
sinh thêm nghiệp. Bởi thế quan yếu là các bạn quy tụ mọi
nỗ lực của các bạn vào sự nhận biết tánh Không của
thức. Khi nhận biết này khởi lên rõ ràng, nó giống như
ánh sáng ban ngày phá tan bóng tối của đêm.
Bản
tánh thanh tịnh của thức là phương diện của Quán Thế Âm
được biết như là Đại Dương của những Bậc Chiến Thắng.
“Những Bậc Chiến Thắng” ám chỉ chư Phật, các ngài đạt
được sự chiến thắng của giác ngộ viên mãn, và Đại
Dương ám chỉ sự bao la của vô cùng chư Phật hợp nhất
trong Quán Thế Âm. Hãy cầu nguyện rằng sẽ có ngày các bạn
cũng thành tựu sự hoàn thiện như vậy đến độ chỉ nghe
tên các bạn, chúng sanh sẽ được tịnh hóa những nhiễm
ô của họ và giải thoát khỏi những cõi thấp.