PHẦN
HAI.
CÁI
THẤY, THIỀN ĐỊNH VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA ĐẠI THỪA
Ba
con đường
Phần
đầu, phác thảo con đường sơ bộ, Tiểu thừa, có ý định
làm nảy sanh trong chúng ta một cảm giác mệt mỏi và ghê
sợ đối với những hoàn cảnh sanh tử chúng ta đang sống
trong đó, theo một cách tổng quát và đặc biệt hơn ở trong
thời kỳ suy đồi này. Phần thứ hai tiếp tục định ra phương
thuốc cho tình thế này : cái thấy, thiền định và hành động
theo thừa lớn của những giáo lý của Phật, Đại thừa.
Những cái này được giải thích trong hai phần : thứ nhất
là con đường bậc trung, Kinh thừa, và thứ hai con đường
phi thường của những phương tiện thiện xảo, Mật thừa.
Con
Đường của những Kinh Điển
QUY
Y
Sanh
tử, như chúng ta đã thấy, là không gì cả ngoài khổ đau,
thế nên chúng ta cảm thấy quyết tâm giải thoát chúng ta
khỏi nó. Tuy nhiên, để thực sự làm thế, chúng ta cần sự
giúp đỡ. Rõ ràng, chúng ta chỉ hy vọng có sự giúp đỡ
mình cần nơi một bậc hoàn toàn giác ngộ, người ấy hoàn
toàn giải thoát khỏi sanh tử. Bởi thế giờ đây tại sao
Patrul Rinpoche kêu gọi đến vị Phật của Đại Bi, đức Quán
Thế Âm :
22.
Ôi ! Nguồn của đại bi, bổn sư của con, đức Quán Thế
Âm,
Ngài
là vị bảo hộ độc nhất của con !
Thần
chú sáu chữ, tính túy của lời ngài, là Pháp thiêng liêng
;
Từ
giờ này trở đi, con không có hy vọng nào ngoài ngài !
Quán
Thế Âm là một vị Phật hoàn toàn giác ngộ, để làm lợi
lạc chúng sanh ngài đã mang lấy hình thức của một Bồ tát.
Tất cả chư Phật chỉ có một bản tánh, và lòng của các
ngài được hiện thân trong Quán Thế Âm. Như là hiện thân
của lòng bi của tất cả chư Phật, Quán Thế Âm đồng thời
là nguồn gốc của tất cả chư Phật và chư Bồ tát, bởi
vì lòng bi là cội gốc của giác ngộ. Quán Thế Âm là bản
thân lòng bi trong hình thức một hóa thần. Quán Thế Âm là
Phật, Quán Thế Âm là Pháp, Quán Thế Âm là Tăng ; Quán Thế
Âm là Guru, Quán Thế Âm là Yidam, Quán Thế Âm là Dakini ; Quán
Thế Âm là Pháp thân, Quán Thế Âm là Báo thân, Quán Thế
Âm là Hóa thân ; Quán Thế Âm là A Di Đà, Quán Thế Âm là
Guru Rinpoche, Quán Thế Âm là Arya Tara ; và trên tất cả Quán
Thế Âm là bổn sư của chúng ta. Như một trăm dòng chảy
qua dưới chỉ một cái cầu, Quán Thế Âm là sự hợp nhất
của tất cả chư Phật. Nhận những ban phước của ngài là
nhận những ban phước của tất cả chư Phật, và chứng ngộ
bản tánh của ngài là chứng ngộ bản tánh của tất cả
chư Phật.
Quán
Thế Âm đã xuất hiện trong thời đại đen tối này trong
con người của Guru Rinpoche (Padmasambhava), mà trí huệ, đại
bi và thần lực thì nhanh lẹ hơn của vị Phật nào khác,
vì chính riêng biệt để làm lợi lạc cho chúng sanh của thời
đại này mà ngài phát những lời cầu nguyện của mình. Quán
Thế Âm biểu lộ thành vô số hình thức : những vua chúa,
vị thầy tâm linh, đàn ông và đàn bà bình thường, thú rừng,
ngay cả núi, cây, cầu – bất cứ cái gì cần thiết để
đáp ứng những nhu cầu của chúng sanh. Ngay cả một ngọn
gió mát lạnh trong khí hậu nóng cháy hay một phút giây êm
dịu nhẹ nhỏm trong một cơn bệnh đau đớn cũng là những
biểu lộ của lòng bi Quán Thế Âm.
Tương
tự, thần chú sáu chữ của Quán Thế Âm, OMÏ MANÏI PADME HŪMÏ,
là trí huệ bi mẫn của tất cả chư Phật biểu lộ thành
âm thanh. Nó chứa đựng trong mình yếu nghĩa của tất cả
tám mươi bốn ngàn phần của những giáo lý của Phật. Trong
tất cả nhiều thần chú của nhiều loại khác nhau, như là
những minh chú, dharani, và mật chú,(36) không có cái nào cao
hơn sáu chữ của Quán Thế Âm. Những lợi lạc lớn lao của
việc trì tụng thần chú này, thường được biết như là
manÏi, được diễn tả trở đi trở lại trong tất cả những
sutra (kinh) và tantra. Có nói rằng trì tụng chú manÏi chỉ
một lần thì cũng đồng như trì tụng toàn bộ mười hai
ngành giáo lý của Phật.(37) Trì tụng sáu chữ của manÏi
hoàn thiện sáu ba la mật và đóng chặt mọi khả năng tái
sanh trong sáu cõi của sanh tử luân hồi. Đây là một thực
hành đơn giản, dễ hiểu và dễ thực hành cho tất cả, và
đồng thời nó chứa đựng tinh túy của Pháp. Nếu các bạn
lấy manÏi như là chỗ quy y của các bạn cả trong hạnh phúc
lẫn trong buồn đau, Quán Thế Âm sẽ luôn luôn ở với các
bạn, các bạn sẽ cảm thấy càng lúc càng nhiều hơn lòng
sùng mộ mà không phải có cố gắng nào, và tất cả sự
chứng ngộ của con đường Đại thừa sẽ tự nó khởi lên
trong trong con người các bạn.
Theo
Kinh Karandavyuha, Kinh Đại thừa Trang Nghiêm Bảo Vương,(38)
nếu các bạn trì tụng một trăm triệu manÏi, tất cả vô
số cơ thể sống ở trong thân thể của các bạn sẽ được
ban phước bởi Quán Thế Âm, và khi các bạn chết, ngay cả
khói từ sự thiêu xác các bạn sẽ có năng lực che chở cho
bất cứ ai hít vào khỏi tái sanh trong những cõi thấp.
Ngay
cả chỉ một chữ của bản thân thần chú – OMÏ, MA hay NÏI
– mang năng lực không thể nghĩ bàn để ban phước và giải
thoát cho chúng sanh. Có nói rằng một vị Phật có khả năng
với những kỳ công phi thường vượt mọi chúng sanh khác,
như xác định chính xác bao nhiêu giọt mưa rơi xuống trong
một trận mưa kéo dài mười hai năm, nhưng ngay cả ngài cũng
không thể diễn tả đầy đủ công đức sanh ra bởi chỉ
một lần trì tụng manÏi. Để bắt đầu cho một diễn tả
như thế, ngay nếu tất cả rừng cây trên trái đất được
biến thành giấy, cũng không bao giờ đủ để viết ra một
phần nhỏ nhất.
Không
có cái gì trên toàn thể thế giới có thể làm cho Thần Chết
sợ hãi tránh xa, vậy mà ánh sáng chói lọi ấm áp của lòng
bi của Quán Thế Âm có thể hoàn toàn xua tan cảm giác khiếp
sợ của người nào khi Thần Chết đến gần. Đây là điều
có nghĩa là “chỗ nương dựa không lầm lẫn.” Hoàn toàn
tự do với sanh tử, Quán Thế Âm luôn luôn sẵn sàng cứu
giúp chúng sanh, và ngay cử động nhỏ nhất của ngài – một
cử chỉ của bàn tay, một chớp mắt của ngài – có năng
lực giải thoát chúng ta ra khỏi sanh tử. Khi chúng ta cầu
khẩn ngài bằng cách trì tụng manÏi, chúng ta không bao giờ
nên nghĩ rằng ngài quá xa để nghe chúng ta, trong một cõi
Phật nào xa xôi ; Quán Thế Âm luôn luôn ở đó với bất
cứ người nào tin vào ngài. Những che chướng của chúng ta
ngăn cản chúng ta không thực sự đến được Núi Potala trong
cõi Cực Lạc Thanh Tịnh Sukhavati để gặp ngài mặt đối
mặt, nhưng thật ra lòng đại bi của ngài không bao giờ bỏ
rơi một chúng sanh nào. Ngài tự biểu lộ thường trực trong
bất cứ hình thức nào lợi lạc cho chúng sanh nhất, đặc
biệt trong hình thức của những vị thầy tâm linh vĩ đại
; thế nên chúng ta cần hiểu với sự tin tưởng hoàn toàn
rằng Quán Thế Âm, bậc bảo hộ tối thượng chỉ cho tất
cả chúng sanh con đường đến giải thoát, thật ra không ai
khác hơn là bổn sư của chúng ta.
Cơn
mưa của lòng bi Quán Thế Âm rơi khắp nơi trên những cánh
đồng của chúng sanh một cách bình đẳng ; nhưng vụ mùa
của hạnh phúc không thể lớn lên nơi nào những hạt giống
của niềm tin đã bị khô héo. Thiếu niềm tin là tự đóng
kín với mặt trời rực rỡ của sự ban phước của ngài,
như thể đóng cửa giam mình trong một phòng tối. Nhưng nếu
các bạn có niềm tin, thì không có khoảng cách, không có chậm
trễ, giữa các bạn và sự ban phước của Quán Thế Âm.
Những
lời dạy của đức Phật thì rộng lớn và sâu xa không thể
nghĩ bàn. Đạt được một thấu hiểu hoàn toàn trí thức
về những lời dạy ấy quả thật là một thành tựu đáng
kể và hiếm hoi. Nhưng ngay bản thân điều đó cũng chưa đủ.
Trừ phi chúng ta cũng thành tựu nội chứng nhờ thực sự
áp dụng những lời dạy và hòa lẫn chúng với tâm thức
chúng ta, còn không thì bất cứ hiểu biết nào chúng ta có
được đều vẫn là lý thuyết và sẽ chỉ dùng để tăng
thêm sự tự say mê mình.
Chúng
ta đã đọc một số sách và nghe một số lời dạy, nhưng
nó không lợi lạc bao nhiêu trong việc thực sự chuyển hóa
con người chúng ta. Để đơn thuốc của bác sĩ bên cạnh
giường sẽ không chữa lành bệnh. Thế nên hãy xoay tâm thức
các bạn vào trong và suy ngẫm sâu xa ý nghĩa của Pháp cho
đến khi nó thấm nhuần toàn thể thân tâm bạn.
Đấy
là điều Patrul Rinpoche nói :
23.
Bất cứ cái gì con biết con đã để cho nó vẫn là lý thuyết
; nó không dùng gì được cho con bây giờ. Bất cứ cái gì
con đã làm con đã tiêu pha cho cuộc đời này ; nó không dùng
gì được cho con bây giờ. Bất cứ cái gì con đã nghĩ chỉ
toàn là vọng tưởng ; nó không dùng gì được cho con bây
giờ. Giờ đây là lúc để làm cái gì thực sự có ích –
hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Như
những ngọn sóng, mọi hoạt động của cuộc đời này trôi
qua không ngừng nghỉ, cái này tiếp cái kia, tuy nhiên đã để
lại cho chúng ta tay trắng. Vô số tư tưởng đã đi qua tâm
thức chúng ta, mỗi cái sanh ra thêm nhiều cái khác, nhưng tất
cả điều mà chúng ta đã làm chỉ là tăng thêm sự rối ren
lầm lạc và bất toại nguyện của chúng ta. Thiền định
về tinh túy của những lời dạy và trì tụng manÏi thì không
tốt hơn sao ?
Như
chúng ta bây giờ, sa lầy trong một bãi lầy của những khuynh
hướng thói quen và bị giam nhốt trong những trói buộc của
xúc tình mạnh mẽ, chúng ta không tự do đủ cũng không mạnh
mẽ đủ để có thể giải thoát cho chúng sanh khỏi sanh tử.
Chúng ta phải trông chờ sự giúp đỡ – không phải bất
kỳ loại giúp đỡ nào, mà là sự giúp đỡ chắc chắn của
Quán Thế Âm.
24.
Sự quy y độc nhất không bao giờ hư mất, thường trụ là
Tam Bảo ;
Tinh
túy độc nhất của Tam Bảo là Quán Thế Âm.
Với
đức tin toàn vẹn, không thể lay chuyển, vào trí huệ của
ngài.
Vững
tin và quả quyết, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Tìm
kiếm sự nương dựa vào các vị trời như Phạm Thiên hay
Đế Thích, bởi vì chính họ cũng còn bị giam nhốt trong mạng
lưới của sanh tử, không thể là sự giúp đỡ thật sự.
Tìm kiếm sự nương dựa vào người có quyền lực và ảnh
hưởng của thế giới này, hay vào bạn bè thân thuộc, sẽ
chỉ đem lại sự che chở giới hạn hơn. Không có núi non,
ngôi sao hay những hiện tượng thiên nhiên nào khác cung cấp
cho sự an toàn chân thật. Không có cái nào trong chúng là nguồn
gốc tối hậu của sự quy y. Nếu các bạn đang ở trong tù
ngục và muốn thoát ra, các bạn phải tìm kiếm sự giúp đỡ
từ người nào có quyền năng giải cứu các bạn, chứ không
từ một tù nhân khác.
Để
có thể giải thoát chúng ta khỏi xoáy nước của sanh tử,
nền tảng của sự quy y chúng ta tìm kiếm phải là cái gì
tự nó đã hoàn toàn tự do. Chỉ có một nguồn gốc quy y
thoát khỏi mọi giới hạn của sanh tử, đầy đủ mọi phẩm
tính và thành tựu tối hậu, và có lòng bi vô hạn có thể
đáp ứng phổ khắp cho những nhu cầu của chúng sanh và dẫn
dắt họ suốt con đường đến giác ngộ : Tam Bảo.
Tam
Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Phật là vị thầy, bậc hiển
bày bốn thân và năm trí.(39) Pháp là con đường, những lời
dạy được trao truyền và được chứng ngộ. Tăng là những
người đồng hành trên con đường, họ hiểu ý nghĩa của
những lời dạy và kết quả là được giải thoát.
Qua
niềm tin và sự sùng mộ Tam Bảo, chúng ta sẽ đến chỗ thấu
hiểu rằng đấy không phải là ba thực thể riêng biệt, mà
là thân, ngữ và tâm của Quán Thế Âm, đức Phật của Đại
Bi. Tâm ngài là Phật, ngữ ngài là Pháp và thân ngài là Tăng.
Dù bây giờ chúng ta chưa thể gặp Quán Thế Âm bằng con người
thật của ngài, chúng ta cần thức giác về những phẩm tính
vô biên của ngài như diễn tả trong kinh và tantra. Chúng ta
cũng cần nhớ rằng Quán Thế Âm thì không tách lìa với thầy
của chúng ta, người chỉ dạy cho chúng ta Pháp quý báu. Cảm
nhận sâu xa lòng từ ái vĩ đại này, cầu nguyện đến ngài
và trì tụng thần chú sáu chữ, không nghi ngờ gì mọi ngăn
chướng nghiệp quả và phiền não tiêu cực của chúng ta sẽ
được tẩy sạch. Thời gian sẽ có lúc chúng ta sẽ thực
sự đến với sự hiện diện của Quán Thế Âm trong cõi Phật
của ngài, ở đó ngài chuyển bánh xe Pháp Đại thừa cho đoàn
tùy tùng Bồ tát của ngài.
Quy
y là cửa vào Pháp. Nó là chung cho cả ba thừa và là nền
tảng trên đó mọi thực hành nương dựa vào. Tuy nhiên, thái
độ đối với sanh tử khiến cho người ta quy y thì không
luôn luôn giống nhau. Sợ hãi khổ đau trong sanh tử và bởi
thế quy y vì chính mình là một động cơ kém. Động cơ tốt
nhất là ước muốn giải thoát tất cả chúng sanh hoàn toàn
thoát khỏi khổ đau của sanh tử và an lập họ trong trạng
thái của giác ngộ. Quy y với tư tưởng ấy là thái độ
của Đại thừa.
Nếu
sự quy y là đích thực và chân chánh, niềm tin không lay chuyển
cần được khai triển. Niềm tin là một yếu tố sống còn
trong con đường, mở cho chúng ta với những ban phước của
Phật. Mong muốn đạt được chứng ngộ mà không có đức
tin thì giống như ngồi trong một hang động hướng bắc mà
chờ đợi ánh sáng mặt trời rọi vào.
Có
bốn giai đoạn trong sự phát triển của niềm tin : niềm tin
trong sáng, niềm tin mong mỏi, niềm tin xác tín, và niềm tin
không thể đảo ngược. Khi các bạn ban đầu hiểu những
phẩm tính kỳ diệu và phi thường làm sao của Phật, Quán
Thế Âm và của thầy các bạn, tâm thức các bạn trở nên
rất trong sáng và hoan hỷ. Đây là niềm tin trong sáng. Khi
niềm tin trong sáng gợi cho các bạn muốn sở đắc những
phẩm tính hoàn hảo của Quán Thế Âm cho chính các bạn, và
các bạn nghĩ rằng vô số chúng sanh có thể được các bạn
giúp đỡ nếu các bạn có những phẩm tính đó, nó trở thành
niềm tin mong mỏi. Khi các bạn biết với sự chắc chắn hoàn
toàn rằng những phẩm tính của Quán Thế Âm là thực như
chúng được diễn tả bởi chính đức Phật, nó trở thành
niềm tin xác tín. Cuối cùng, khi niềm tin đã trở thành một
phần của bản thân các bạn, đến nỗi với cái giá của
đời mình, không có cách nào cho bạn có thể từ chối nó,
bấy giờ đó là niềm tin không thể đảo ngược. Khi niềm
tin của các bạn đến điểm này, bất cứ hoàn cảnh nào
gặp phải các bạn cũng sẽ hoàn toàn tin tưởng, nghĩ rằng,
“Quán Âm, ngài biết mọi chuyện ; dầu cái gì xảy ra, con
hoàn toàn nương dựa vào trí huệ và lòng bi của ngài.”
Từ lúc đó trở đi những ban ơn và sự hướng dẫn của
Quán Thế Âm sẽ luôn luôn ở với các bạn, và sẽ không
nghi ngờ gì ngay cả âm thanh của danh hiệu ngài sẽ có năng
lực giải thoát các bạn khỏi những cõi thấp. Đây là niềm
tin không thể đảo ngược cần thiết cho sự quy y thực sự
đích thực.
Có
câu nói : “Đức tin là bánh xe quý báu quay tròn ngày đêm
suốt con đường giải thoát.” Niềm tin là cái tối cao của
bảy phẩm tính cao cả. Những tia sáng mặt trời chiếu xuống
khắp nơi một cách đồng nhất, nhưng chỉ ở nơi nào chúng
được tập trung qua một cái gương tráng lệ chúng có thể
làm cho cỏ khô bốc cháy. Cùng cách ấy, lòng bi của Quán
Thế Âm soi chiếu bình đẳng cho tất cả chúng sanh, nhưng
chỉ trong những người nào có cái gương tráng lệ của niềm
tin mà ngọn lửa của sự ban phước của ngài được thắp
cháy.
Sẽ
thiển cận nếu chỉ quy y cho chỉ đời này, hay chỉ đến
khi các bạn chữa khỏi mọi bất hạnh hiện giờ. Sự cam
kết quy y của các bạn nên kéo dài đến khi tất cả chúng
sanh đều đã đạt được giác ngộ. Khi các bạn có thể
dâng hiến thân, ngữ và tâm thức mình cho Quán Thế Âm với
niềm tin đích thực, nương dựa hoàn toàn vào ngài, trong bất
cứ hoàn cảnh tốt hay xấu nào, bấy giờ các bạn đang quy
y trong nghĩa đầy đủ nhất – sự quy y đích thật của Đại
thừa.
Quy
y vào Quán Thế Âm có thể theo những viễn cảnh bên ngoài,
bên trong và bí mật. Về phương diện bên ngoài, Quán Thế
Âm là Tam Bảo – Phật, Pháp và Tăng. Từ một viễn cảnh
bên trong, ngài là Ba Gốc – Guru, Yidam và Dakini. Và từ quan
điểm bí mật ngài là ba thân – Pháp thân, Báo thân và Hóa
thân. Bởi thế, quy y hoàn toàn không chỉ có nghĩa là một
sơ khởi hay một thực hành của người sơ học ; thật vậy,
nó gồm toàn bộ con đường trong tất cả sự sâu xa của
nó, đến tới giác ngộ. Tuy nhiên, dầu nhiều mức độ quy
y có thể được phân biệt, chúng ta có thể đáp ứng tất
cả chúng chỉ bằng đơn giản trì tụng thần chú sáu chữ
với lòng tin và xác tín rằng vị thầy của chúng ta, không
tách biệt với Quán Thế Âm, là tinh túy độc nhất của Tam
Bảo trong mọi phương diện của chúng.
Đức
Atisha, mà trí huệ và chứng ngộ không ai sánh của ngài đã
khiến cho ngài được tôn xưng khắp miền bắc và miền đông
Ấn Độ như là vị “Phật Thứ Hai”, đã qua Tây Tạng,
nơi đây ngài dạy sự lợi lạc của quy y rất nhiều lần
đến nỗi mọi người bắt đầu gọi ngài là “Pandita Quy
Y”. Khi nghe đây là danh hiệu các học trò gán cho mình, ngài
kêu lên, “Được cho danh hiệu này là một vinh dự, thật
vậy, bởi vì có gì tuyệt hảo hơn sự quy y Phật ?”
TƯ
TƯỞNG GIÁC NGỘ
Đã
thấu hiểu sự quan trọng của niềm tin và của quy y, bây
giờ chúng ta đi đến tinh túy của Đại thừa, tư tưởng
giác ngộ.
25.
Nền tảng của con đường Đại thừa là tư tưởng giác ngộ
; Tư tưởng cao cả này là con đường duy nhất tất cả chư
Phật đều dẫm bước. Không bao giờ bỏ con đường cao cả
của tư tưởng giác ngộ, Với lòng bi cho tất cả chúng sanh,
hãy trì tụng thần chú sáu âm.
“Tư
tưởng giác ngộ”, Bồ đề tâm (bodhicitta), là mong muốn
đạt đến giác ngộ vì lợi lạc của tất cả chúng sanh.
Bồ đề tâm có hai phương diện, tương đối và tuyệt đối.
Bồ đề tâm tuyệt đối là sự nhận biết Phật tánh hiện
diện vốn sẵn có trong mỗi chúng sanh và chỉ có thể thấu
hiểu bởi những ai chứng ngộ tánh Không của tất cả hiện
tượng ; bởi vì không dễ dàng thấu hiểu nó một cách trọn
vẹn, chúng ta thường bắt đầu với sự thực hành Bồ đề
tâm tương đối, nó ít khó khăn hơn.
Bồ
đề tâm tương đối cũng được chia làm hai : nguyện vọng
và áp dụng. Cái thứ nhất là ước muốn đạt được giác
ngộ vì tất cả chúng sanh, và cái thứ hai đưa ước muốn
này vào hành động qua sự thực hành sáu ba la mật. Nói cách
khác, Bồ đề tâm nguyện vọng là cái nhận ra mục đích,
và Bồ đề tâm áp dụng là phương tiện nhờ nó mà mục
đích được đạt đến. Điểm then chốt của Đại thừa
là cả hai nguyện vọng và áp dụng đều được hướng không
phải đến chính mình mà đến tất cả chúng sanh, dù sanh
tử còn có thể tồn tại bao nhiêu.
Làm
thế nào người ta bắt đầu phát sanh Bồ đề tâm nguyện
vọng, cảm giác của lòng bi cho tất cả chúng sanh khơi dậy
trong chúng ta ước muốn đạt được giác ngộ vì họ ? Trước
tiên, hãy lấy Quán Thế Âm như là một người làm chứng
cho quyết định của các bạn đạt đến chứng ngộ để
làm lợi lạc cho những người khác. Tiếp theo, nỗ lực đánh
bại thái độ chỉ muốn giúp đỡ những người thân thiết
với các bạn trong khi từ chối những nhu cầu của những
người mà các bạn không thích. Điều này trở nên có thể
khi các bạn thấu hiểu rằng, trong tất cả vô số những
đời trước của mình, mỗi chúng sanh không ngoại trừ ai,
phải đã từng là mẹ hoặc cha của các bạn ít nhất một
lần. Mỗi một chúng sanh này, xuống tới con côn trùng nhỏ
nhất, đều chỉ muốn được hạnh phúc và không đau khổ
; nhưng không có ai trong số họ biết rằng khổ là do các
hành động xấu gây ra và hạnh phúc là do một tâm đức hạnh
phát sanh. Khi các bạn nghĩ về tất cả những chúng sanh này
họ đang chìm đắm một cách vô vọng trong khổ đau như những
người mù lạc trong một sa mạc bao la, các bạn không thể
cứu giúp nhưng cảm thấy một lòng đại bi cho tất cả họ.
Để
triển khai lòng bi này hơn nữa, hãy tưởng tượng chính các
bạn đang ở trong những cõi địa ngục ; thình lình trước
mắt các bạn, cha mẹ các bạn bị các tay sai của Thần Chết
Yama(40) kéo lê trên đất, chúng đánh đập họ dã man, đâm
chém họ với vũ khí sắc bén, bỏ họ vào vạc đồng cháy
bỏng, và ép họ dưới những tấm sắt nóng đỏ. Trông thấy
sự hấp hối khủng khiếp của họ, chẳng lẽ các bạn không
cảm thấy thương xót ngập tràn và sự khẩn thiết không
thể kiềm chế lao đến tức thời để cứu họ ? Khi cảm
giác mạnh mẽ này của lòng bi khởi lên rõ ràng, hãy suy nghĩ
một chút. Cha mẹ còn sống của các bạn chỉ là hai người
trong số vô cùng những chúng sanh. Tại sao con số vô cùng
những chúng sanh khác cũng không đáng để bạn bi mẫn ư ?
Thấu hiểu điều này quả thật là không hợp lý, hãy dần
dần cố gắng mở rộng lòng bi của các bạn, trước tiên
với những bạn bè quyến thuộc thân thiết nhất, rồi đến
những ai bạn biết, đến toàn thể một đất nước, toàn
thể trái đất và cuối cùng đến vô cùng chúng sanh trong
ba cõi của sanh tử luân hồi. Chỉ khi lòng bi của các bạn
thực sự đạt đến tầm mức bao la này nó mới có thể được
gọi là lòng bi chân thật.
Tất
cả chúng sanh đều như nhau trong ước mong được hạnh phúc
và không khổ đau. Sự khác biệt lớn lao giữa chính mình
và những người khác là trong con số – tôi thì chỉ một,
những người khác thì vô số. Thế nên, hạnh phúc và khổ
đau của tôi hoàn toàn vô nghĩa khi so sánh với hạnh phúc
và khổ đau của vô số chúng sanh khác. Điều thực sự quan
trọng là những chúng sanh khác hạnh phúc hay khổ đau. Đây
là nền tảng của Bồ đề tâm. Chúng ta cần phải mong muốn
những người khác được hạnh phúc hơn chính chúng ta, và
chúng ta đặc biệt cần phải mong muốn hạnh phúc cho những
người mà chúng ta xem như những kẻ thù và những người
đối xử xấu với chúng ta. Nếu không thế, lòng bi có ích
gì ?
Cảm
thấy lòng bi với tất cả chúng sanh là điểm khởi đầu.
Bấy giờ các bạn có thể chuyển dịch những mong muốn và
nguyện vọng của các bạn thành hành động. Nhưng, như đức
Atisha nói, “Chính ý định mới đáng kể.” Nếu tâm thức
các bạn luôn luôn đầy ngập với ý định làm lợi lạc
cho những người khác, bấy giờ, bất kể những hành động
của các bạn ở bề ngoài có như thế nào, sự áp dụng Bồ
đề tâm tự lo cho chính nó. Nếu các bạn có thể duy trì
thái độ này của Bồ đề tâm, các bạn sẽ không chỉ không
bao giờ lạc khỏi con đường, mà còn sẽ tiến bộ chắc
chắn trên con đường đó. Khi thân, ngữ và tâm thức các
bạn hoàn toàn thấm đẫm bởi mong muốn giúp đỡ tất cả
chúng sanh, khi mục tiêu của các bạn là Phật tánh viên mãn
cho những người khác và cho cả chính các bạn, bấy giờ
ngay cả hành động nhỏ nhất, chỉ một trì tụng manÏi hay
chỉ một lễ lạy, sẽ nhanh chóng và chắc chắn đem lại
sự hoàn thành mục đích của các bạn.
Sáu
chữ manÏi, tinh túy của bản thân Quán Thế Âm, là sáu ba
la mật trong hình thức thần chú. Khi các bạn trì tụng thần
chú, sáu ba la mật tự nhiên khởi hiện và Bồ đề tâm áp
dụng được hoàn thành.
Có
nói rằng khi những ai đau buồn trong ngục tù của sanh tử
phát sanh tư tưởng giác ngộ, họ đều tức khắc được
chư Phật nhận làm con trai và con gái của các ngài, và họ
được tán thán bởi cả người và trời. Toàn thể cuộc
đời họ có một ý nghĩa mới. Tất cả điều này đều nhờ
năng lực vô lường của Bồ đề tâm như ngọc báu. Bồ đề
tâm là tinh túy của tám vạn bốn ngàn phần của Phật pháp,
nhưng đồng thời nó quá đơn giản, quá dễ hiểu và dễ
thực hành, ngay với người sơ học.
Bồ
đề tâm tối hậu là tính chất bất khả phân của tánh Không
và đại bi không phải tạo tác. Đó là tính đơn giản của
trạng thái bổn nhiên, vượt khỏi mọi ý niệm và mọi giới
hạn của tư tưởng và tri thức, từ nó lòng bi tự nhiên,
không có đối tượng hưng khởi, làm lợi lạc cho tất cả
chúng sanh.
Khi
các bạn tiến bộ trong sự thực hành của các bạn, hai phương
diện của Bồ đề tâm củng cố cho nhau. Bắt được dù chỉ
một thoáng thấy bản tánh tuyệt đối của tâm sẽ cho các
bạn viễn cảnh thích đáng để thực hành Bồ đề tâm tương
đối, và ngược lại, sự thực hành Bồ đề tâm tương đối
mở rộng sự chứng ngộ của bạn về Bồ đề tâm tuyệt
đối.
TỊNH
HÓA
Đã
khai triển thái độ đúng của Bồ đề tâm, bây giờ chúng
ta cần trừ sạch bất cứ thứ gì ngăn chận sự tiến bộ
của chúng ta trên con đường đến giác ngộ.
26.
Lạc lõng trong sanh tử từ thời vô thủy đến nay,
Bất
cứ điều gì con đã làm đều sai lầm và sẽ dẫn đến thêm
sự lạc lõng.
Từ
lòng con, hãy thừa nhận mọi tà hạnh và sa đọa, và sám
hối chúng,
Với
bốn năng lực làm cho trọn vẹn, hãy trì tụng thần chú sáu
âm.
Trong
những đời quá khứ, và trong đời này cho tới bây giờ,
chúng ta đã đem đến sự thiệt hại cho những người khác
vô số lần bằng cách nói dối họ, lừa gạt họ, ăn trộm
của họ, phá hoại họ, tấn công họ, giết họ và mọi thứ
việc làm sai lầm khác. Cái xấu được tích tập này là cái
đã giam giữ chúng ta trong sanh tử, và bây giờ nó chính là
cản trở chính cho sự tiến bộ của chúng ta trên con đường.
Nó nuôi dưỡng hai loại che chướng ngăn cách giữa chúng ta
và kinh nghiệm về Phật tánh : sự che chướng bởi phiền
não và sự che chướng của cái có thể được biết.
Tuy
nhiên, tình thế của chúng ta không hoàn toàn tuyệt vọng.
Như những đạo sư Kadampa thường nói, “Điều tốt độc
nhất về tà hạnh là nó có thể được tịnh hóa.” Những
hành động xấu là những hiện tượng duyên hợp, thế nên
chúng phải vô thường ; do đó, như đức Phật nói, không
có lỗi lầm nào trầm trọng đến nỗi nó không thể được
tịnh hóa bởi bốn năng lực.
Bốn
năng lực này là những phương tiện qua chúng sự tịnh hóa
mọi tà hạnh có thể được thực hiện. Năng lực thứ nhất
là năng lực của nương tựa. Nương tựa ở đây ám chỉ
con người hay là hóa thần bổn tôn mà chúng ta chấp nhận
và sám hối những lỗi lầm của chúng ta, và như thế, là
chỗ nương tựa cho sự tịnh hóa của chúng ta. Trong trường
hợp này, chỗ nương tựa là Quán Thế Âm, sự biểu lộ của
trí huệ của tất cả chư Phật và chư Bồ tát. Trong những
thực hành khác, chỗ nương tựa có thể là Vajrasattva chẳng
hạn, hay Ba Mươi Lăm Phật của sự Sám Hối, hay Phật Vairochana,
mà chỉ âm thanh của danh hiệu cũng đủ giải thoát cho tất
cả chúng sanh khỏi những cõi thấp ; nhưng trong nhiều bổn
tôn đầy đủ khả năng này, tất cả đều là những biểu
lộ của Quán Thế Âm, chỗ nương tựa tinh túy cho sự tịnh
hóa.
Năng
lực thứ hai là sức mạnh của hối tiếc. Hối tiếc khởi
lên tự nhiên khi chúng ta thấu hiểu rằng tất cả khổ đau
chúng ta đã trải nghiệm cho đến giờ trong mọi tái sanh vô
số của chúng ta trong sanh tử đều do tà hạnh của chúng
ta gây ra – năm tội lỗi với hậu quả trực tiếp, mười
hành động bất thiện, và những vi phạm trong những lời
thệ nguyện của ba thừa.(41) Tất cả chúng ta đã có quá
nhiều kiếp sống không thể tính đếm hết, và nếu các bạn
gom chúng lại cùng một chỗ tất cả thân thể các bạn đã
từng có, ngay chỉ những thân thể của tất cả kiếp tái
sanh làm một côn trùng cũng tạo thành một đống cao hơn Núi
Tu Di. Nếu các bạn tập họp tất cả những nước mắt đau
buồn các bạn đã đổ ra trong những đời quá khứ, chúng
có thể tạo thành một đại dương lớn hơn bất cứ đại
dương nào trong vũ trụ. Nhiều ví dụ như thế có thể được
tìm thấy trong Pháp Cao Cả của sự Nhớ Lại Rõ Ràng.(42)
Tất cả khổ đau của những tái sanh không dứt này hoàn toàn
là kết quả của những hành động tai hại của các bạn,
như nói dối hay giết chóc. Chừng nào các bạn còn chưa biết
về những hậu quả do các hành động của mình đem lại,
các bạn chỉ tiếp tục cư xử như một người điên ; nhưng
khi các bạn thấy rõ ràng tất cả các tà hạnh trong quá khứ
của các bạn là cái bắt các bạn phải lang thang trong khổ
đau không dứt của vòng sanh tử như thế nào, các bạn bắt
buộc phải xúc động bởi hối hận sâu xa về những hành
động xấu đã phạm phải, hoàn toàn mất đi sự thôi thúc
lập lại chúng. Với sự hối tiếc mạnh mẽ, thành thật,
các bạn nên sám hối tất cả những lỗi lầm của các bạn,
không chút do dự miễn cưỡng.
Nhưng
hối hận tự nó chưa đủ ; những hành động xấu của quá
khứ còn phải được làm cho sạch. Điều này được làm
với năng lực thứ ba, năng lực của cái đối trị. Tất
cả những hành động xấu đã phạm với thân, ngữ và tâm
thức phải được chống lại bằng những đối trị của
chúng : những hành động tốt của thân, ngữ và tâm thức.
Để đem điều này vào thực hành, với thân các bạn làm
những lễ lạy, tôn vinh những nơi chốn thiêng liêng bằng
cách đi nhiễu quanh, và phụng sự người khác và những giáo
lý ; với ngữ các bạn trì tụng manÏi ; và với tâm thức
các bạn, nghĩ nếu không có ánh sáng chói lọi của lòng bi
của ngài các bạn sẽ chìm càng lúc càng sâu vào sanh tử
như thế nào, hãy cầu nguyện chuyên chú với sự sùng mộ
vĩ đại đến Quán Thế Âm để xua tan mọi che chướng và
tiêu cực của các bạn. Để trả lời cho sự cầu nguyện
nhiệt thành của các bạn, hãy quán tưởng nước cam lồ trí
huệ đổ xuống từ thân thể Quán Thế Âm rót vào các bạn
và tất cả chúng sanh qua đỉnh đầu. Nó tràn đầy thân thể
bạn và thân thể của họ, và hoàn toàn tẩy sạch mọi che
chướng, tà hạnh và xấu xa, đến cuối cùng không còn dấu
vết nào sót lại ; thân thể của các bạn đã trở thành
thanh tịnh và trong suốt như pha lê. Quán Thế Âm mỉm cười
rạng rỡ và nói, “Con cao quý, mọi lỗi lầm của con đã
sạch.” Hòa trong ánh sáng, ngài tan vào trong các bạn. Cảm
thấy rằng tâm của Quán Thế Âm và tâm các bạn đã trở
thành một, an trụ một lúc trong một trạng thái của cái
Không sáng rỡ, vượt ngoài mọi ý niệm.
Năng
lực thứ tư là sức mạnh của quyết định, sự quyết tâm
không bao giờ lập lại những hành động ác hại ấy nữa,
dù bằng cái giá của đời bạn. Cho đến bây giờ có thể
các bạn mù lòa với sự kiện tà hạnh là cái tạo nên khổ
đau, nhưng từ giờ trở đi các bạn phải không có lý do gì
mà không sửa đổi những cách thức sai lầm ấy. Cũng không
đúng khi nghĩ rằng bởi vì những hành động xấu có thể
được tịnh hóa một cách dễ dàng, chúng chẳng quan trọng
lắm ; các bạn phải làm một quyết định quả quyết, từ
cốt lõi sâu xa của con người các bạn, rằng bất cứ cái
gì có xảy ra bạn cũng sẽ không bao giờ làm hành động nào
trái ngược với Pháp. Điều này sẽ đòi hỏi chánh niệm
và tinh tấn thường trực. Năng lực thứ tư cũng bao gồm
quyết định phải trong sạch trong thân, ngữ và tâm thức,
như Quán Thế Âm. Khi trì tụng thần chú sáu chữ, cái xấu
xa tiêu cực và những che chướng của các bạn sẽ tan biến,
và mọi phẩm tính vốn có sẵn trong trạng thái giác ngộ
sẽ bắt đầu chiếu rọi, như mặt trời ra khỏi những đám
mây.
CÚNG
DƯỜNG
27.
Tâm thức, chấp vào một cái “Tôi”, bám níu vào mọi thứ
– đây là nguyên nhân của sanh tử. Thế nên, như những cúng
dường cho cái cao cả trong niết bàn và từ thiện cho cái
thấp kém trong sanh tử, Hãy cho đi mọi thứ – thân thể,
tài sản và đức hạnh – và hồi hướng công đức cho tất
cả ; Buông bỏ mọi thứ bám níu, hãy trì tụng thần chú
sáu âm.
Qua
tịnh hóa, các bạn đã làm sạch những trở ngại trên con
đường đến giác ngộ, nhưng để tu hành theo con đường
này, bây giờ các bạn cũng cần gom góp những lương thực
cần thiết để nuôi sống các bạn trên lộ trình. Sự gom
góp lương thực này là sự tích tập công đức và trí huệ.
Sự tích tập công đức, được hoàn thành qua những hành
động đức hạnh và cúng dường, sẽ dẫn đến sự đạt
được Sắc thân, thân của hình tướng ; sự tích tập trí
huệ, được hoàn thành bởi thực hiện những hành động
đức hạnh này với một tâm thức thoát khỏi bám chấp, sẽ
dẫn đến sự đạt được Pháp thân, thân tuyệt đối. Hai
sự tích tập này cần được thành tựu với tư tưởng làm
lợi lạc cho những người khác.
Cốt
yếu quan trọng là hiểu được rằng chấp thủ vào ý niệm
có một cái “tôi”, một bản ngã thực sự hiện hữu, là
nguyên nhân căn bản của sự lang thang trong ba cõi sanh tử
của chúng ta. Một khi niềm tin sai lầm vào một cái ta này
đã mọc rễ, chúng ta bắt đầu bám vào thân tôi, tâm tôi,
tên tôi, tài sản tôi, gia đình tôi… ; chính những ý niệm
này khiến chúng ta khát khao lạc thú và ghê sợ khổ sở.
Kết quả là một sự liên tục không ngừng của hấp dẫn
và ghét bỏ lần lượt nối nhau, và từ những thôi thúc bên
dưới này mà khởi ra những phiền não xung đột làm rối
loạn tâm thức không ngơi ngớt.
Trong
vô số đời quá khứ, chúng ta đã có đầy đủ giàu có và
tài sản, nhưng chúng ta đã sợ mất mát hay hư hao cái chúng
ta có đến độ chúng ta không thể rộng lượng, trong hình
thức cúng dường cho Tam Bảo hay từ thiện cho những người
khác. Có một số người rất giàu có mặc áo rách và chỉ
ăn những bữa ăn thiếu thốn, chỉ vì hà tiện ; điều này
chứng tỏ họ mù lòa biết bao nhiêu về vô thường, vì rồi
thời gian sẽ phải đến – chắc chắn khi họ chết hay có
thể trước đó – khi họ sẽ mất tất cả những cái gì
đã sở hữu ; và bấy giờ, họ không chỉ không thể đem
bất kỳ thứ gì theo cùng họ, mà còn có thể sẽ sinh vào
một cuộc đời nơi đó ngay cả những danh từ “thức ăn”
và “đồ uống” không bao giờ được nghe cho tới lúc chết.
Dù cho thật sự rằng những tài sản của các bạn không thực
hơn kho tàng tìm thấy trong giấc mộng hay hơn một đô thị
ảo ảnh chập chờn phía chân trời, bằng cách cúng dường
chúng cho Quán Thế Âm và Tam Bảo, các bạn sẽ tích tập công
đức như mộng nó sẽ dẫn các bạn đến hạnh phúc, sống
thọ, và thịnh vượng như mộng, rồi cuối cùng đến giải
thoát. Để tích tập công đức thật sự, hãy làm mọi sự
cúng dường và tặng cho với lòng sùng mộ lớn lao và không
có chút gì kiêu hãnh.
Trong
mọi thứ sở hữu của mình, chính thân thể là cái chúng
ta yêu quý nhất ; chúng ta khó có thể chịu nổi một cái
gai đâm hay một tàn lửa bỏng. Để lật ngược thói quen
bám chấp vào sự tiện nghi và sở hữu của thân thể các
bạn, hãy cúng dường thân thể các bạn cho Phật như là một
người tôi tớ và cúng dường tất cả tài sản các bạn
như một đám mây bao la những phẩm vật cúng dường cho tất
cả chư Phật và chư Bồ tát – đây là cách thực sự có
ý nghĩa để sử dụng chúng. Hơn nữa, với sự tưởng tượng
của các bạn, hãy cúng dường tất cả những sự đẹp đẽ
trong vũ trụ : hoa, vườn và rừng, âm nhạc thanh tao, mùi hương
thanh nhã, thực phẩm hoàn hảo, ánh sáng mọi loại, ngọc
báu... Cái tối cao trong những cúng dường này là sự cúng
dường thiêng liêng mạn đà la của toàn thể vũ trụ : Núi
Tu Di và bốn châu lục, núi ngọc, cây như ý, và v.v... –
tóm lại, toàn thể thế giới tràn đầy sự phong phú không
cùng của chư thiên và con người. Hãy dâng tặng sự cúng
dường vô tận này cho cả hai, những vị an trú trong niết
bàn, chư Phật và Bồ tát, và cho những người trong sanh tử,
tất cả chúng sanh của sáu nẻo luân hồi.
Thêm
vào tất cả những sự cúng dường này, có tả trong những
kinh và tantra, như một đối trị hơn nữa với sự chấp ngã
nằm trong gốc rễ của sanh tử, là thực hành rất sâu xa
quán tưởng thân thể các bạn chuyển hóa thành cam lồ và
rồi được dâng cúng cho bốn hạng khách. Trong bốn hạng
này, cái thứ nhất là những vị đặc biệt đáng kính trọng
và sùng mộ, Tam Bảo. Cái thứ hai là những vị mà những
phẩm tính của họ khiến họ đáng để cúng dường, những
Hộ Pháp. Cái thứ ba là những người cần bi mẫn, tất cả
chúng sanh trong sáu nẻo ; đối với họ, hãy quán tưởng rằng
sự cúng dường cam lồ của các bạn hóa thành bất cứ thứ
gì có thể xoa dịu nỗi khổ của họ – thức ăn cho người
đói, thuốc thang cho người bệnh, áo quần cho người lạnh,
và chỗ ở cho người không nhà. Loại khách thứ tư là những
người mà các bạn mắc những món nợ nghiệp trong đời này
và những đời quá khứ, và bởi thế khiến họ được cảm
thấy như là những lực lượng xấu, tạo ra những chướng
ngại và rối ren, và ngăn cản bạn thực hành ; bằng cách
cúng dường cho họ trong hình thức bất cứ thứ gì họ muốn
nhất, những món nợ của các bạn với họ sẽ được xóa
sạch.
Thần
chú sáu chữ cũng có thể được trì tụng như một cúng dường
đến Tam Bảo và đến tất cả chúng sanh ; nó có năng lực
đem lại lợi lạc vô cùng. Ngay cả những chúng sanh tàn ác
và kiêu căng không thương xót nhất, hoàn toàn mất đi khuynh
hướng nhỏ nhất về Pháp, cũng có thể được thuần hóa
và giúp đỡ với thần chú này, bởi vì nó là nguồn của
Bồ đề tâm, mà năng lực vô biên của lòng bi của Bồ đề
tâm luôn luôn thành công nơi nào sức mạnh và bạo động
thất bại.
Qua
những thực hành này, mà tinh túy là lòng rộng lượng và
quan tâm đến những người khác, các bạn có thể giải thoát
khỏi tâm bám chấp quy ngã, căn cứ đích thực của sanh tử.
Làm những cúng dường và khai triển lòng bi cho tất cả chúng
sanh, cuối cùng các bạn sẽ có thể buông bỏ mọi bám níu
vào bản ngã bất luận thế nào. Đây là sự cúng dường
tối thượng, ba la mật chân thực của rộng lượng bố thí,
rộng lượng bố thí “vượt khỏi” ; là sự rộng lượng
bố thí được thăng hoa trong trí huệ và đại bi.
Rộng
lượng tối hậu được minh họa bằng câu chuyện sau đây.
Thời
nọ có một đại đế, nổi tiếng vì lòng bi bao la của ông.
Ngày qua ngày, trong căn phòng cao nhất trong cung điện, ông
thường thiền định về lòng từ bi. Năng lực lòng bi của
ông đến nỗi không có ai, dầu cố gắng đến đâu, có thể
giết bất kỳ sinh vật gì trong vương quốc của ông. Một
buổi sáng, một con chim bồ câu bay qua cửa sổ mở và rơi
xuống lòng nhà vua, ngừng thở và khủng khiếp, sau chỉ vài
giây là một con diều hâu sà xuống trong phòng, đậu lại
gần vua, nói với ông, “Con bồ câu này là của tôi. Tôi
cần thịt cho chính tôi và đám chim non của tôi.”
Nhà
vua thầm nghĩ, “Không cách gì ta có thể cho diều hâu mẹ
con bồ câu này ; và cũng không có thịt nào khác ta có để
cho nó. Nhưng nếu ta không làm gì, diều hâu và đám con, tất
cả sẽ chết.” Cuối cùng tìm ra một trả lời cho vấn đề
nan giải của mình, nhà vua quyết định cho con diều hâu ít
thịt của chính ông.
“Mày
cần bao nhiêu thịt ?” ông hỏi nó.
Diều
hâu đáp, “Bằng sức nặng của thân tôi.”
Nhà
vua lấy ra một bàn cân và đặt con diều hâu vào một dĩa
cân. Với một con dao bén, ông bắt đầu cắt thịt từ đùi
phải, đặt lên dĩa cân kia. Nhưng cái cân không nhúc nhích
chút nào. Ông cắt thịt đùi trái và đặt lên dĩa cân, nó
cũng còn bất động. Bấy giờ ông cắt thịt từ toàn bộ
thân thể và chất lên dĩa cân – nhưng bấy giờ cái cân
vẫn đứng yên như ban đầu. Cuối cùng ông ngồi hẳn lên
dĩa cân, cho toàn bộ thân thể mình.
Vào
ngay lúc ấy, con bồ câu và con diều hâu, hai vị trời đến
để thử thách lòng bi của nhà vua, hoàn lại hình thể bình
thường của họ. “Ngài quả thật là một người bi mẫn
nhất !”, họ nói. Lúc ấy, nhà vua tức thì được lành lặn
những vết thương của mình một cách kỳ diệu. Trong một
đời tương lai, nhà vua đã trở thành Phật Thích Ca Mâu Ni.
Vào
lúc này chúng ta không có khả năng đem cho đầu, tay chân và
thịt, như đại Bồ tát đã làm, và thật ra ở mức độ
của chúng ta, sẽ là sai lầm để làm những cúng dường như
vậy ; thế nên chúng ta bắt đầu bằng cách cho thân thể
chúng ta trong tâm tưởng. Qua việc này và tất cả những thực
hành cúng dường khác, vì các bạn ngày càng giảm mất những
bám chấp của các bạn, tâm thức các bạn sẽ trở nên càng
ngày càng cao cả và rộng rãi. Cuối cùng, các bạn sẽ chứng
ngộ bản tánh trống không của cái ngã ; bấy giờ các bạn
sẽ có thể hoàn thiện sự tích tập của trí huệ, bằng
cách
làm sự cúng dường hoàn thiện nhất của tất cả – sự
chứng ngộ tánh Không của tất cả các hiện tượng.
GURU
YOGA
Bây
giờ chúng ta đến cái tinh túy tột độ của con đường,
sự thực hành Guru Yoga, qua nó trí huệ sẽ khởi lên một
cách tự nhiên và không cố gắng trong hiện thể của chúng
ta.
28.
Vị thầy cao cả có bản tánh của tất cả chư Phật,
Và
trong tất cả chư Phật, chính ngài là vị tốt lòng nhất.
Thấy
vị thầy không tách lìa với Quán Thế Âm,
Với
sùng mộ nhiệt thành, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Những
phẩm tính và khả năng của vị thầy gốc (bổn sư) của
các bạn thì bằng với những cái của tất cả chư Phật
trong quá khứ trong mọi phương diện, nhưng chỉ một điều
: lòng tốt của ngài biểu lộ thì còn lớn lao hơn. Sao điều
đó có thể ? Bởi vì chính ngài là người được sửa soạn
để thực sự chỉ ra cho bạn con đường đến giải thoát.
Thông hiểu sâu xa lòng tốt độc nhất này, các bạn cần
luôn luôn thờ phụng vị thầy tâm linh của các bạn như chính
đức Phật.
Tất
cả chư Phật của quá khứ, hiện tại và tương lai đã thành
tựu và sẽ thành tựu giác ngộ đều bằng cách nương dựa
vào một vị thầy tâm linh. Cái sâu xa nhất của mọi giáo
lý, Mahamudra (Đại Ấn) và Đại Toàn Thiện, được chứng
ngộ qua sùng mộ hơn là qua những tạo tác của tri thức.
Với một lòng sùng mộ không lay chuyển và nhất tâm, hãy
thấy thầy như là Phật và mọi thứ ngài làm đều toàn hảo
; bấy giờ những ban phước của ngài, trí huệ của tâm của
tất cả chư Phật, sẽ tuôn vào hiện thể của các bạn một
cách không cố gắng. Thực hành phù hợp với những giáo huấn
của ngài, và bởi vì mọi đám mây nghi ngờ và do dự đã
được xóa sạch, mặt trời của lòng bi của ngài sẽ chiếu
soi suốt, sưởi ấm các bạn với hạnh phúc.
Chakravartin,
chuyển luân vương truyền thuyết, rút quyền lực trên bốn
châu lục của mình từ bánh xe thần đi theo ngài bất cứ
chỗ nào ngài đến. Cũng cách ấy, nếu các bạn giữ lòng
sùng mộ luôn luôn ở với mình, nó sẽ đem lại cho các bạn
năng lực để tiến bộ không cố gắng hướng về giải thoát.
Như đức Phật nói, “Ta luôn luôn ở đó đối với bất
kỳ ai có lòng sùng mộ.” Như một cái hồ phản chiếu mặt
trăng càng tròn sáng hơn khi mặt nước của nó trong sáng và
tĩnh lặng, cũng thế những ban phước của vị thầy tuôn
trào mạnh mẽ khi niềm tin của các bạn vững chắc và trong
sáng.
Chính
là qua những ban phước của vị thầy mà giác ngộ có thể
đạt được nhanh chóng nhất. Như các tantra nói :
Vị
thầy là Phật, vị thầy là Pháp, vị thầy là Tăng ;
Vị
thầy hiện thân trí huệ của tất cả chư Phật.
Với
điều này trong tâm, hãy cầu nguyện đến thầy của các bạn
như là chính Quán Thế Âm. Cũng có nói :
Tâm
thầy là Pháp thân bất biến,
Ngữ
thầy là Báo thân miên viễn.
Thân
thầy là lòng bi bao trùm tất cả của Hóa thân ;
Hãy
cầu nguyện đến thầy, sự hiện diện tự nhiên của bốn
thân.
Cầu
nguyện đến thầy như không lìa tách với Quán Thế Âm là
tinh túy tột độ của Guru Yoga. Nghĩa đen của Guru Yoga là
“hợp nhất với bản tánh của thầy”. Hòa lẫn tâm thức
của các bạn với tâm của thầy là cái sâu xa nhất của
mọi sự thực hành và là con đường ngắn nhất để chứng
ngộ. Nó là sức sống của con đường và sự thực hành duy
nhất bao gồm tất cả những thực hành khác. Chính là qua
nương dựa vào một vị thầy tâm linh mà tất cả chư Bồ
tát của quá khứ phát sanh Bồ đề tâm và đạt đến hoàn
thiện. Chẳng hạn Bồ tát Taktu-ngu, “Vị Khóc Mãi”,(43)
đã sẵn sàng cho mọi thứ, kể cả thịt và máu của chính
ngài, để được thầy mình chấp nhận ; và Bồ tát Shošnnu
Norsang, “Dồi Dào Tuyệt Hảo Trẻ Trung”, đã theo không dưới
143 đạo sư.
Bởi
thế, quan trọng là cầu nguyện đến vị thầy của các bạn
mọi lúc và mọi hoàn cảnh, từ những chiều sâu thẳm của
lòng các bạn và từ tận xương tủy của thân thể các bạn.
Khi ngồi xuống, hãy quán tưởng ngài ở trên đầu các bạn
và cầu nguyện ngài ; khi đi, hãy quán tưởng ngài trên vai
phải như các bạn đang đi nhiễu quanh ngài ; khi ăn, hãy quán
tưởng ngài trong cổ họng các bạn, và tưởng tượng rằng
thức ăn của bạn được biến thành cam lồ trong sạch nhất,
dâng cúng nó cho ngài. Khi đi ngủ, quán tưởng ngài trong trái
tim các bạn, ngài ngồi trên một hoa sen đỏ bốn cánh, phóng
chiếu ánh sáng rực rỡ đầy khắp toàn bộ vũ trụ. Mọi
lạc thú các bạn trải nghiệm, mọi sắc và thanh đẹp đẽ,
mọi miềm vui trong đời bạn, hãy nhân chúng lên vô tận trong
tâm thức các bạn và cúng dường cho ngài. Khi những hoàn
cảnh của các bạn được hạnh phúc và mọi sự đều tốt
đẹp, hãy nghĩ tất cả đều nhờ lòng tốt của ngài như
thế nào, và thọ hưởng cái các bạn có mà không bám níu
hơn là đối với một giấc mộng hay một huyễn cảnh. Khi
các bạn bị đè nặng bởi bệnh tật, buồn rầu hay bởi
đối xử xấu, hãy suy nghĩ đây thật ra cũng là lòng tốt
của thầy các bạn, bởi vì chính qua những khó khăn như vậy
mà các bạn có dịp may tịnh hóa tà hạnh và nợ nần nghiệp
báo của quá khứ ; và ước mong rằng mọi khổ đau của tất
cả chúng sanh được góp thêm vào cho cái khổ đau riêng của
các bạn, để họ không phải chịu khổ nữa.
Nếu
các bạn có thể thấy ngay cả một con quỷ như là Quán Thế
Âm, sự bám chấp vào cái thực của những sức mạnh xấu
sẽ tan biến, và những sức mạnh như vậy sẽ không thể
tạo ra những chướng ngại cho đời các bạn hay cho sự thực
hành của các bạn nữa. Khi sét đánh, núi sập, hay thú rừng
đe dọa, nếu tâm các bạn tràn đầy tư tưởng về Quán Thế
Âm và các bạn hoàn toàn an trụ nơi ngài, các bạn sẽ hoàn
toàn thoát khỏi sợ hãi. Đến lúc chết, nếu các bạn chỉ
nghĩ đến Quán Thế Âm các bạn sẽ không có gì để sợ
hãi với những xuất hiện đáng sợ của trung ấm. Nhưng nếu
các bạn bị chìm ngập bởi nỗi sợ hãi, do dự giữa chạy
đi hay trốn vào một nơi nào, các bạn sẽ ở trong khổ não
thường trực suốt cuộc đời, và vào lúc chết các bạn
sẽ không thể vượt qua nổi những sợ hãi huyễn hóa của
trung ấm.
Tất
cả những thực hành cao cả của Kinh và Tantra có thể được
cô đọng vào lòng sùng mộ đối với thầy, và tất cả chúng
đều được bao gồm trong sự thực hành trì tụng manÏÏi.
Nhớ rằng sùng mộ đối với thầy là nguồn của mọi chứng
ngộ, và rằng tinh túy của Guru Yoga – hòa tâm mình với bản
tánh của Quán Thế Âm – là cái sâu xa nhất của mọi thực
hành, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Con
Đường của những Tantra
Đã
diễn tả những điểm chính của con đường của những kinh
điển, bây giờ Patrul Rinpoche đi đến con đường của những
tantra, nó cũng thường được gọi là con đường của Mật
chú, hay Kim Cương thừa, Vajrayana. Điều quan trọng là cần
nhớ rằng sự thực hành của Kim Cương thừa đặt nền trên
Kinh thừa, không bao giờ xung đột với Kinh thừa.
QUÁN
ĐẢNH
Trước
khi bắt đầu thực hành con đường Kim Cương thừa, các bạn
cần nhận một nhập môn, hay trao quyền, truyền pháp, nó cho
các bạn được phép nhận những giáo lý Kim Cương thừa và
thực hành chúng, và nó bảo đảm cho sự thấu hiểu về thực
hành của các bạn chín dần một cách thích đáng cho đến
lúc các bạn có thể thu hoạch quả. Thực hành Kim Cương thừa
mà không đã nhận một quán đảnh truyền pháp thì cũng giống
như cố gắng ép đá để thành dầu.
29.
Tịnh hóa những che chướng, khởi sự sự thực hành của
con đường và hiện thực hóa bốn thân, Tinh túy của bốn
quán đảnh là Vị Thầy Quán Thế Âm ; Nếu con nhận ra tự
tâm con là vị thầy, tất cả bốn quán đảnh đã trọn vẹn
; Nhận sự quán đảnh bẩm sinh vốn sẵn đủ bởi tự chính
con, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Trước
khi đổ vào một đồ chứa thứ chất lỏng gì rất quý báu,
trước hết các bạn phải chắc chắn rằng đồ chứa đã
được rửa sạch hoàn toàn. Cùng cách ấy, để bảo đảm
rằng các bạn là một đồ nhận thích hợp cho những lời
dạy quý báu, điều quan trọng là trước khi nhận được
chúng, các bạn phải được tẩy sạch bằng cách nhận một
quán đảnh nhập môn.
Quán
đảnh (Tây Tạng là wang và Sanskrit là abhisheka) trao quyền
cho các bạn được nghe, nghiên cứu và thực hành những giáo
lý Kim Cương thừa. Đặc biệt, nó cho phép thực hành những
giai đoạn khác nhau của con đường : giai đoạn phát triển,
trong đó các bạn quán tưởng những hóa thần và trì tụng
những thần chú ; giai đoạn thành tựu, trong đó các bạn
thực hành những yoga nội ; và Đại Ấn và Đại Toàn Thiện,
trong đó các bạn gặp gỡ bản tánh tuyệt đối của tánh
giác.
Dù
có nhiều cấp độ của quán đảnh, nền tảng của tất cả
chúng là bốn quán đảnh căn bản liên quan với bốn che chướng
cần được tịnh hóa, bốn tiến trình qua đó sự tịnh hóa
xảy ra, và bốn phương diện của thành tựu với kết quả.
Quán
đảnh cái bình tịnh hóa thân ; quán đảnh bí mật tịnh hóa
ngữ ; quán đảnh trí huệ tịnh hóa tâm thức ; và quán đảnh
biểu tượng tịnh hóa những nhiễm ô vi tế của cả thân,
ngữ và tâm thức đồng thời. Bốn sự quán đảnh được
nhận lần lượt từ thân, ngữ, tâm và trí huệ kim cương
bất hoại của vị thầy, ở đây trong hình thức của Quán
Thế Âm. Quả của bốn quán đảnh này là sự hiện thực
hóa của bốn thân.
Qua
quán đảnh các bạn sẽ chứng ngộ thực tánh của tất cả
hiện tượng là tánh thanh tịnh bổn nguyên. Bây giờ, tại
sao chúng ta và tất cả chúng sanh đã bị hành hạ cho tới
nay bởi tất cả mọi hình thức của khổ đau trong sáu cõi
sanh tử ? Đơn giản bởi vì chúng ta đã không thấy biết
được mọi sự vật vốn là bổn lai thanh tịnh. Bổn lai thanh
tịnh chính là trạng thái thực của tất cả các pháp, và
những thấy biết bất tịnh thông thường của chúng ta là
hoàn toàn sai lầm, những vọng tưởng không có một hạt nhỏ
chân lý nào – giống như lầm lẫn một đoạn dây thành một
con rắn hay nghĩ một ảo ảnh chập chờn của nước ở xa
là thật có một cái gì đó.
Thế
nên chức năng của bốn quán đảnh là làm cho các bạn biết
sự thanh tịnh vốn có của mọi sự vật. Qua sự ban phước
của thân Quán Thế Âm, các bạn sẽ thấy biết toàn bộ vũ
trụ như là cõi Phật của Quán Thế Âm, Núi Potala. Qua sự
ban phước của ngữ Quán Thế Âm, các bạn sẽ thấy biết
tất cả âm thanh trong vũ trụ – tiếng của nước, lửa,
gió, tiếng kêu của thú vật, giọng nói con người – như
là tiếng dội của manÏi. Qua sự ban phước của tâm Quán
Thế Âm, các bạn sẽ kinh nghiệm tất cả tư tưởng như là
trò chơi của tánh giác. Qua sự ban phước của thân, khẩu
và ngữ đồng thời của Quán Thế Âm, các bạn sẽ chứng
ngộ rằng trong thật tế thân, ngữ, tâm không phải là ba
thực thể riêng biệt mà là một bản tánh của Quán Thế
Âm, tánh Không và đại bi không thể tách lìa.
Trước
tiên đã nhận được một quán đảnh truyền pháp từ một
vị thầy đạo hạnh, bấy giờ các bạn phải tự mình làm
sống động trở lại sự quán đảnh truyền pháp lần nữa
và lần nữa, mỗi lần làm sâu xa thêm sự thấu hiểu của
các bạn, thắp sáng lại những ban phước của thầy, và sửa
lại những lỗi vi phạm samaya nào có xảy ra. Để làm sống
động trở lại sự quán đảnh cái bình, hãy quán tưởng
rõ ràng Quán Thế Âm như là đấng bao trùm tỏa khắp của
vô cùng những mạn đà la và hãy cầu nguyện ngài với lòng
tin khao khát. Để làm sống động trở lại sự quán đảnh
bí mật, hãy trì tụng manÏi với lòng sùng mộ nhiệt thành.
Để làm sống động trở lại sự quán đảnh trí huệ, hãy
cầu khẩn với lòng sùng mộ những ban phước của đại bi
toàn hảo, không ý niệm của Quán Thế Âm trong hình thức
những tia sáng phát ra từ trái tim ngài và tan biến vào trái
tim các bạn. Để làm sống động trở lại sự quán đảnh
biểu tượng, hãy cầu nguyện Quán Thế Âm với sự tôn kính
sâu xa và cảm thông sâu sắc, cầu khẩn trí huệ kim cương
của ngài trong hình thức những tia sáng năm màu sáng chói
từ toàn thân ngài, chúng tan vào khắp thân thể các bạn.
Theo cách này, khi các bạn nhận bốn quán đảnh, bốn sự
che chướng(44) được xóa tan và bốn thân được thành hiện
thực.
Quán
đảnh cũng có thể được nhìn theo nền tảng, con đường
và quả. Như Lai Tạng, Phật tánh đã luôn luôn hiện diện
trong các bạn : bản thân cái ấy là sự quán đảnh nền tảng.
Trong thời gian nhập môn, Phật tánh vốn sẵn đủ được
chỉ thẳng một cách trực tiếp bởi vị thầy và sau đó
được chứng ngộ dần dần bởi đệ tử, đây là sự quán
đảnh con đường. Những phương pháp, phương tiện cho tiến
trình tiệm tiến này bao gồm sự quán tưởng những mạn đà
la(45) và những hóa thần, sự trì tụng những thần chú, và
v.v... ; trong sự thực hành đặc biệt này các bạn quán tưởng
Quán Thế Âm ở trên đầu các bạn, trì tụng thần chú sáu
chữ, và nhận trở đi trở lại từ ngài bốn quán đảnh.
Sự quán đảnh con đường đưa đến sự quán đảnh quả,
nó chỉ là sự chứng ngộ hoàn toàn Phật tánh vốn sẵn có
của các bạn.
Những
ban phước của bốn quán đảnh và năng lực của chúng để
tịnh hóa những che chướng cần được giữ gìn và được
tăng trưởng bởi những thực hành của bốn con đường tương
ứng. Những cái ấy là chủ đề của những câu kệ còn lại
của phần này.
TRI
GIÁC THANH TỊNH
30.
Sanh tử không là gì khác hơn như thế nào sự vật xuất hiện
với con ; Nếu con nhận ra mọi sự như là hóa thần bổn tôn,
sự tốt đẹp của những người khác đã trọn vẹn. Thấy
sự thanh tịnh của mọi sự là ban bốn quán đảnh cho tất
cả chúng sanh tức thì ; Nạo vét sạch những chiều sâu của
sanh tử, hãy trì tụng thần chú sáu âm.
Đối
với người có những khả năng trung bình, con đường là sự
từ bỏ toàn hảo. Đối với những người lớn lao, con đường
là lòng bi toàn hảo. Đối với những người có những khả
năng tối cao, con đường là sự thấy biết tánh thanh tịnh
bổn nhiên và toàn hảo. Chính cái thấy biết thanh tịnh này
của Kim Cương thừa mà chúng ta quan tâm ở đây.
Vậy
thì cái gì nghĩa là tri giác thanh tịnh ? Cách thức chúng ta
thường kinh nghiệm thế giới bên ngoài, thân thể chúng ta,
và cảm giác chúng ta là bất tịnh, theo nghĩa chúng ta thấy
biết chúng như là bình thường, những thực thể hiện hữu
một cách có bản chất. Từ cái thấy biết sai lầm này có
ra những phiền não chúng kéo dài khổ đau. Tuy nhiên, hãy nhìn
kỹ tất cả những hình tướng ấy ; các bạn sẽ thấy ra
rằng chúng không có hiện hữu thật sự. Từ một quan điểm
tương đối, chúng xuất hiện như là một kết quả của nhiều
nhân và duyên khác nhau, như một ảo ảnh hay một giấc mộng,
nhưng trong thật tế không có cái gì khởi từ những nhân
và duyên lại có một hiện hữu thực sự nào. Thật vậy,
không có một vật nào để xuất hiện. Như có nói, “Ai thấu
hiểu tánh Không là bậc hiền trí thực sự.”
Nếu
các bạn tiếp tục thẩm xét, các bạn sẽ thấy ra rằng không
có vật gì ở bất cứ nơi đâu, không ngay cả một nguyên
tử đơn nhất, lại có một hiện hữu đích thật. Bây giờ,
rõ ràng rằng nhìn thấy những sự vật theo cách khác đi,
chúng như hiện hữu thực sự, chính là cái thấy biết hư
vọng tạo nền cho sanh tử ¬– nhưng ngay cả cái thấy biết
hư vọng này cũng không bao giờ lìa ngoài lãnh vực của tánh
Không. Bởi thế, vô minh không là gì khác hơn một tấm màn
che phù du không có hiện hữu nội tại. Khi các bạn nhận
ra điều này, không có gì là thấy biết bất tịnh nữa ;
chỉ có trò phô diễn của thân, ngữ, tâm và trí huệ của
Phật. Bấy giờ không cần đến cố gắng nào để thoát khỏi
ba cõi sanh tử hay để tận diệt khổ đau, bởi vì cả sanh
tử lẫn khổ đau đều chưa từng hiện diện. Một khi các
bạn chứng ngộ rằng sanh tử là trống không như một ảo
ảnh, tất cả khuôn khổ nghiệp quả và thức tình phiền
não nằm tại gốc rễ của sanh tử đều bị cắt sạch.
Tánh
Không, tuy nhiên không phải là cái chẳng có gì hay hư không
trống rỗng, bởi vì như Bát Nhã ba la mật nói, “Sắc tức
là Không, Không tức là Sắc ; Không chẳng khác Sắc, và Sắc
chẳng khác Không.” Thế đấy, tánh Không không lìa khỏi
sự phô diễn của những thân và những trí huệ. Trong ý nghĩa
đó, mọi hình tướng xuất hiện đều là thân của Quán Thế
Âm, mọi âm thanh đều là thần chú của ngài, và mọi tư
tưởng đều là sự hợp nhất không và lạc của tánh Không
và đại bi. Khi các bạn chứng ngộ cái Chân Không này của
những hiện tượng, các bạn sẽ tự nhiên cảm thấy một
lòng bi không có ý niệm, bao trùm khắp với tất cả chúng
sanh đang chìm đắm trong đại dương sanh tử của khổ đau
bởi vì họ bám chấp vào ý niệm một bản ngã.
Cái
tôi gây rối rắm muộn phiền này chỉ biết quan tâm đến
chính nó trong thực tế đã không bao giờ bắt đầu hiện
hữu, ngay đây cũng không đang hiện hữu ở bất cứ nơi đâu,
thế nên nó cũng sẽ không có chỗ tắt mất. Không có một
dấu vết nhỏ nhất nào của nó có thể được tìm thấy.
Bởi thế khi các bạn nhận biết tánh Không, mọi ý niệm
“có một bản ngã cần phải phá tan” cũng tan biến, và
đồng thời năng lực đem lại sự tốt đẹp cho những người
khác mọc lên như mặt trời, một cách không tạo tác và cố
gắng. Ở đây các bạn sẽ thấy khuôn mặt thật của Quán
Thế Âm, tánh Không và Đại Bi hợp nhất. Và ở đây bắt
đầu mười cấp độ liên tiếp nhau của các Bồ tát, những
người có khả năng kéo dài một khoảnh khắc thành một thời
đại và cô đọng một thời đại thành một khoảnh khắc.
Họ tràn đầy lòng bi tự nhiên, vô niệm, và bất cứ cái
gì họ làm, dù chỉ một cử chỉ đơn giản của đôi tay,
cũng đem lại lợi lạc cho chúng sanh. Họ không bao giờ bị
ngu muội bởi những hình tướng xuất hiện, như một nhà
huyễn thuật không bao giờ bị mê muội bởi trò lừa dối
của ông ta, bởi vì họ biết rằng những hình tướng không
có thực tánh, và họ biết rằng không nhận biết sự kiện
ấy tức là vọng tưởng. Họ ban cho mọi thành tựu thông
thường và tối thượng. Làm việc không mệt mỏi cho lợi
lạc của tất cả hữu tình, họ nạo vét sạch những chiều
sâu tận đáy của sanh tử.
Cầu
nguyện nhiệt thành Quán Thế Âm, hãy quán tưởng vô số tia
sáng phóng chiếu từ thân ngài, xua tan khổ đau và những che
chướng của tất cả chúng sanh và ban cho họ bốn quán đảnh.
Tất cả chúng sanh nam trở thành Quán Thế Âm, tất cả nữ
trở thành Jetsun Drošlma, và toàn thể vũ trụ trở thành cõi
Phật của họ. Thực hành theo cách này đem đến lợi lạc
cho tất cả chúng sanh.
Mọi
hiện tượng của sanh tử và niết bàn là những phóng chiếu
của tâm các bạn. Thế nên, đó cũng là Quán Thế Âm. Trộn
lẫn tất cả thực hành vào một cái, an trụ trong trạng thái
nơi đó tánh Không và những hình tướng là một tánh duy nhất,
và hãy trì tụng mani.
GIAI
ĐOẠN PHÁT TRIỂN
Con
đường mật chú được chia thành giai đoạn phát triển và
giai đoạn thành tựu. Giai đoạn phát triển gồm những yoga
của những phương diện trí huệ của thân, ngữ và tâm thức
– thân kim cương, ngữ kim cương, và tâm kim cương ; mục
đích của nó là chứng ngộ tánh thanh tịnh bổn nguyên của
tất cả hiện tượng. Giai đoạn thành tựu dẫn đến sự
chứng ngộ không có ý niệm về bản tánh của tâm thức.
Thân
Kim Cương
31.
Tâm thức không thể đảm đương tất cả những thực hành
quán tưởng ;
Thiền
định về một vị Phật là thiền định về tất cả chư
Phật. Bất cứ cái gì xuất hiện, những hình tướng là hình
sắc của bậc Đại Bi ; Trong cảnh giới của thân thể hóa
thần, xuất hiện nhưng trống không, hãy trì tụng thần chú
sáu âm.
Sự
thực hành cốt lõi của giai đoạn phát triển là quán tưởng
bản thân các bạn và tất cả chúng sanh khác như là những
hóa thần và vũ trụ như là mạn đà la hay một cõi Phật.
Con người ngày nay, với trí năng giới hạn, cuộc đời ngắn
ngủi, và tinh tấn yếu ớt, họ thấy khó khăn để làm chủ
mọi quán tưởng tạo tác trong những tantra. Cố gắng thử
làm tất cả những thực hành phức tạp này là vô ích, tuy
nhiên, bằng cách thông thạo triệt để một thực hành nhắm
vào chỉ một vị Phật, các bạn có thể khám phá ra trí huệ
và lòng bi của tất cả chư vị.
Với
thực hành hiện giờ, các bạn có thể hoặc quán tưởng chính
các bạn là Quán Thế Âm hay quán tưởng Quán Thế Âm ở trên
đầu các bạn, nghĩ đến ngài như không khác với bổn sư
của các bạn, vị thầy mà các bạn cảm thấy sùng mộ lớn
lao nhất. Ngài màu trắng – màu trắng chói sáng của một
đỉnh tuyết phản chiếu một trăm ngàn mặt trời, xua tan
bóng tối của toàn thể vũ trụ. Ngài có một đầu, tượng
trưng cho cái một của bản tánh tuyệt đối ; bốn tay tượng
trưng cho từ, bi, hỷ, xả ; hai chân xếp bằng trong tư thế
kim cương, tượng trưng tính nhất như của sanh tử và niết
bàn ; ngài ngồi trên một hoa sen ngàn cánh, tượng trưng lòng
bi, và một dĩa mặt trăng tượng trưng cho tánh Không.
Một
đôi tay chắp ở trái tim và cầm một viên ngọc, tượng trưng
Bồ đề tâm, hòn ngọc như ý ban cho những thành tựu tối
cao và thông thường. Hai tay kia, một tay bên phải cầm lên
một xâu chuỗi pha lê và tay kia một hoa sen trắng bên trái
; xâu chuỗi tượng trưng lòng bi không ngừng của ngài trải
dài như một dòng không dứt qua trái tim của mỗi một chúng
sanh, và hoa sen là sự thanh tịnh không biến đổi của trí
huệ ngài nở trọn vẹn trên bùn lầy của sanh tử. Viên ngọc
cũng tượng trưng trí huệ – đại lạc như phương tiện,
trong khi hoa sen tượng trưng trí huệ – tánh Không như sự
chứng ngộ. Thân thể đẹp đẽ của ngài, mang tất cả tướng
chánh và tướng phụ của một vị Phật, được bao trùm trong
ngọc và lụa của Báo thân.
Mục
đích của những thực hành quán tưởng của giai đoạn phát
triển, như cái này, là để phát triển cái thấy biết thanh
tịnh – đó là, để thấy bản thân các bạn và tất cả
chúng sanh như những hóa thần trí huệ và môi trường của
các bạn như là một cõi Phật, để nghe tất cả âm thanh
như là những thần chú, và để hiểu mọi tư tưởng như
là trò chơi của tánh Giác. Cái tri giác thanh tịnh này không
phải là một ý tưởng nhân tạo nào đó về sự thanh tịnh
mà các bạn cố gắng gán ghép lên những hiện tượng ; hơn
thế nữa, nó là sự nhận ra rằng tất cả mọi hiện tượng
thật sự và vốn xưa nay thanh tịnh. Nó được hoàn thành
qua nhiều kỹ thuật thiền định, chúng dần dần được hoàn
thiện. Ban đầu, các bạn có thể không quán tưởng được
Quán Thế Âm như một toàn thể một cách rất rõ ràng, thế
nên hãy bắt đầu bằng cách quán tưởng khuôn mặt của ngài
: Vượt tất cả chúng sanh, lông mày cong hoàn hảo của ngài,
đường nét của cái mũi, và nụ cười rạng rỡ của ngài.
Rồi từ từ mở rộng sự quán tưởng đến toàn cái đầu
của ngài – hình dáng tuyệt hảo và những trang sức của
nó, vương miện và bông tai bằng vàng. Dần dần, quán tưởng
phần dưới còn lại của thân thể ngài và những trang sức
khác, ba vòng cổ, tấm da sơn dương trên vai trái và bao phủ
phần ngực trái, những vòng đeo tay và cổ chân nạm ngọc,
những khăn quàng lụa màu sắc, khăn quàng trắng thêu chỉ
vàng, và y phục phần dưới năm màu. Quán tưởng mỗi chi
tiết chầm chậm theo cách này, từ từng cái một, các bạn
sẽ dần dần có thể duy trì sự quán tưởng bao trùm toàn
bộ.
Bấy
giờ, trong mỗi lỗ chân lông của thân thể Quán Thế Âm,
hãy quán tưởng một cõi Phật, và trong mỗi cõi của hàng
tỷ cõi Phật này, có một vị Phật chuyển bánh xe Pháp cho
chúng hội Thanh Văn, Bích Chi và Bồ tát của ngài. Giáo lý
của những vị Phật này về tri kiến, thiền định và hành
động của Đại thừa là căn cứ trên Pháp cao siêu thần
chú sáu chữ, và khả năng chỉ dạy của các ngài đến nỗi
trong nhiều kiếp, các ngài có thể xiển dương ý nghĩa của
chỉ một chữ, chẳng hạn chữ OMÏ, mà không hề cạn kiệt
đề tài. Không có cái gì trong những cõi Phật này là bất
tịnh. Không có sự thù ghét kẻ thù hay luyến ái bạn bè.
Mọi giống nam là Quán Thế Âm và mọi giống nữ là Jetsun
Drošlma. Tất cả những cõi Phật này là những lưu xuất huyễn
hóa của trò chơi phô diễn của Quán Thế Âm, sự biểu lộ
của tánh Không và đại bi không tách lìa.
Khi
quán tưởng thân thể các bạn là thân kim cương của Quán
Thế Âm, các bạn phải thấy toàn thể môi trường bên ngoài
được chuyển hóa thành Tịnh Độ của Quán Thế Âm, Núi
Potala trong cõi Cực Lạc Sukhavati, với những điều kỳ diệu
như những đồi ngọc, sông cam lồ và cây như ý ; những đám
mây của những sự cúng dường đầy trời, thần chú OMÏ
MANÏI PADME HŪMÏ vang lên khắp nơi, và “khổ” là một danh
từ không bao giờ được nghe đến.
Khi
các bạn quán tưởng thân kim cương, các bạn không nên nghĩ
nó là một cái gì cứng đặc làm bằng thịt, xương và máu,
mà như một cầu vồng, chói lọi, màu sắc và trong sáng, nhưng
không có bản chất nào. Đấy là phương diện Không của bản
tánh Quán Thế Âm, nó không có những hợp uẩn thô đặc hay
bất tịnh ; Quán Thế Âm hoàn toàn vô nhiễm với năm uẩn,(46)
chúng hợp với nhau làm nảy sinh ý niệm về một bản ngã.
Ban
đầu, dầu cố gắng siêng năng, các bạn cảm thấy khó mà
làm chủ mọi chi tiết của sự quán tưởng. Trong trường
hợp ấy, đơn giản hãy khai triển một sự xác tín rõ ràng
các bạn chính là Quán Thế Âm – không phải như là kết
quả của tạo tác thuộc về tâm thức mà vốn là như vậy.
Nếu các bạn quán tưởng Quán Thế Âm trên đầu các bạn,
đơn giản hãy tin chắc rằng ngài ở đó và rõ ràng biết
sự hiện diện của ngài. Theo thời gian, bằng cách tập trung
vào mỗi chi tiết lập đi lập lại, các bạn sẽ dần dần
trở nên quen với sự quán tưởng cho đến khi nó trở thành
hoàn toàn tự nhiên, như mọi chi tiết của một nơi chốn
bạn đã sống lâu năm sẵn sàng hiện hình trong trí các bạn.
Khi
sự quán tưởng Quán Thế Âm trở nên rõ ràng và vững chắc,
hãy quán tưởng những tia sáng phóng ra từ thân thể ngài
soi khắp mười phương,(47) cúng dường tất cả chư Phật
và Bồ tát trong vô số cõi Phật. Những tia sáng này trở
lại, mang theo những ban phước của tất cả các bậc giác
ngộ, và tan trở vào Quán Thế Âm, ngài càng trở nên sáng
chói và rực rỡ hơn. Một lần nữa, ngài phóng ra những tia
sáng, lần này đến với tất cả chúng sanh, xua tan khổ đau
của họ, đặt để họ trong trí huệ của đại lạc, và
chuyển hóa họ thành những Bồ tát nam và nữ và toàn thể
vũ trụ thành một cõi Phật hoàn hảo.
Trong
khi các bạn đang thiền định về Quán Thế Âm, những tư
tưởng bình thường sẽ dừng lại và tâm thức sẽ an định.
Nếu bấy giờ các bạn nhìn vào bản tánh của tâm thức,
sẽ bắt đầu trở nên rõ ràng rằng hóa thần bổn tôn tự
bản chất là một với tánh Không. Cái hiểu này bấy giờ
sẽ mở rộng đến sự chứng ngộ rằng tất cả hình tướng
xuất hiện là trống không trong bản tánh và bởi thế hoàn
toàn thanh tịnh. Hộ trì sự chứng ngộ này trong tất cả
mọi lúc là giai đoạn phát triển của tánh thanh tịnh vô
biên.
Ngữ
Kim Cương
32.
Những trì tụng, sadhana, và thần chú chỉ là những rắc rối
;
Thần
chú sáu chữ bao gồm tất cả là âm thanh thực sự của Pháp.
Tất
cả âm thanh không gì khác hơn là ngữ của Quán Thế Âm Cao
siêu ;
Nhận
biết chúng như là thần chú, âm vang nhưng trống không, hãy
trì tụng thần chú sáu âm.
Một
trong những yếu tố chính của thực hành Kim Cương thừa là
thần chú (mantra). Thần chú là những công thức bằng tiếng
Sanskrit trong lãnh vực âm thanh, có một tầm quan trọng tương
đương với sự quan trọng của những hóa thần được quán
tưởng trong lãnh vực hình sắc. Thần chú có nhiều loại
khác nhau, gồm những thần chú của cái biết, thần chú bí
mật và dharani ; cũng có những thần chú của sự tiếp cận,
những thần chú của sự hoàn thành và những thần chú để
thành tựu bốn sự hoạt động.
Tuy
nhiên, không có thần chú nào có thể được xem như cao hơn
manÏi, nó bao gồm không chỉ tất cả chức năng mà còn tất
cả năng lực và ban phước của mọi thần chú khác. Những
bậc thánh trí quá khứ, chẳng hạn như Karma Chagme vĩ đại,(48)
đã không thể tìm khắp trong kinh điển một thần chú lợi
lạc, tinh túy hơn hay dễ dàng thực hành hơn manÏi ; bởi thế
các ngài đã lấy thần chú này là sự thực hành chính của
các ngài. Ngay chỉ nghe được manÏi là đã đủ để chúng
sanh thoát khỏi sanh tử. Ví dụ, chuyện kể rằng có lần
năm trăm con trùng giành giựt nhau để sống trong một cái
hố bẩn thỉu ghê gớm. Quán Thế Âm thương xót cho sự khổ
đau của chúng, biến thành một con ong vàng và bay trên cái
hố, vo ve thần chú manÏi. Những con trùng nghe được âm thanh
của sáu chữ, đã hoàn toàn thoát khỏi những đau khổ của
chúng và sanh lại ở một cõi trời.
ManÏi
không chỉ là một chuỗi lời bình thường. Nó chứa đựng
tất cả những ban phước và lòng bi của Quán Thế Âm ; thật
vậy, nó chính là Quán Thế Âm trong hình thức âm thanh. Như
chúng ta hiện giờ, những che chướng nghiệp báo của chúng
ta ngăn cản chúng ta có thể thực sự gặp gỡ Quán Thế Âm
trong cõi Phật của ngài ; nhưng điều chúng ta có thể làm
là nghe thần chú của ngài, trì tụng nó, đọc nó, và viết
nó ra cho đẹp bằng chữ vàng. Bởi vì không có sự khác nhau
nào giữa bản thân hóa thần bổn tôn và thần chú là tinh
túy của ngài, những việc làm này đem lại lợi lạc lớn
lao. Sáu chữ là sự biểu lộ sáu ba la mật của Quán Thế
Âm, và như chính ngài đã nói, người nào trì tụng thần
chú sáu chữ sẽ hoàn thiện sáu ba la mật và tịnh hóa mọi
che chướng và nghiệp báo.
Để
thực hành trì tụng thần chú này, trước tiên quán tưởng
Quán Thế Âm như đã tả ở trước, càng rõ ràng sống động
càng tốt. Trong trái tim Quán Thế Âm, hãy quán tưởng một
hoa sen sáu cánh, trên đó là một dĩa mặt trăng tròn. Trong
trung tâm dĩa mặt trăng là chữ HRĪHÏ, bao quanh bởi sáu chữ
OMÏ MA NÏI PAD ME HŪMÏ xếp theo chiều kim đồng hồ trong một
vòng tròn như một chuỗi ngọc trai, tỏa chiếu những dòng
ánh sáng chúng mang những cúng dường đến cõi Cực Lạc Sukhavati,
đến cõi Cực Mỹ Ưa Nhìn, và đến tất cả cõi Phật mười
phương. Mỗi một tia sáng mang theo vô số đồ cúng dường,
như tám biểu tượng tốt lành, tám chất quý báu, bảy biểu
hiện vương giả, những cây như ý, những pháp khí quý giá,
và tạo thành những đám mây khổng lồ của những cúng dường
đến chư Phật và chư Bồ tát của mỗi cõi Phật, đầy khắp
bầu trời. Nhận những món cúng dường của các bạn, chư
Phật giúp các bạn tích tập công đức và trí huệ.
Rồi
tất cả tia sáng này trở lại, mang theo trong hình thức cam
lồ quý báu những ban phước của thân, ngữ, tâm của tất
cả chư Phật, cùng với trí huệ, năng lực và tình thương
của các ngài và tan vào thần chú trong trái tim Quán Thế Âm.
Quán Thế Âm trở nên sáng chói và rực rỡ hơn nữa, như
vàng tắm trong nước màu vàng nghệ.
Rồi
những tia sáng vô biên lại phóng ra từ vòng tròn thần chú,
lần này xóa tan khổ đau của tất cả chúng sanh trong sáu
cõi : cái nóng làm bỏng và cái lạnh nhức nhối của những
địa ngục ; cái đói khát không gì giải tỏa được của
ngạ quỷ ; cái ngu si hung dữ, cảnh nô lệ và bị đối xử
tồi tệ của súc sanh ; những khổ đau của sanh già bệnh
chết của con người ; sự ghen ghét và cừu hận của bán-thiên
; và mối khổ não của chư thiên khi cuối cùng, từ những
thế giới tinh tế của lạc thú và định tĩnh, họ đâm đầu
xuống những chiều sâu của các cõi thấp. Tất cả sự thống
khổ này bị xua tan bởi ánh sáng rực rỡ tuôn ra từ thần
chú, như mặt trời buổi sáng làm chảy tan sương mù trên
cánh đồng mùa đông. Tất cả chúng sanh được chuyển hóa
thành Quán Thế Âm ; trước hết là môi trường trực tiếp
quanh các bạn, và rồi toàn thể vũ trụ, trở thành cõi tịnh
độ của Núi Potala.
Khi
phúc lợi của tất cả chúng sanh đã được hoàn thành theo
cách này, hãy gom thu lại những tia sáng trở vào trong chính
các bạn, tức là Quán Thế Âm. Mỗi một lỗ chân lông của
thân thể các bạn chứa đựng vô số cõi Phật, mỗi cõi
âm vang thần chú sáu chữ. Sự rung động của nó tràn đầy
toàn thể không gian, như tiếng vo ve của một triệu con ong
bay ra khỏi tổ khi bị mở banh. Âm thanh của thần chú xóa
sạch vô minh và hàng phục mọi năng lực tiêu cực. Nó thức
tỉnh những Thanh Văn khỏi định của các ngài và đem các
ngài vào con đường Đại thừa ; nó làm những cúng dường
cho các Bồ tát, khuyến tán các ngài tiếp tục làm việc cho
lợi lạc của chúng sanh ; và nó ra lệnh cho các hộ pháp giữ
gìn những giáo lý và làm tăng trưởng hạnh phúc và thịnh
vượng cho tất cả.
Những
âm thanh của gió và những con sông chảy, tiếng lách tách
của lửa, tiếng kêu của thú vật, những bài hát của chim
chóc, tiếng nói của con người – tất cả âm thanh của vũ
trụ – là âm vang của thần chú sáu chữ, âm thanh tự khởi
của Pháp, vang lên nhưng trống không, tiếng vang dội của
Pháp thân vô sanh. Qua trì tụng, thực hành yoga của ngữ kim
cương, các bạn sẽ không khó khăn đạt được những thành
tựu bình thường và tối cao.(49)
Tâm
Kim Cương
33.
Vì những tư tưởng và hai che chướng được bình lặng, kinh
nghiệm và chứng ngộ tăng trưởng ; Vì những tri giác của
bạn được điều ngự, những kẻ thù và những ảnh hưởng
ngăn ngại bị khuất khục. Chính Quán Thế Âm ngài ban cho
những thành tựu bình thường và tối cao trong chỉ đời này
; Vì bốn hoạt động được thành tựu bởi tự chúng ; hãy
trì tụng thần chú sáu âm.
Không
có một thực thể nào, của bất cứ loại nào, hiện hữu
thực sự và thường tồn. Tất cả hiện tượng của sanh
tử và niết bàn – ngay dù những hình tướng được thấy
như hóa thần và những âm thanh được nghe như thần chú –
đều là những phóng chiếu của tâm thức. Nếu các bạn tìm
kiến bản chất của tâm, các bạn sẽ thấy như đã được
nói trong Bát Nhã ba la mật :
Tâm,
Tâm
không hiện hữu,
Sự
biểu lộ của nó là tánh sáng tỏ.(50)
Cái
chúng ta bình thường gọi là tâm là tâm mê vọng, một xoáy
lốc ồn ào của những tư tưởng bị khuấy động bởi tham,
sân và si. Tâm này, khác với tánh Giác giác ngộ, luôn luôn
bị mang đi xa bởi một vọng tưởng này tiếp sau một vọng
tưởng khác. Những tư tưởng ghét giận hay tham bám thình
lình khởi lên không báo trước, bùng nổ bởi những hoàn
cảnh như một cuộc gặp gỡ bất ngờ với một kẻ thù hay
một người bạn, và trừ phi chúng tức thời bị hóa giải
bằng một đối trị thích hợp, còn không chúng nhanh chóng
bắt rễ và sinh sôi, làm mạnh thêm ưu thế thói quen của
thương ghét trong tâm thức và càng gia thêm những khuôn khổ
nghiệp báo.
Nhưng
dù những tư tưởng ấy có vẻ mạnh mẽ thế nào, chúng cũng
chỉ là những tư tưởng và cuối cùng tan biến trong tánh
Không. Một khi các bạn nhận ra bản chất nội tại của tâm,
những tư tưởng hình như khởi, diệt mọi lúc này không thể
làm các bạn ngu muội nữa. Như những đám mây thành hình,
tồn tại một lúc, và rồi tan biến vào bầu trời trống
không, những vọng tưởng cũng thế, khởi lên, có mặt một
lát và rồi tan mất trong tánh Không của tâm ; trong thực tế
không có cái gì đã xảy ra cả.
Khi
ánh sáng mặt trời chiếu vào một hòn pha lê, những ánh sáng
của mọi màu sắc cầu vồng xuất hiện ; tuy nhiên chúng không
có bản chất gì cho các bạn có thể bám nắm. Cũng thế,
tất cả tư tưởng trong sự đa tạp vô cùng của chúng –
sùng mộ, bi mẫn, làm hại, tham muốn – rốt ráo đều không
có bản chất, vô tự tánh. Đây là tâm của Quán Thế Âm.
Không có tư tưởng nào khác tánh Không ; nếu các bạn nhận
ra bản chất trống không của những tư tưởng ngay lúc chúng
khởi lên, thì chúng sẽ tan biến. Tham luyến và căm ghét sẽ
không bao giờ có thể quấy rối tâm thức. Những cảm thức
hư vọng sẽ tự sụp đổ. Không có hành động xấu nào được
tích tập nữa, thế nên không có khổ đau theo đó. Đây là
đỉnh điểm của sự làm cho bình lặng, cái thứ nhất trong
bốn hoạt động.
Nếu
các bạn thực hành những yoga về thân, ngữ và tâm mà không
làm mồi cho những tư tưởng, ở điểm này lòng bi của Quán
Thế Âm và Phật tánh vốn sẵn của các bạn sẽ bắt đầu
gặp gỡ và hòa làm một. Những kinh nghiệm thiền định sẽ
tăng thêm, cùng với lòng sùng mộ và lòng bi, như những tia
sáng mặt trời tăng thêm sức mạnh khi tập trung qua một cái
gương tráng lệ. Đây là đỉnh điểm của sự tăng trưởng,
hay tăng ích, hoạt động thứ hai.
Một
khi các bạn thấy rằng tất cả hiện tượng của cả sanh
tử lẫn niết bàn chỉ là những tạo tác của tâm thức và
rằng bản tánh của tâm thức là trống không, bấy giờ chuyển
hóa tri giác bất tịnh thành tri giác thanh tịnh không còn là
một vấn đề – tất cả hiện tượng được phát hiện
một cách đơn giản như là thanh tịnh bổn nhiên. Sự chứng
ngộ này đem tới cho các bạn, một cách tổng quát, sự kiểm
soát không giới hạn trên mọi hiện tượng và, một cách
riêng biệt, mười năng lực của những bậc tối cao – năng
lực trên vật chất, năng lực trên đời sống, năng lực
trên nghiệp quả v.v...(51) Có nói rằng, “Bằng cách làm chủ
tri giác của mình, người ta có thể làm chủ tất cả mọi
hiện tượng.” Khi các bạn thoát khỏi năng lực của những
vọng tưởng, các bạn sẽ có thể chuyển hóa các đại theo
ý muốn và làm chủ kho tàng vô tận của bầu trời.(52) Trong
một nạn đói kinh khủng ở Ấn Độ, đại sư Nagarjuna biến
sắt thành vàng, với vàng này ngài không chỉ có thể nuôi
sống toàn bộ tăng già qua khỏi nạn đói mà còn xây dựng
được nhiều chùa mới.(53) Tất cả những phép lạ mà tám
mươi bốn đại thành tựu giả biểu lộ quyền năng của
các ngài trên những hình tướng có thể làm được là do
sự chứng ngộ tánh Không và sự tự do khỏi mê vọng của
các ngài. Cuối cùng đến sự làm chủ của chính giác ngộ
– đỉnh điểm của năng lực, hoạt động thứ ba.
Một
khi tâm mê vọng đã bị hàng phục, bấy giờ không có chỗ
nào làm bến trú ẩn cho những quỷ thần tác hại hay những
năng lực xấu ; và khi thân tâm các bạn thấm nhuần Bồ đề
tâm, cái mà trước kia các bạn có thể tri giác như là những
lực lượng tà ma và gây ngăn ngại bấy giờ các bạn sẽ
thấy chúng như những biểu hiện của thầy các bạn, qua chúng
các bạn có thể làm mạnh thêm từ và bi. Theo cách này, khổ
đau biến mất, và các bạn sử dụng những lực lượng tiêu
cực, xấu ác, những chướng ngại và những khó khăn để
tiến bộ trong sự thực hành của các bạn. Đây là đỉnh
điểm của hàng phục, hoạt động thứ tư.
Qua
sự thực hành giai đoạn phát triển – quán tưởng Quán Thế
Âm và trì tụng thần chú của ngài – các bạn nhận biết
trí huệ của ngài. Từ tia lửa của sự nhận biết này, trí
huệ lớn lên như một ngọn lửa lan qua một rừng cây khô.
Đây là tinh túy của giai đoạn thành tựu. Qua sự thực hành
này, tâm thức được thuần hóa và bốn hoạt động được
thành tựu tự chúng một cách tự nhiên. Những che chướng
và tà hạnh, bệnh tật và khổ đau được bình lặng ; thọ
mạng, công đức, thịnh vượng và trí huệ tăng trưởng ;
người ta, những tư tưởng và những năng lực bên trong được
thuộc về dưới quyền năng của các bạn mà không có tranh
đấu ; và mọi lực lượng tiêu cực, những thù địch, những
chướng ngại, và những ma quỷ bên trong – những thức tình
– được hàng phục.
Sau
thiền định
Để
kinh nghiệm đầy đủ ý nghĩa sâu xa của Kim Cương thừa,
điều quan trọng là duy trì sự thực hành trong mọi lúc, không
chỉ trong những thời thiền định cụ thể. Thực hành cho
những thời thiền định và thực hành cho những thời kỳ
giữa những thời thiền định phải được xem là không tách
biệt nhau. Mục đích của bản thân thực hành thiền định,
như chúng ta đã thấy, là có được sự vững chắc trong cái
tri giác tất cả hình tướng như là hình thể của hóa thần
bổn tôn, tất cả âm thanh là thần chú của ngài, và tất
cả tư tưởng tức là Pháp thân, như thế nhận biết bản
tánh tuyệt đối của tâm thức, trống không và sáng rỡ.
Bây giờ, trong những thời kỳ giữa các thời thiền định,
bất cứ các bạn làm điều gì các bạn phải hộ trì, gi