MỤC
LỤC
Ý
Nghĩa và Mục Đích Khoá Tu Phật Thất
Nội
Quy Koá Tu Phật Thất
Oai
Nghi Khoá Tu Phật Thất
Nghi
Thức Tụng Niệm
Ý
nghĩa & mục đích của
Khóa tu Phật
thất
Khóa
tu Phật thất lần đầu tiên được tổ chức tại chùa Hoằng
Pháp từ ngày 2-5 đến 9-5-1999 (17-3 đến 24-3 Kỷ Mão) với
số lượng 68 Phật tử tham dự. Đến nay là khóa thứ 6 được
tổ chức từ ngày 17-9 đến 24-9-2000 (20-8 đến 27-8 Canh Thin)
với số lượng Phật tử tham dự là 313 vị. Đây là một
mô hình tổ chức khá mới lạ, nên dù đã mở được 6 khóa
tu, và số Phật tử đến tham dự ngày càng đông, nhưng vẫn
có nhiều người chưa hiểu rõ được về ý nghĩa của khóa
tu.
Khóa
tu Phật thất lần đầu tiên được tổ chức tại chùa Hoằng
Pháp từ ngày 2-5 đến 9-5-1999 (17-3 đến 24-3 Kỷ Mão) với
số lượng 68 Phật tử tham dự. Đến nay là khóa thứ 6 được
tổ chức từ ngày 17-9 đến 24-9-2000 (20-8 đến 27-8 Canh Thin)
với số lượng Phật tử tham dự là 313 vị. Đây là một
mô hình tổ chức khá mới lạ, nên dù đã mở được 6 khóa
tu, và số Phật tử đến tham dự ngày càng đông, nhưng vẫn
có nhiều người chưa hiểu rõ được về ý nghĩa của khóa
tu.
Nay,
nhân buổi pháp thoại này, chúng tôi xin được giảng giải
về ý nghĩa và mục đích của khóa tu Phật thất, để quý
vị hiểu thật rành rõ, khi đó mới có thể phát lòng chánh
tín và chí tâm thực hành để đem lại lợi ích cho mình,
cho người.
I.
Ý
nghĩa Phật thất
Chữ
“Phật” có nghĩa là niệm Phật. Chữ “Thất” có nghĩa
là 7. Như vậy “Phật thất” có nghĩa là 7 ngày tu tập niệm
Phật.
Quý
vị nên phân biệt rõ sự khác nhau giữa hai từ “Phật thất”
và “nhập thất”. “Nhập thất”, nghĩa chữ thất ở đây
là nhà. Nhập thất là chỉ có một người tu tập riêng biệt
trong căn nhà một thời gian nào đó tùy theo sự phát nguyện.
Còn Phật thất là một tập thể gồm nhiều người cùng tu
tập niệm Phật trong thời gian 7 ngày tại tự viện.
Phật
thất cũng có thể xem là đoản kỳ xuất gia và cũng là một
dạng biến thể của Bát quan trai giới. Bát quan trai giới
là hành giả phát nguyện tu trong 1 ngày 1 đêm. Còn Phật thất
thì thời gian tu tập trong suốt 7 ngày 7 đêm. Đoản kỳ xuất
gia là một loại hình thức xuất gia ngắn ngày, suốt trong
thời gian 7 ngày ở tại chùa, người cư sĩ tại gia cố gắng
tu tập giống như đời sống phạm hạnh của người tu sĩ
xuất gia.
II.
Nguyên
nhân và vấn đề tổ chức
Mô
hình Phật thất do người Trung Quốc tổ chức đầu tiên.
Có lẽ họ căn cứ theo kinh A Di Đà : “Nếu có người thiện
nam thiện nữ nghe nói về Phật A Di Đà, chuyên trì danh hiệu,
hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu
ngày, bảy ngày nhất tâm không loạn, người ấy khi chết
được Phật A Di Đà và Thánh chúng hiện ở trước. Người
này khi chết tâm không điên đảo liền được vãng sinh về
cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà”.
Từ
đó, các bậc Tổ sư Trung Quốc đã nghĩ ra mô hình Phật thất
nhằm tạo điều kiện cho Phật tử tại gia đến chùa tu tập
trong 7 ngày để tinh tấn niệm Phật đạt đến chỗ nhất
tâm bất loạn.
Còn
ở Việt Nam, Phật thất có từ lúc nào và được tổ chức
ở đâu, thì chúng tôi không biết chắc chắn, nhưng tại Thành
phố Hồ Chí Minh, có lẽ chùa Hoằng Pháp là nơi tổ chức
mô hình Phật thất đầu tiên.
Nguyên
nhân nào mà chúng tôi tổ chức khóa tu Phật thất này ? Trước
đây chúng tôi có hoài bão làm thế nào tổ chức được một
đạo tràng tu học có quy củ nề nếp, dành cho Phật tử tại
gia. Khi tìm hiểu về các khóa tu học của Phật giáo Đài
Loan qua sách vở, nhất là thông tin của Phật Quang Sơn, trong
lòng chúng tôi rất cảm mộ và ao ước có dịp nào được
đến đó chiêm bái và học hỏi thêm kinh nghiệm tổ chức
của Phật giáo nước bạn.
Thế
rồi một nhân duyên đã đến, thầy Minh Hiệp du học bên
Đài Loan về chơi, có ghé thăm chùa Hoằng Pháp. Thầy mời
chúng tôi qua Đài Loan dự lễ khánh thành tháp Phật Đà Xá
Lợi do Thượng tọa Thích Quảng Tâm xây dựng. Nhân chuyến
đi này chúng tôi có đến thăm Phật Quang Sơn. Hôm đó chúng
tôi được tham dự một thời công phu khuya, nhận thấy từ
cách xếp hàng, đi đứng đến việc tụng kinh, từng động
tác lễ lạy của đại chúng đều được thể hiện rất
trang nghiêm. Chắc chắn họ phải trải qua một quá trình luyện
tập thật kỹ mới được như vậy.
Sau
đó, chúng tôi đến chùa Linh Nham của Hòa thượng Diệu Liên.
Hòa thượng là một trong những vị cao tăng chuyên tu về pháp
môn Tịnh độ. Ngài đã nhiều lần nhập thất tu pháp Ban
Chu tam muội, thời gian mỗi lần nhập thất là 90 ngày không
ngồi, không nằm, không ngủ, chỉ đi đứng niệm Phật. Khi
chúng tôi đến thấy khoảng gần 1000 Phật tử đang niệm
Phật tại chánh điện, âm thanh niệm Phật của họ trầm
bổng du dương, và động tác lễ lạy, đứng lên ngồi xuống,
kinh hành của họ rất nhịp nhàng thuần thục. Quả thật
công lao của chư Tăng huấn luyện cho Phật tử tu tập được
như vậy là điều rất đáng phục, đáng để cho chúng ta
học hỏi.
Được
chứng kiến tận mắt, chúng tôi có suy nghĩ, so với Phật
giáo Đài Loan, Phật giáo Việt Nam đã có bề dày lịch sử
hơn 2000 năm, nhưng nhìn lại về hình thức tổ chức tu học
của Phật tử tại gia thì lại thua kém rất nhiều. Điều
này khiến cho chúng tôi băn khoăn suy nghĩ, làm thế nào để
đưa vấn đề tu tập của Phật tử chúng ta nâng cao lên,
nhằm đạt được một trình độ nào đó, mặc dù chưa nói
về tâm linh, chỉ riêng về mặt hình thức thôi thì cũng cần
phải có một tổ chức để đưa Phật tử vào khuôn khổ
nề nếp.
Chúng
tôi rất muốn thực hiện mô hình tu học đó, nhưng không
biết cách thức tổ chức như thế nào. Vì thời gian thăm
viếng của chúng tôi lại quá ngắn ngủi, chỉ mới được
nhìn ngó sơ sơ qua sự sinh hoạt, chưa tiếp xúc được nhiều,
chưa nắm được một cái gì cụ thể hết thì làm sao tổ
chức được. Cần phải có thời gian lâu dài ở tại chỗ,
quan sát cách thức sắp xếp, điều hành như thế nào thì
mới học hỏi được nhiều cái hay.
Nhưng
khi chúng tôi hoài bão một việc gì thì nhất quyết phải
làm cho bằng được. Với nhiệt tâm đó, chúng tôi trình bày
với hai vị Thượng tọa Chánh và Phó Ban Đại diện Phật
giáo huyện Hóc Môn về việc tổ chức mô hình Phật thất
để tạo điều kiện cho Phật tử tu tập. Khi nêu ý kiến
này ra thì cả hai vị Thượng tọa đều rất hoan hỷ và chấp
nhận coi đó là Phật sự của Ban Đại diện Phật giáo huyện
Hóc Môn.
Sau
khi thống nhất ý kiến, Ban Đại diện quyết định đứng
ra xin phép tổ chức, và địa điểm khóa tu Phật thất được
đặt tại chùa Hoằng Pháp, do chùa Hoằng Pháp chịu trách
nhiệm đảm nhận khâu tổ chức. Sau đó, chúng tôi lên xin
phép Thành hội Phật giáo TP.HCM, khi mới nghe qua thì chư tôn
đức lãnh đạo thấy cũng hơi lạ, nhưng sau khi nghe chúng
tôi giải thích cặn kẽ, quý ngài cũng hoan hỷ đồng ý cho
tổ chức.
Về
mặt chính quyền, khi đưa đơn xin phép thì Ban Tôn giáo huyện
Hóc Môn cũng thấy hơi lạ, nhưng do đây là một Phật sự
của Ban Đại diện nên Ban Tôn giáo thấy không có gì trở
ngại, và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ Ban Đại
diện Phật giáo huyện Hóc Môn tổ chức khóa tu Phật thất.
Trong buổi lễ khai khóa tu Phật thất đầu tiên, ông Nguyễn
Kim On, Phó Ban Tôn giáo huyện Hóc Môn, phát biểu rằng : “Hôm
trước Ban Đại diện có gởi đơn để xin tổ chức khóa
tu, nhưng tôi thấy sao cái này nó lạ quá, trước đây tổ
chức tu Bát quan trai chỉ có 1 ngày 1 đêm, mà bây giờ tổ
chức tu Phật thất tới 7 ngày 7 đêm. Tôi mới suy nghĩ lại
hình như trong kinh Di Đà có câu nhất nhật, nhị nhật, thất
nhật gì đó, như vậy trong kinh nói là tu 7 ngày, chắc là
quý vị tổ chức tu 7 ngày đây…”. Câu nói này khiến mọi
người hiện diện trong khóa tu đều cảm động và hoan hỷ.
Như
vậy, bước thứ nhất là Giáo hội, bước thứ hai là chính
quyền, tức là về mặt pháp lý, mọi việc tương đối được
ổn định rồi.
Còn
về phía nhà chùa, để tạo điều kiện thuận lợi cho một
số đông Phật tử tập trung về tu tập trong nhiều ngày,
thì trước nhất đòi hỏi phải có đầy đủ tiện nghi sinh
hoạt như chỗ ăn, chỗ ngủ, nhà vệ sinh…; rồi kéo theo
nhiều thứ như mùng mền, chiếu gối v.v…. Những thứ này
có thể giải quyết được, nhưng cái đáng lo nhất là việc
tổ chức thời khóa tu tập cho Phật tử như thế nào để
ổn định và đạt được kết quả tốt đẹp. Sau đó chúng
tôi có mời Sư Ngộ Chơn Thành trụ trì chùa Giác Hạnh ở
Mỹ Tho, Tiền Giang đến cùng bàn bạc và đề ra chương trình
tu học.
Chúng
tôi phải tập trung quý thầy lại để tập niệm Phật, suốt
mấy ngày cũng chưa chọn ra được cách niệm Phật nào cho
thích hợp. Rồi lại phải lo sắp xếp mọi việc ăn uống,
ngủ nghỉ, vệ sinh sao cho chu đáo, nhất nhất việc gì cũng
đều mới lạ cả.
Mọi
việc đã được sắp đặt xong xuôi. Chúng tôi còn lo một
điều nữa là không biết có ai đến tu không ? Vì tu Bát quan
trai một ngày một đêm đã là khó rồi, còn tu Phật thất
đòi hỏi tới bảy ngày bảy đêm thì không dễ gì có người
đủ điều kiện tham dự.
Nhưng
rồi do nhân duyên tốt đẹp, khóa tu đầu tiên được gần
70 người tham dự. Mặc dù là lần đầu tiên tổ chức khóa
tu Phật thất, nhưng chúng tôi đã đưa ra những nội quy cùng
thời khóa tu tập khá nghiêm ngặt. Từ hạt nhân 70 người
này có lẽ sau khi tu tập khóa Phật thất đầu tiên chắc
đạt được nhiều điều hay và lợi ích, nên mới giới thiệu
với bạn bè. Đến khóa 2 số lượng tăng gấp đôi gần 150
người. Và đến khóa 6 này thì đã hơn 300 vị.
Đến
khóa 3, chúng tôi có nghe một Phật tử nói chùa Nhất Nguyên
ở Bình Dương cũng tổ chức tu niệm Phật 100 ngày. Chúng
tôi liền đến tận nơi tham khảo để học tập rút kinh nghiệm
cho tổ chức của mình. Chúng tôi được biết khóa niệm Phật
bá nhật này được tổ chức từ trước năm 1975, cứ mỗi
năm tổ chức một lần kéo dài tới ngày vía Phật A Di Đà
thì kết thúc. Về thời khóa tu tập, thì thấy họ luân phiên
niệm Phật suốt ngày đêm, có tính chất tự do. Sau khi quan
sát kỹ cách tu hành này, chúng tôi thấy tổ chức niệm Phật
như thế rất hay nhưng không thể đưa mọi người vào khuôn
khổ nề nếp được.
Khóa
6 này chúng tôi dự định nhận khoảng 250 người thôi. Khi
Phật tử đăng ký đã đủ số lượng như dự định, chúng
tôi đã ngưng không nhận nữa, nhiều vị cứ điện thoại
về xin mãi. Cuối cùng chúng tôi bàn với quý thầy là người
ta ham tu quá, cũng phải tạo điều kiện cho họ tu thôi. Về
phía nhà chùa thấy quý vị về tu đông thì rất hoan hỷ.
Nhưng sau cái vui là cái lo, lo là không tạo được mọi điều
kiện thuận lợi tốt đẹp để cho các vị tu. Vì khi quý
vị về đây tu tập đông đảo mà chỗ ăn chỗ ngủ không
được chu đáo, không biết quý vị có hoan hỷ không, hay là
đôi khi do chật hẹp lại sinh phiền não thì uổng công tu
tập quá.
Để
đáp ứng nhu cầu tu học ngày càng đông của quý vị, chúng
tôi đã nới rộng thêm nhà ăn, nhà vệ sinh, và đang tiến
hành xây dựng một dãy nhà ngang 14m, dài 38m, một trệt hai
lầu với sức chứa khoảng hơn 600 người. Nhưng rồi không
biết trong tương lai những cơ sở vật chất ấy có đủ để
phục vụ cho nhu cầu tu học của quý vị không ?
III.
Mục
đích của khóa tu Phật thất
Khi
đưa ra mô hình khóa tu Phật thất tại Việt Nam, chúng tôi
nhằm vào mục đích : Để giúp cho những Phật tử tại gia
có điều kiện thuận lợi cắt bớt trần duyên, đến chùa
tu tập hầu thúc liễm thân tâm, trau giồi giới đức, nhất
tâm niệm Phật, chứng nghiệm sự an lạc trong giáo pháp của
Phật.
1.
Cắt
bớt trần duyên
Trần
có nghĩa là bụi bặm; cắt bớt trần duyên nghĩa là cắt
bớt cái duyên bụi bặm. Thường người ta gọi là trần thế
hay thế gian, để chỉ cho cõi đời này. Tại sao lại gọi
cõi đời này là bụi bặm ? Trong kinh A Di Đà, Đức Phật
cũng nói cõi đời này là ngũ trược : kiếp trược, kiến
trược, phiền não trược, chúng sinh trược, mạng trược,
là năm thứ dơ bẩn…
Vì
trong cuộc đời này chúng ta thường đắm chìm vào năm thứ
ham muốn (ngũ dục) là tiền tài, sắc đẹp, danh lợi, ăn
ngon, ngủ kỹ. Đó là những thứ mà con người chúng ta bị
lệ thuộc, bị ràng buộc vào đó. Từ những thứ ham muốn
đó nó lôi kéo chúng ta đi vào cái vòng tham, sân, si, phiền
não, nối tiếp theo muôn ngàn điều ác. Vì muốn có được
tiền tài, sắc đẹp, danh lợi mà chúng ta phải lao vào tính
toán, thậm chí gây ra biết bao tội lỗi để phục vụ cho
ngũ dục.
Vấn
đề mà chúng ta thấy trong thế gian ít ai tránh khỏi, đó
là nghiệp nhà, nghiệp gia đình, vợ chồng, con cái, từ cái
nghiệp nhà này đã gây biết bao nhiêu điều phiền toái, bất
hạnh xảy ra.
Cho
nên người đời thường nói : “Con là nợ, vợ là oan gia,
cửa nhà là nghiệp báo”. Tuy biết đó là nghiệp báo, là
oan gia, nhưng người đời vẫn cứ ham thích. Vẫn biết nghiệp
nhà là nghiệp phiền não, nghiệp đau khổ, nhưng mà hình như
người ta vẫn không sao tránh được nó. Vì đã vướng vào
vòng tình ái thì bao nhiêu dây oan gia nghiệp chướng cứ theo
đó mà phát sinh, kéo dài mãi, cứ nối tiếp như vậy không
bao giờ ngừng nghỉ, gây cho ta một cái vòng oan nghiệt đau
khổ luân hồi. Như bài kệ sau đây của ngài Thanh Sĩ :
Nghiệp
cha mới vừa buông con bắt
Hết
cháu rồi kế chắt nối truyền
Cứ
như thế đó lưu liên
Gây
nên một mối thảm duyên nhiều đời
Cha
mẹ chết con rơi nước mắt
Con
chết thì cháu chắt khóc ròng
Vợ
thì chan chứa vì chồng
Chồng
thì vì vợ đôi dòng lệ rơi
Nước
mắt ấy từ đời vô thỉ
Bốn
biển to đem ví không cùng
Tử
sinh sinh tử không ngằn
Dây
oan đáng sợ, nợ trần đáng ghê
Như
chúng tôi đã trình bày, cái nghiệp gia đình đã ràng buộc
chúng ta không những đời này mà là nhiều đời nhiều kiếp
rồi, muốn thoát ra khỏi cái vòng luân hồi sinh tử, muốn
cắt bỏ dây oan gia nghiệp chướng này không phải dễ dàng
đâu. Nếu chúng ta không đại hùng đại lực thì không thể
cắt được. Như câu :
Ái
bất trọng bất sinh Ta bà
Niệm
bất nhất bất sinh Tịnh độ.
Có
nghĩa là nếu chúng ta không có tình cảm luyến ái thì chúng
ta không sinh ở cõi Ta bà này. Vì tình cảm luyến ái đó mà
chúng ta phải sinh vào cuộc đời này luẩn quẩn hết làm
người, đến làm thú trong dục giới không bao giờ nhàm chán.
Và nếu chúng ta niệm Phật mà không chuyên tâm, nhất tâm
bất loạn thì không thể sinh về cõi Phật được.
Cho
nên cái tình cảm, cái luyến ái của gia đình thế gian là
lối sống quen thuộc của con người. Từ đó gây nên bao nghiệp
chướng nặng nề, khiến bị chìm đắm trôi lăn mãi trong
biển khổ luân hồi sinh tử.
Người
tu muốn chấm dứt khổ lụy tái sinh thì phải lập chí mạnh
bước ra khỏi mọi trói buộc hệ lụy về năm thứ ham muốn.
Phải biết tu tập xả ly, cắt đứt không luyến tiếc bất
cứ cái gì, gắng công tập buông bỏ mọi lo nghĩ, mọi bám
víu quá nặng về vật dục, siêng năng tháo gỡ từng hồi,
từng chút mọi đeo níu vào cái tình cảm ham thích dục lạc
đó.
Cho
nên khóa tu Phật thất này là để tạo điều kiện cho quý
vị tập cắt bớt trần duyên. Nếu quý vị chưa thể cắt
được trọn vẹn, thì tập cắt 7 ngày. Như vậy khi đến
đây, quý vị có còn nghĩ gì đến chuyện gia đình nữa hay
không, cái đó đòi hỏi ở tâm tư của mỗi vị phải khẳng
định và cố gắng buông hết, đừng có còn nghĩ gì hết.
Ông
Lê Văn Bái có lẽ cũng thao thức trong vấn đề cuộc sống
và muốn cắt đứt trần duyên nên đã làm bài thơ sau :
Phù
thế đã nhiều duyên nghiệp quá
Lệ
lòng mong cạn chốn am không
Cửa
thiền một đóng duyên trần dứt
Quên
hết người quen chốn bụi hồng
2.
Thúc
liễm thân tâm
Thúc
liễm thân tâm có nghĩa là cột trói thân tâm. Quý vị thường
nghe nói trong kinh Đức Phật ví tâm chúng ta là “tâm viên,
ý mã”. Có nghĩa là tâm của chúng ta vốn buông lung phóng
túng, lăng xăng nghĩ tưởng đủ thứ không ngừng, ví như
con khỉ leo trèo nhảy nhót không biết chán, ý thức chạy
rong không bờ bến giống như ngựa chạy.
Quý
vị khi ở ngoài muốn làm gì thì làm, muốn ăn thì ăn, muốn
ngủ thì ngủ, đi lại tự do, buông lung phóng túng. Khi vào
đây tu tập, chúng tôi tạo điều kiện để cho quý vị thúc
liễm thân tâm, nghĩa là cột trói thân tâm lại bằng những
giới luật, bằng những thời khóa tu tập. Chẳng hạn như
quý vị chịu ngồi đây từ sáng đến giờ là đã cột thân
lại ở đây rồi, nếu để tự do có lẽ quý vị đã không
chịu ngồi yên.
Trong
khóa tu Phật thất, pháp tu của chúng ta là niệm Phật. Trong
lúc niệm Phật, thân chúng ta ngồi yên, miệng niệm Phật,
ý chúng ta có chăm chú vào câu niệm Phật, nhớ tưởng đến
Phật thì tâm chúng ta không vọng tưởng điên đảo hay lăng
xăng nghĩ nhớ điều xấu gì khác, vì nhờ câu niệm Phật
thúc liễm tâm chúng ta lại.
Vì
thế, chúng tôi thường xuyên nhắc nhở quý vị chú tâm vào
từng động tác đi đứng, ăn uống… trong mọi sinh hoạt,
thì mới có thể thúc liễm được cả thân và tâm.
Trong
nhà Thiền thường sử dụng mười bức tranh chăn trâu để
cụ thể hóa cho việc điều chỉnh tâm, rèn luyện tự tánh
của chính ta từ lúc khởi điểm cho đến khi thành đạo hoàn
mãn. Con trâu lúc ban đầu là trâu đen còn hung hăng chưa thuần
thục, tượng trưng cho vọng tưởng điên đảo của chúng
ta cứ lướt đi mãi không bao giờ dừng nghỉ. Muốn chế ngự
sai sử được trâu, mục đồng phải lấy dây xỏ mũi nó,
lại phải có cái roi để canh chừng dọa nạt. Hễ nó mà
đi sai thì nắm mũi kéo lại, còn bướng quá thì lấy roi quất
để răn đe. Cho tới chừng nào trâu đã chịu phép, người
chăn mới bỏ dây bỏ roi. Khi trâu đã thuần phục, lúc đó
mục đồng mới hoàn toàn thảnh thơi ngắm nhìn bốn bề bát
ngát trời xanh mây trắng.
3.
Trau
giồi giới đức
Khi
vào đây tu học là chúng ta học cái hạnh làm Phật, tu cái
hạnh để thành Phật. Phần đông, khi được hỏi tu để
làm gì, thì hầu như không ai dám trả lời là tu để thành
Phật. Như Đức Phật dạy : “Tất cả chúng sinh đều là
Phật sẽ thành”, nghĩa là tất cả chúng sinh đều có khả
năng thành Phật. Cho nên mục đích của chúng ta học Phật,
tu Phật là để thành Phật, nhưng còn thời gian bao lâu mới
thành được là do sự quyết tâm của mỗi người.
Đức
Phật là bậc lưỡng túc tôn, đầy đủ phước đức, trí
tuệ, là một con người toàn diện về nhân cách, nghĩa là
ba nghiệp thân khẩu ý của Đức Phật là hoàn toàn thanh tịnh
trang nghiêm.
Chúng
ta trau giồi ba nghiệp thân khẩu ý của chúng ta cho được
thanh tịnh như Đức Phật tức là trau giồi giới đức. Bởi
vì ba nghiệp đó nếu được thanh tịnh thì chúng ta mới có
an lạc. Chúng tôi thường nhắc quý vị cố gắng chăm chú
vào tất cả mọi oai nghi cử chỉ động tác để từ đó
mà có chánh niệm giúp cho ba nghiệp của quý vị được thanh
tịnh,
Ở
ngoài thế gian, các vị thấy tư cách của một ông thầy giáo
phải khác với người đạp xích lô, hay một vị nguyên thủ
quốc gia, tư cách lại khác hơn người thường. Vì họ là
bậc đại diện mẫu mực của quốc gia, cho nên từ cái ăn
cái nói, cái đi cái đứng đều phải hết sức cẩn thận
trang nghiêm nhằm thể hiện cái gì đó khiến mọi người
nhìn vào phải mến phục cung kính.
Còn
Đức Phật là bậc đầy đủ phước đức, trí tuệ, đạo
đức cao thượng đương nhiên nói về nhân cách oai nghi thì
Ngài hơn họ rất nhiều. Còn chúng ta về đây tu học để
làm Phật, thì từ lời nói, suy nghĩ, việc làm cho đến tư
cách phải thể hiện giống như Phật, vì “con nhà tông không
giống lông cũng giống cánh”, đi tu Phật mà không giống
Phật thì không phải là con Phật. Cho nên, ngoài việc chuyên
tâm niệm Phật, chúng ta còn cần phải chăm chú về oai nghi.
Vì vậy chúng tôi thường hay nhắc nhở quý vị khi đi đứng
ngồi nằm, lúc ăn uống, hoặc khi chắp tay, khi kinh hành cần
cố `tử.
Thí
dụ khi làm bánh, muốn có loại bánh tròn thì phải dùng khuôn
tròn, muốn có loại bánh vuông thì phải dùng khuôn vuông.
Còn muốn làm Phật thì chúng ta phải khép mình vào khuôn khổ,
vào giới luật của Đức Phật đã chế, có làm đúng như
thế thì sau này chúng ta mới có thể làm Phật, mới thành
Phật được. Chúng ta muốn tu Phật, học Phật, thành Phật
mà đi ngược lại giáo lý, giới luật và oai nghi của Đức
Phật là không được, vì “Thầy nào trò nấy”.
Khi
đến đây là quý vị phải theo ở đây, vì khuôn khổ, nội
quy ở đây là như vậy rồi, quý vị không thể tự chế ra
cái của mình rồi cho là mình đúng bắt chùa phải theo. Chúng
tôi khép quý vị vào nội quy, vào khuôn khổ là để quý vị
trau giồi giới đức. Nếu quý vị chú tâm vào từng động
tác từng cử chỉ thì thói quen buông lung trước đây của
quý vị sẽ có sự thay đổi rất nhiều. Khi giới đức của
quý vị tốt đẹp tức là ba nghiệp thân khẩu ý của quý
vị sẽ được thanh tịnh. Như trong bài thơ của Viên Minh
dưới đây :
Học
đạo quý vô tâm
Làm
nói nghĩ không lầm
Sáng
trong và lặng lẽ
Giản
dị mới uyên thâm
Nghĩa
là làm, nghĩ, nói thuộc về ba nghiệp thân khẩu ý lúc nào
cũng tỉnh giác, giữ vững chánh niệm, không bị lầm lạc
thì không gây ra tội lỗi, đau khổ cho mình và cho người.
Mọi hành động cử chỉ đi đứng không phóng túng, thô tháo,
bớt ăn nói ồn ào cũng là cách định tâm lắng ý. Những
ngày tu tập này chính là những ngày phản tỉnh cần thiết.
Đó là dịp thuận tiện để ta đi sâu vào nhất tâm bất
loạn.
4.
Nhất
tâm niệm Phật
Nhất
tâm niệm Phật là đem hết ý chí vào câu niệm Phật. Nếu
miệng niệm Phật mà trong tâm vọng tưởng lăng xăng thì khó
được lợi ích thiết thực.
Khi
đặt ra khóa tu Phật thất chúng tôi đã bàn bạc rất kỹ
việc tổ chức như thế nào đó để tạo điều kiện thuận
lợi cho quý vị khỏi phải bận tâm về ăn uống, ngủ nghỉ,
để quý vị có thời gian tu tập, chú tâm vào việc niệm
Phật nhiều hơn. Ngoài thời khóa niệm Phật ở trên chánh
điện, chúng tôi còn mở băng niệm Phật để quý vị nghe
tiếng niệm Phật, lúc nào cũng nhớ Phật tưởng Phật.
Tuy
nhiên trong thời khóa quý vị còn ổn định chăm chú niệm
Phật, chứ ngoài thời khóa quý vị lại không chú tâm nữa,
cứ ngồi lại với nhau để nói chuyện, thấy uổng lắm.
Vậy mọi người hãy cố gắng nhiếp tâm niệm Phật. Nếu
tu mà không nhiếp tâm thì không thành tựu được, coi như
chỉ mới bước vào tới cổng thôi.
Muốn
về Tịnh độ thì phải nhất tâm bất loạn. Mà muốn nhất
tâm bất loạn thì ngay đây, bây giờ phải thực tập nó bằng
công khóa và quán chiếu để lập chí hăng hái.
Nhất
tâm bất loạn có dễ không ? Trong thời khóa niệm Phật chúng
ta còn chưa chắc nhiếp tâm được, huống chi trong lúc buông
lung phóng túng. Chúng ta thấy đơn giản nhưng thực không đơn
giản đâu, như ngài Thanh Sĩ có bài kệ :
Ngồi
niệm Phật thì ai cũng niệm
Nhất
tâm không xao xuyến ít người
Tâm
như chong chóng giữa trời
Phật
thì một niệm còn mười niệm ma
Các
việc xấu nhớ ra trước nhất
Kế
tay chân buồn bực mỏi mê
Rồi
ma buồn ngủ chạy về
Phật
không niệm tới khói mê phủ vào
Chẳng
cần hỏi ông nào cũng biết
Niệm
thế bao giờ Phật chứng cho
Ví
như nồi gạo mới vo
Bắc
lên nhắc xuống bao giờ chín cơm
Bất
cứ việc gì ở đời muốn thành công cũng đều phải trải
qua sự gian khổ rèn luyện, như người làm trò xiếc, họ
cũng phải khổ luyện lâu ngày mới biểu diễn hay tuyệt như
thế. Tu cũng vậy, phải trải một quá trình gian khổ để
huấn luyện tâm ý, chớ một sớm một chiều thì chưa ăn
thua gì. Pháp tu nào cũng luôn luôn đòi hỏi sự siêng năng
vô hạn từ đêm đen đến ngày trắng mới mong có kết quả
sáng chói. Cho nên sự nhất tâm bất loạn đòi hỏi sự quyết
tâm nhiều lắm, phải kiên trì, nhẫn nại mới có thể thành
công được. Như lời Thiền sư Hoàng Bá Hy Vân :
“Nếu
chẳng một phen xương lạnh buốt,
Hoa
mai đâu dễ ngửi mùi hương”.
Theo
kinh nghiệm tu hành của chúng tôi, chúng ta khó nhất tâm được
là do chúng ta đã tạo bao nhiêu nghiệp chướng từ nhiều
đời nhiều kiếp. Do nghiệp chướng nặng nề nên khi niệm
Phật tâm dễ sinh loạn tưởng. Tu tới khi nào nghiệp chướng
nhẹ lần cho đến tiêu tan hết thì chúng ta mới có thể thanh
tịnh, mới vào chánh định được. Không phải một sớm một
chiều mà chúng ta có thể thực hiện được sự nhất tâm
bất loạn. Nên chúng ta đừng coi thường pháp niệm Phật
này. Vì pháp niệm Phật là một pháp tu rất thù thắng nhằm
trợ duyên cho chúng ta nhiếp tâm để mà tiêu trừ nghiệp
chướng.
Thí
dụ chúng ta trồng cây mít, mong muốn chừng một tháng sau
cây có trái, có được hay không ? Đương nhiên là không được
rồi. Vì khi ta gieo hạt cho đến khi cây trổ trái, còn đòi
hỏi bao nhiêu điều kiện tối thiểu cần thiết, chưa kể
hạt giống có thể bị hư do sâu rầy, thời tiết hoặc hạt
giống của chúng ta không tốt.
Việc
tu hành cũng vậy, phải có quá trình thời gian. Nhân mới gieo
mà muốn có quả, quả đâu ra liền. Mới tu muốn thành Phật
ngay thì sao mà thành được. Tiến trình từ lúc gieo nhân đến
kết quả còn tùy thuộc vào duyên lực, hoàn cảnh, điều
kiện thích hợp và nhất là ý chí con người. Quá trình chúng
ta tu đến khi thành Phật không dễ dàng đâu. Chúng tôi rất
tâm đắc bài kệ sau :
Đốn
ngộ tuy đồng Phật
Đa
sinh tập khí thâm
Phong
đình ba thượng dũng
Lý
hiện niệm du xâm
Hai
câu đầu ý nói Phật tánh của ta với Đức Phật đồng nhau,
giống nhau, nhưng chúng ta lại khác Phật ở chỗ Đức Phật
đã tích lũy công đức tu hành trong nhiều đời, còn chúng
ta từ vô thỉ kiếp đã tạo biết bao nhiêu tội lỗi, nghiệp
chướng trần lao nên tập khí của chúng ta quá sâu dầy rồi.
Câu
thứ ba của bài kệ đưa ra hình ảnh một cơn gió mạnh thổi
đến, mặt biển sóng dậy lên, gió đi qua rồi làn sóng vẫn
chưa ngưng liền được, cứ dập tới dập lui cho đến khi
hết cái trớn mới dừng lại được. Câu thứ tư có nghĩa
là lý Phật tánh của chúng ta lúc nào cũng vẫn có sẵn đó
nhưng mà cái niệm điên đảo vọng tưởng vẫn còn, nghĩa
là chúng ta muốn dừng cái nghiệp chướng nhiều đời nhiều
kiếp nhưng mà chưa dừng được, cũng giống như gió dừng
nhưng sóng chưa dừng vậy.
Chúng
ta giác ngộ rồi, biết tu Phật thành Phật như vậy rồi,
đốn ngộ như Phật rồi, nhưng nghiệp chướng nhiều đời
nhiều kiếp của chúng ta chưa cho chúng ta yên. Cái dòng tâm
thức của chúng ta đang sôi trào cuồn cuộn như sóng bay khắp
chân trời mặt đất trong tâm ta, không bao giờ ngừng nghỉ
phút nào, muốn dừng cho yên thì không dễ đâu. Chúng ta phải
hiểu điều này và cố gắng tu tập để cho nghiệp chướng
tiêu trừ dần dần, cũng như làn sóng giảm từ từ rồi mới
yên. Khi sóng nghiệp từ từ lặng yên, lúc đó tự nhiên chúng
ta sẽ vào được định. Phải cố gắng kiên trì đừng có
nản, nếu chán nản bỏ nửa chừng thì lại càng tệ hại
hơn. Đã biết nghiệp lực sâu dầy thì càng phải cố gắng
tu, nay không được, mai không được, càng phải quyết tâm
vững chắc nhiều hơn nữa thì cũng có ngày nghiệp chướng
tiêu trừ, vọng tưởng điên đảo không còn, chúng ta sẽ
dễ dàng nhất tâm.
Pháp
nhiếp tâm không gì hơn phải chí thành khẩn thiết. Nếu tâm
chẳng chí thành mà muốn nhiếp thì khó có thể được. Khi
được nhất tâm rồi, tâm cùng Phật hợp nhau, tâm cùng đạo
hòa nhau thì mình và Phật không xa. Cho nên mục đích của
người tu Phật thất phải quyết tâm đạt cho được sự
nhất tâm.
5.
Chứng
nghiệm sự an lạc
Thực
hiện được bốn điều cắt bớt trần duyên, thúc liễm thân
tâm, trau giồi giới đức và nhất tâm niệm Phật, thì chúng
ta sẽ đạt được mục đích cứu cánh là chứng nghiệm sự
an lạc. Trong bài thơ chúc mừng Phật thất, chúng tôi có nêu
lên cái ý như vầy :
Bảy
ngày tu tập cùng chung
Thân
tâm thanh tịnh cõi lòng thảnh thơi
Miệng
luôn nở nụ cười tươi
Uống
ăn đi đứng nằm ngồi trang nghiêm
Bước
chân mỗi bước tự nhiên
Kinh
hành niệm Phật não phiền tiêu tan
Âm
thanh trầm bổng ngân vang
Hòa
theo tiếng mõ nhịp nhàng xuống lên
Bụi
trần vọng tưởng đảo điên
Lặng
yên theo tiếng kinh thiền ngân nga
Nam
mô Đức Phật Di Đà
Tây
phương Cực lạc không xa tâm mình
Trong
7 ngày tu tập quý vị cố gắng trau giồi giới đức, tinh
tấn niệm Phật để thực hiện được sự trang nghiêm. Có
trang nghiêm rồi thì sẽ đưa đến thanh tịnh tức là không
còn phiền não nữa. Có trang nghiêm, có thanh tịnh, có tinh
tấn, có nhất tâm chúng ta mới chứng nghiệm được sự an
lạc ngay trong cuộc sống hiện tại.
Ta
trôi nổi trong nội thức suy tư và đối tượng bên ngoài
suốt tháng năm, bồng bềnh theo cơn vui buồn giận ghét. Chúng
ta không tự cứu mình trước bằng cách phản tỉnh làm lắng
sạch tâm ý thì đâu có ai làm cho mình được. Nên chúng ta
cần phải trút bỏ lại mọi lo toan trần thế, tự hứa gom
mình vào định hướng tu tập.
Nếu
lòng thanh thản không lo nghĩ
Ấy
buổi êm đềm chốn thế gian
Chúng
ta tu đến khi nào đạt được sự an vui thì mới về được
cõi Cực lạc. Vì Tây phương Cực lạc được gọi là cõi
Tịnh độ – Tịnh độ : độ là cõi, tịnh là thanh tịnh,
Tịnh độ là cõi thanh tịnh – Chúng ta muốn về cõi Tịnh
độ thì chúng ta phải thanh tịnh, còn tâm cứ bực tức, phiền
não, buồn giận thì không về được Tịnh độ. Phật là
thanh tịnh, cho nên ta cũng phải thanh tịnh thì việc đến
với Phật không còn xa.
Nếu
không quyết liệt lập chí, thì ta không về Cực lạc được.
Do vậy tu Tịnh độ cũng phải lập nguyện thiết tha vô hạn
như kẻ tha hương chí cốt muốn về yên nghỉ nơi cố hương.
Nhưng điều cần thiết nhất là phải tin sâu chắc, nguyện
tha thiết mới cảm thông với Phật, mới có thể quyết định
hiện đời ra khỏi Ta Bà sinh về Cực Lạc.
Tóm
lại, trên đây chúng tôi đã trình bày rõ ràng về ý nghĩa
và mục đích của khóa tu Phật thất. Đến nay, mô hình Phật
thất đang trên đường phát triển mạnh. Ngoài việc tổ chức
tu Phật thất mang tính tập thể ra, chúng tôi cũng đang xây
dựng mô hình tu nhập thất cá nhân. Hiện tại chúng tôi đã
xây dựng được 6 cái thất. Trong hướng tới, chúng tôi sẽ
thực hiện việc tu nhập thất, và pháp tu này đòi hỏi người
tu phải có bản lĩnh và phải có sự quyết tâm cao. Mong rằng
sau này chúng tôi sẽ được đón tiếp các Phật tử phát
nguyện chuyên tâm tu học để đạt được kết quả an vui
giải thoát.
Chúng
tôi rất mừng là Khóa tu Phật thất đã tạo ra một sinh khí
tu học mới, từng bước đưa Phật tử vào trong khuôn khổ
nề nếp của sự tu tập, khi đi đến đâu cũng thể hiện
được sự trang nghiêm thanh tịnh, vì khi quý vị đến đây
đã được đào luyện tu học rất kỹ lưỡng. Chúng tôi mong
rằng những hạt nhân này sẽ được đâm chồi, nẩy lộc,
phát triển nhiều hơn nữa. Đây chính là sự đóng góp công
sức để xây dựng cho Phật giáo Việt Nam thăng hoa và phát
triển phù hợp với thời đại mới.
(Phật
tử Diệu Huệ viết theo bài giảng của thầy Thích Chân Tính
ngày 21-9-2000)
Nội quy Khóa
tu Phật thất
Để
khóa tu Phật thất thành tựu được năm điều : LỤC HÒA,
NGHIÊM
TỊNH, TINH TẤN, NHẤT TÂM, AN LẠC; Phật tử tham dự phải
chấp hành nội quy sau đây :
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính
thưa quý Phật tử !
Với
mong ước làm thế nào để đưa vấn đề tu tập của hàng
Phật tử ngày càng đi vào nề nếp, quy củ theo đúng chánh
pháp của Phật, đồng thời để tạo điều kiện cho Phật
tử tại gia cắt bớt trần duyên, hầu thúc liễm thân tâm,
trau giồi giới đức, nhất tâm niệm Phật, chứng nghiệm
sự an lạc trong giáo pháp của Phật, nên khóa tu Phật thất
tại chùa Hoằng Pháp ra đời.
Để
quý Phật tử tham dự khóa tu Phật thất đạt được kết
quả mỹ mãn, Ban Tổ chức yêu cầu Phật tử phải nắm vững
chương trình tu học, tuân thủ nội quy và các oai nghi.
Quý
Phật tử phát tâm vào đây là để niệm Phật - thành Phật,
thì phải học và tu theo hạnh của Phật. Muốn được vậy
phải giữ gìn năm giới cấm thật chu đáo. Nếu không giữ
được một giới nào thì làm sao gọi là Phật tử ? Người
đời không theo đạo Phật mà còn biết giữ đúng tư cách
như không uống rượu, không hút thuốc, không trộm cắp thay
huống hồ gì là Phật tử.
Chúng
ta đến với đạo Phật là vì muốn vượt lên trên cuộc
đời tầm thường của thế nhân để đạt được chân thiện
mỹ. Nếu chúng ta vào đạo rồi mà vẫn tiếp tục cuộc đời
trôi nổi cũ hay còn tệ hơn cuộc đời thường của thế
nhân thì đó chỉ làm hoen ố đạo chớ không phải là người
mộ đạo.
Cho
nên là Phật tử thì phải có tinh thần trách nhiệm nuôi dưỡng,
hiếu thuận với cha mẹ, kính thờ sư trưởng, tu tập thập
thiện, phát tâm Bồ đề, tin sâu nhân quả, tinh tấn tu hành,
cố gắng giữ giới để xứng đáng với danh nghĩa của người
có đạo đức, nhằm đem lại hạnh phúc cho mình và cho chúng
sinh. Một xã hội mà mọi người đều thực hiện năm giới
cấm ấy thì đó là một xã hội gương mẫu văn minh nhất
thế giới vậy. Muốn có đạo đức thì phải theo học với
các bậc đức hạnh thanh cao siêu thoát, mà Đức Phật là
đấng trọn lành tiêu biểu cho nền đạo đức toàn chân,
toàn thiện, toàn mỹ.
Có
đạo đức, con người mới có lòng từ bi, sáng suốt công
bình, gia đình mới có hạnh phúc chân thật, xã hội mới
được thực sự văn minh cả về hai phương diện vật chất
và tinh thần. Người muốn học hỏi đạo lý và đức hạnh
của Phật thì trước phải quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới.
Sau đó người Phật tử phải tinh tấn trau giồi đức hạnh
và học hỏi các phương pháp tu giải thoát bằng cách cải
thiện mọi sinh hoạt trong đời sống hằng ngày như sau :
1/
Hết lòng tôn kính Phật, Pháp, Tăng là những bậc thầy cao
quý, hộ trì ngôi Tam Bảo để Phật Pháp trường tồn, thường
niệm Phật để tâm được an định.
2/
Nghiêm trì giới luật mà mình đã thọ để khỏi gây tạo
nghiệp ác, tránh quả báo về sau.
3/
Tập ăn chay kỳ, chay trường để trưởng dưỡng lòng từ
bi, vừa bớt tính hung hăng, hiếu sát và để bảo vệ sức
khỏe, ít bệnh hoạn.
4/
Dứt bỏ những tính hung dữ, gian tham, trộm cắp, dối trá,
để trở nên con người hiền lành ngay thẳng chân chính.
5/
Loại bỏ các thói hư tật xấu như cờ bạc, hút sách, ăn
chơi phung phí v.v..., phải biết giữ tiết độ trong việc
ăn mặc và ngủ nghỉ, tập theo lối sống đơn giản, giảm
bớt những nhu cầu vật chất không cần thiết, không cầu
kỳ, không lập dị, không xa hoa, không buông lung.
6/
Không lười biếng ỷ lại mà phải siêng năng sốt sắng,
đảm đang, tinh tấn tu học với ý chí tự lập tự cường,
kiên nhẫn chịu đựng để vượt qua mọi gian lao trở ngại.
7/
Làm việc phải có tinh thần trách nhiệm, việc làm phải nhẹ
nhàng khéo léo, sạch sẽ, gọn gàng.
8/
Hành động, cử chỉ, lời nói phải luôn luôn ôn hòa nhẹ
nhàng, khiêm tốn không cống cao ngã mạn, khinh người.
9/
Đối với mình thì khắc kỷ chế ngự vọng tâm, đối với
người thì đại lượng bao dung và nhiệt tâm giúp đỡ. Khuyên
mọi người chung quanh đều hướng về đường lành, trau giồi
đạo đức, phát huy trí tuệ, dẹp bỏ các hủ tục mê tín
dị đoan.
10/
Thường nghiên cứu kinh điển để có thể hiểu biết và
thực hành đúng chánh pháp của Đức Như Lai.
11/
Mỗi tháng nên đến chùa ít nhất hai ngày sám hối để sám
trừ tội chướng, ăn năn lỗi trước, tránh chừa lỗi sau.
12/
Học thuộc các nghi thức tụng niệm thông thường để hòa
được chúng khi tụng chung. Ngoài ra nếu có hoàn cảnh thuận
tiện, mỗi tuần hay mỗi tháng nên danh ra một ngày để về
chùa thọ Bát Quan Trai, để học hỏi thêm những giáo lý cao
siêu hơn và được gần gũi với chư Tăng trọn một ngày
trong không khí trong lành thanh tịnh, khiến cho tâm hồn hưởng
được những phút giây nhẹ nhàng an lạc, mà ở tại nhà
thế tục không tìm thấy được.
Tu
học và thực hành được những điều trên đây là người
dám làm cuộc cách mạng bản thân, bỏ tà quy chính, cải ác
tùng thiện, mới xứng đáng là người Phật tử thuần thành
và chân chính, để từng bước tiến lên hạnh xuất gia giải
thoát.
NỘI QUY
Chùa
Hoằng Pháp tổ chức các khóa tu Phật thất với mục đích
để giúp cho Phật tử tại gia có điều kiện thuận lợi
cắt bớt trần duyên, hầu thúc liễm thân tâm, nghiêm trì
tịnh giới, tinh tấn tu tập, chứng nghiệm sự an lạc trong
giáo pháp của Phật.
Tất
cả Phật tử tại gia đều có thể tham dự khóa tu. Yêu cầu
phải có đủ sức khỏe và không bị bệnh truyền nhiễm,
huyết áp cao, tai biến mạch máu não, bệnh đau thắt ngực.
Không nhận người già yếu, đi đứng khó khăn, lẩm cẩm,
tai điếc.
Để
khóa tu Phật thất thành tựu được năm điều : LỤC HÒA,
NGHIÊM TỊNH, TINH TẤN, NHẤT TÂM, AN LẠC; Phật tử tham dự
phải chấp hành nội quy sau đây :
Giữ
năm giới đã thọ
Giữ
uy nghi lúc đi, đứng, nằm, ngồi
Giữ
thân khẩu ý thanh tịnh
Chấp
hành đúng nội quy và thời khóa tu tập
Luôn
hoan hỷ và hòa nhã đối với mọi người
Hạn
chế nói chuyện với nhau
Không
nói chuyện thế sự
Không
lớn tiếng nói cười
Không
ra khỏi phạm vi chùa
Hạn
chế tiếp xúc với người ngoài
Không
trang điểm phấn son và đeo nữ trang
Không
được ăn, ngủ ngoài giờ đã quy định
Không
được hút thuốc, ăn trầu
Đến
giờ ngủ nghỉ phải im lặng, không được đi lại gây náo
động.
THỜI
KHÓA TU TẬP
| 3
giờ 30 |
|
Báo
thức |
| 4
giờ 00 |
-
5 giờ 30 |
Công
phu niệm Phật |
| 6
giờ 00 |
-
6 giờ 30 |
Điểm
tâm sáng |
| 7
giờ 00 |
-
8 giờ 30 |
Nghe
pháp |
| 9
giờ 00 |
-
10 giờ 30 |
Công
phu niệm Phật |
| 11
giờ 00 |
-
11 giờ 45 |
Ăn
trưa |
| 12
giờ 00 |
-
13 giờ 30 |
Nghỉ
trưa |
| 14
giờ 00 |
-
16 giờ 00 |
Công
phu niệm Phật |
| 16
giờ 00 |
-
18 giờ 00 |
Tắm
giặt |
| 18
giờ 00 |
-
18 giờ 30 |
Ăn
chiều |
| 19
giờ 00 |
-
20 giờ 30 |
Công
phu niệm Phật |
| 21
giờ 00 |
-
21 giờ 30 |
Ngồi
tịnh |
| 21
giờ 30 |
|
Ngủ
nghỉ |
Ngoài
các điều nêu trên, Phật tử còn phải tuân thủ những điều
được hướng dẫn dưới đây :
I.
TRƯỚC KHI ĐẾN ĐẠO TRÀNG
Phật
tử muốn tham dự khóa tu cần phải :
Đăng
ký với Ban Tổ chức khóa tu đúng ngày tháng quy định (có
thể liên hệ qua điện thoại hoặc gởi thơ). Khi đăng ký
phải ghi rõ họ tên, pháp danh, tuổi, địa chỉ rõ ràng. Khi
liên hệ bằng điện thoại, quý vị chỉ gọi trong thời gian
sau : Sáng : từ 7 giờ đến 11 giờ – Chiều : từ 14 giờ
đến 17 giờ.
Sau
khi đăng ký, nếu có duyên sự không tham dự được, phải
báo cho Ban Tổ chức biết, không được tự ý chuyển phiếu
đăng ký cho người khác.
Phải
có áo tràng lam (theo mẫu đồng phục của chùa). Người tham
dự lần đầu tiên được mượn áo tràng đồng phục.
Phải
có hai bộ quần áo màu lam (nên thêu tên, pháp danh vào quần
áo).
Nếu
đã tham dự hai khóa mà không có áo tràng và quần áo đồng
phục vẫn được dự tu nhưng không được cấp giấy chứng
nhận.
II.
KHI ĐẾN ĐẠO TRÀNG
Phải
đến đúng ngày giờ đã quy định. Nếu đến trễ, Ban Tổ
chức không nhận đăng ký.
Khi
đi nhớ đem theo CMND (bản chính và bản photo có thị thực),
cùng phiếu đăng ký đã ghi đầy đủ họ tên, pháp danh, địa
chỉ đến bàn đăng ký để ghi danh.
Chỉ
mang theo quần áo và những vật dụng cá nhân thường dùng,
không nên đem đồ vật quý giá hoặc đắt tiền. Không đem
mùng mền, chiếu gối, nệm lót, tọa cụ, bồ đoàn, phích
nước, thau giặt, kem đánh răng, xà bông tắm, xà bông giặt
và đồ ăn, thức uống.
Khi
nhập khóa, mỗi Phật tử được phát một túi vải để đựng
các thứ : tập sách, bút, thuốc uống và bàn chải đánh răng.
Hành lý cá nhân của Phật tử đem theo được cất vào phòng
và khóa lại.
III.
TRONG
THỜI GIAN TU HỌC
1/
Chọn
pháp tu
Pháp
môn chính của khóa tu Phật thất là chuyên niệm danh hiệu
Phật A Di Đà. Để cho việc công phu niệm Phật đạt được
kết quả tốt đẹp, quý vị nên chọn một trong ba phương
pháp sau đây :
- Tín
tâm niệm Phật : Công phu tại chánh điện, kinh hành niệm
Phật 15 phút và ngồi niệm Phật 15 phút (niệm ra tiếng).
- Chuyên
tâm niệm Phật : Công phu tại giảng đường, ngồi niệm
Phật 30 phút và kinh hành 15 phút (niệm thầm).
- Nhất
tâm niệm Phật : Công phu tại giảng đường, ngồi niệm
Phật (niệm thầm) từ 1 giờ đến 2 giờ.
2/
Tu
tập
Khi
nghe hiệu lệnh 3 tiếng chuông, các Phật tử mặc áo tràng
chỉnh tề : Phật tử tín tâm niệm Phật tập trung xếp hàng
đúng số thứ tự trong vòng 5 phút, chắp tay nghiêm trang, kinh
hành đúng bước chân theo câu nhạc niệm Phật tiến lên chánh
điện. Nếu ai tập trung trễ, phải đứng bên ngoài, chờ
đại chúng đi hết mới được đi tiếp theo sau, không được
chạy theo chen vào hàng. Phật tử chuyên tâm và nhất tâm niệm
Phật tập trung tại giảng đường (nơi hành lễ) trong vòng
10 phút, ngồi theo đúng số thứ tự, không được giành chỗ
ngồi. Sau 10 phút, những chỗ trống được đôn lên, người
đến trễ phải ngồi phía sau.
Sau
khi xưng tán Đức Phật, mọi người ngồi xuống đọc bài
tán Phật A Di Đà và niệm Phật. Trong lúc công phu không được
nói chuyện, quay tới quay lui làm ảnh hưởng đến sự trang
nghiêm thanh tịnh của đại chúng, phải cố gắng chánh niệm
chú tâm theo câu niệm Phật, miệng phải niệm từng chữ từng
câu rõ ràng, tai nghe rõ ràng, danh hiệu Phật phải từ tâm
ý mà lưu xuất.
Khi
kinh hành, chắp tay trang nghiêm trước ngực, từng bước chân
đi đúng theo câu niệm Phật, mắt nhìn về phía trước, không
vừa đi vừa xá chào.
Khi
ngồi niệm Phật thì ngồi thẳng lưng, chân xếp theo kiểu
bán già, hai bàn tay để ngay ngắn trên đùi, bàn tay phải
đặt ngửa trên lòng bàn tay trái, không lạy, không lần chuỗi
hoặc dùng quạt giấy. Không ngồi duỗi thẳng chân. (Chỉ
ngồi nghiêm trang niệm Phật). Không đem nước uống và khăn
lên chánh điện.
Thời
công phu kết thúc, Phật tử chỉnh đốn lại y phục, lần
lượt từng hàng (đã được ban Tổ chức sắp xếp) kinh hành
theo câu nhạc niệm Phật đi xuống, không được chen lấn
hay tách hàng xuống trước.
3/
Giờ
nghe pháp
Nghe
tiếng chuông báo hiệu đến giờ thính pháp, tất cả khóa
sinh mặc áo chỉnh tề xếp đúng hàng, đúng chỗ Ban Tổ chức
đã quy định.
Trong
lúc chờ đợi Giảng sư thăng tòa, không được nói chuyện,
đi lại để giữ gìn trang nghiêm thanh tịnh đạo tràng.
Trong
giờ nghe pháp, phải ngồi ngay ngắn, tập trung tâm ý nghe giảng,
không được đi lại hay đổi chỗ cho nhau, không ngồi tựa
lưng vào tường hoặc duỗi thẳng chân.
Sau
giờ nghe pháp, không nên chen lấn chạy theo Giảng sư. Nếu
khóa sinh muốn chụp hình lưu niệm với Giảng sư phải xin
phép Giảng sư và Ban Tổ chức, lần lượt từng đoàn thể,
sau đó là các cá nhân. Tuyệt đối không được lôi kéo làm
mất oai nghi, phải nhanh gọn để bảo đảm giờ công phu sáng.
4/
Ăn
uống
Tất
cả Phật tử tham dự khóa tu phải ăn chay trong suốt thời
gian tu tập.
Mỗi
ngày dùng 3 bữa sáng, trưa và chiều.
Không
được ăn phi thời.
Trước
giờ thọ trai, nghe tiếng chuông báo hiệu tất cả khóa sinh
phải mặc áo tràng chỉnh tề, xếp hàng đúng theo số thứ
tự, không chắp tay, lần lượt từng hàng đi đến trai đường.
Tại
trai đường tất cả Phật tử phải ngồi đúng bàn, đúng
chỗ ban Tổ chức đã sắp xếp. Trường hợp Phật tử không
xếp hàng kịp đại chúng, tuyệt đối không được chạy
theo chen lấn vào hàng mà phải chờ cho đại chúng đứng đúng
vị trí mới xin phép vào.
Tất
cả đứng đúng vị trí của mình, lắng nghe tiếng chuông
hiệu lệnh và thực hành như sau : Tiếng chuông thứ nhất
tất cả Phật tử chắp tay trước ngực, tiếng chuông thứ
hai xá xuống, tiếng chuông thứ ba nhẹ nhàng ngồi xuống.
Khi ăn xong cũng nghe theo hiệu lệnh : Tiếng chuông thứ nhất
đứng dậy thật nhẹ nhàng, nhấc ghế để lùi phía sau, chắp
hai tay. Nghe tiếng chuông thứ hai xá một xá. Tiếng chuông
thứ ba tuần tự rời khỏi bàn ăn.
Trong
khi ăn phải giữ chánh niệm và không được nói chuyện, không
gây ồn ào trong trai đường, hạn chế tối thiểu tiếng khua
chén bát. Không được mang thức ăn riêng để ăn một mình
nhằm bảo đảm tính lục hòa của khóa tu. Tránh việc khạc
nhổ mất vệ sinh làm ảnh hưởng đến những người bên
cạnh.
Để
đảm bảo vệ sinh chung và tránh sự lây lan bệnh truyền nhiễm
qua đường ăn uống, trong khi ăn nên dùng đũa gắp thức ăn,
dùng muỗng để ăn.
5/
Ngủ
nghỉ
Các
Phật tử tham dự khóa tu phải tôn trọng nội quy ngủ và
thức đúng giờ đã quy định.
Nếu
không ngủ được phải nằm yên tại chỗ, không nói chuyện
ồn ào, không đi lại làm động chúng.
Không
được tự ý dời chỗ ngủ.
Trước
giờ ngủ buổi tối có nửa giờ tịnh tọa, các Phật tử
phải tập trung tại chỗ ngủ của mình, ngồi yên lặng để
tĩnh tâm niệm Phật. Sau khi xả tịnh không được nói chuyện
ồn ào.
Không
mang túi xốp và hành lý vào phòng ngủ, trừ các túi vải
do Ban Tổ chức cấp phát.
Mỗi
người chỉ dùng một gối và một mền. Không lấy gối và
mền lót ngồi, không trải mền để nằm.
Đúng
3 giờ 30 nghe tiếng chuông báo giờ thức chúng mới được
bật đèn. Sau khi thức dậy phải xếp mùng mền gọn gàng,
để đúng nơi quy định.
Không
ngủ nghỉ phi thời.
Khi
ngủ, nam không được ở trần, nữ không được mặc áo sát
nách (hoặc áo thun, áo lá), quần ngắn.
6/
Tiền
bạc
Tiền
bạc, tư trang phải tự bảo quản hoặc có thể gởi cho Ban
Tổ chức giữ giùm. Nếu tự giữ lấy, khi mất Ban Tổ chức
không chịu trách nhiệm.
Không
được kêu gọi quyên góp tiền bạc.
Mọi
sự phát tâm cúng dường xin để vào thùng công đức, không
cúng dường riêng cho Tăng chúng.
7/
Sinh
hoạt
Trong
suốt thời gian 7 ngày tu tập, các Phật tử phải mặc quần
áo lam.
Không
được tự ý phổ biến tài liệu khác ngoài những tài liệu
của Khóa tu Phật thất.
Được
phép về nhà khi có việc nhưng không nên quá 24 tiếng đồng
hồ. Nếu quá 24 tiếng sẽ không được cấp giấy chứng nhận.
Các
Phật tử tham dự khóa tu nên dặn dò thân nhân chỉ đến
thăm vào sau các giờ thọ trai. Không được tiếp xúc với
người thân nơi khu vực tu tập hoặc trong phòng ngủ của
đại chúng.
Chỉ
gọi điện thoại khi có việc thật cần thiết.
Ban
Tổ chức dành riêng một khu vực “Tịnh tâm niệm Phật”.
Tất cả Phật tử đến khu vực này chỉ niệm Phật, không
được nói chuyện. Nếu có thân nhân bạn bè đến thăm không
được tiếp xúc trong khu vực này.
Hành
lý phải để tập trung trong các phòng đã quy định, không
được đem đến chỗ ngủ nghỉ.
Phòng
hành lý được mở cửa mỗi ngày 2 lần, sáng từ 5 giờ đến
6 giờ, chiều từ 16 giờ đến 18 giờ.
Phải
giữ gìn sạch sẽ chung quanh khuôn viên chùa và trong các phòng
để hành lý cũng như phòng ăn, phòng ngủ.
Không
xả rác trong các chậu cây cảnh.
Áo
tràng phải treo đúng số thứ tự. Khu vực treo áo tràng không
được treo khăn và quần áo khác. Khi lấy áo tràng phải coi
cẩn thận đừng lấy lộn áo người khác.
Trong
các phòng ngủ không được treo áo tràng và quần áo.
Giày
dép phải xếp ngay ngắn, không vứt bừa bãi. Không để dép
tại hành lang các dãy lầu. Không mang dép của người khác.
Khi
mất đồ dùng nên báo cho Ban Tổ chức biết.
Phụ
nữ mỗi tháng đến kỳ, không được lên chánh điện, không
lấy tọa cụ lót ngồi, phải cẩn thận giữ gìn vệ sinh
cá nhân sạch sẽ.
8/
Tắm
giặt, vệ sinh
Các
sinh hoạt cá nhân như tắm giặt, vệ sinh theo thứ tự ai ra
trước sử dụng trước không nên tranh giành.
Trước
khi vào phải gõ cửa ba tiếng để biết có người bên trong
hay không. Khi vào phải khép cửa nhẹ nhàng, không nên đóng
mạnh gây tiếng động, nhớ cài khóa cửa cẩn thận.
Khi
vệ sinh xong nên dùng nước rửa sạch hơn là dùng giấy. Khi
ra phải dội nước và rửa tay sạch sẽ. Chú ý nhớ sửa
lại y phục cho chỉnh tề.
Trong
khi tắm rửa, vệ sinh không được ca hát, nói chuyện, cười
giỡn với người bên ngoài.
Không
niệm Phật ra tiếng.
Không
được mặc áo tràng vào nhà vệ sinh.
Phải
tiết kiệm nước, xà bông khi tắm giặt. Không lấy xà bông
của đại chúng cất xài riêng.
Không
khạc nhổ, tiểu tiện trong nhà tắm.
Nam
giới không ở trần hoặc mặc áo thun quần ngắn khi ra khỏi
nhà tắm.
Giấy
rác phải bỏ vào giỏ đựng rác, không được vứt bừa bãi
hoặc bỏ xuống hầm cầu.
Đồ
dùng cá nhân của phụ nữ sau khi sử dụng phải xử lý kỹ
lưỡng, không được vứt bỏ bừa bãi.
Quần
áo phải giặt đúng nơi, phơi đúng chỗ đã quy định. Quần
áo lót phải treo kín đáo bên trong quần áo ngoài, không nên
phơi bày lộ liễu mất thẩm mỹ.
Khi
phơi quần áo ướt nên để ý đừng làm ướt quần áo đã
phơi khô của người khác.
Nam
giới và nữ giới có khu vực nhà tắm và vệ sinh riêng biệt,
không được sử dụng lẫn lộn. Không được sử dụng phòng
tắm và vệ sinh của chư Tăng.
9/
Kỷ luật
Các
Phật tử tham dự khóa tu phải chấp hành đúng nội quy, thời
khóa tu tập cùng những hướng dẫn vừa nêu. Nếu ai vi phạm
lần một nhắc nhở, lần hai sám hối trước đại chúng,
và kỷ luật không được tham dự khóa tu kế tiếp.
IV.
TRƯỚC
KHI RA VỀ
Phải
kiểm tra hành lý, tránh việc bỏ quên quần áo và đồ dùng
cá nhân. Gởi trả lại Ban Tổ chức các túi vải, thẻ số
thứ tự và thẻ phơi quần áo.
Chúng
tôi mong tất cả Phật tử tham dự khóa tu Phật thất phải
nắm rõ nội quy và thời khóa tu tập, tinh tấn hành trì, thúc
liễm thân tâm, đạt được an lạc hạnh phúc trong thời gian
tu tập.
Nam
Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát
BAN
TỔ CHỨC KHÓA TU PHẬT THẤT
OAI
NGHI CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ
(Phần
“Oai nghi” trong tập sách này có tham khảo và trích từ cuốn
“Oai nghi của hàng Phật tử tại gia” của Thích Minh Chánh.)
TÁC
PHONG VÀ HẠNH KIỂM
Nhà
Phật gọi tác phong là oai nghi và tế hạnh.
Tác
phong là hành vi cử chỉ, lời nói, cách ăn mặc hằng ngay.
Hạnh kiểm là những tính hạnh nết na. Người có hành vi
cử chỉ đúng đắn, nghiêm chỉnh, tính hạnh nết na hiền
hòa, vui vẻ, nhã nhặn lễ độ thì được khen là đức hạnh
tốt. Trái lại nếu người có hành động, cử chỉ thô tháo
sỗ sàng, tính nết thô lỗ, hung dữ, xấu xa thì không ai muốn
gần.
Oai
nghi tế hạnh của người Phật tử được thể hiện trong
những hành động như : Xá chào, lạy Phật, đi đứng, ngồi,
nằm, ăn, uống, ngủ nghỉ v.v...
XÁ
CHÀO
Khi
gặp chư Tăng hay bạn đồng đạo, chắp tay xá chào như sau
:
Đứng
ngay thẳng, hai bàn chân khép lại theo hình chữ V, hai tay chắp
ngang trước ngực, 10 ngón tay hướng lên. Khi chắp tay không
được bọng giữa, các ngón tay không so le, không để ngang
miệng, hai bàn tay không xà xuống.
Trước
khi xá chào hai tay chắp trước ngực, trong khi xá toàn thân
trên khom xuống một góc khoảng gần 60o, tay cũng xá xuống
theo, kèm theo câu niệm “A Di Đà Phật”.
Không
đứng xa quá 3 mét. Không đứng trên cao xáù xuống, không
ngồi xá, không vừa đi vừa xá, không xá một tay, không cầm
vật trên tay xá, đang làm việc hoặc tay dơ bẩn không được
xá, không xá theo kiểu mổ mổ.
Người
Phật tử khi đến chùa và lúc ra về phải chào thầy trụ
trì.
LẠY
PHẬT
Khi
nghe tiếng chuông thì lạy xuống, nghe dập chuông thì đứng
dậy. Không đứng chính giữa chánh điện làm lễ. Không đi
ngang qua chỗ người đang lễ. Không lên chỗ bục của chư
Tăng hành lễ.
Khi
chư Tăng đang ăn cơm, cạo tóc, đọc kinh, làm việc, kinh hành...
đều không được làm lễ.
Tư
thế khi lạy : Điều chỉnh thân nghiêm chỉnh, hai chân khép
lại theo hình chữ V, hai tay từ tư thế chắp trang nghiêm trước
ngực từ từ đưa lên trán, khom mình xuống, chống tay xuống
đất xong ngửa hai bàn tay ra và trán chạm xuống đất ở
giữa hai bàn tay. Toàn thân phải hạ sát đất, hai bàn chân
duỗi ra, mông chạm sát trên hai gót chân. Đó gọi là “Năm
vóc sát đất”.
Khi
đứng dậy, tay phải chống đất, tay trái giữ tư thế chắùp
tay, từ từ đưa thân mình về vị trí ban đầu, đồng thời
xá một xá.
Tư
thế quỳ : Lưng phải ngay thẳng, đầu hơi cúi xuống, hai
tay chắp ngay ngắn trước ngực.
TƯỚNG
ĐI
Người
Phật tử phải đi khoan thai nhẹ nhàng, chững chạc, dù trong
nhà hay ngoài đường lúc nào cũng phải giữ tướng đi cho
ngay thẳng trang nghiêm nhưng không mất vẻ tự nhiên. Không
được vừa đi vừa nhảy, không liếc ngó hai bên, hoặc hát
nghêu ngao, không đi ưỡn ẹo, không đi nhón gót, không vừa
đi vừa đưa tay lên xuống quá cao, không vừa đi vừa mặc
hoặc cởi áo tràng.
Phải
nhường bước cho người lớn đi trước. Không đi trước
mặt thầy, không đi ngang vai với thầy, phải đi phía sau thầy.
Lên xe, phải nhường cho người già cả, yếu đuối lên trước.
Đừng chen lấn, xô đẩy giành chỗ ồn ào làm mất tư cách
của người Phật tử.
KINH
HÀNH
Bước
chân đúng theo tiếng niệm Phật, bước chân phải đặt xuống
đúng ngay chữ “A” và chữ “Phật”, bước chân trái rơi
vào chữ “Nam” và chữ “Đà”. Hai tay chắp trang nghiêm
trước ngực, không lắc vai nghiêng mình, đầu hơi cúi, mắt
nhìn xuống không nhìn hai bên. Đi nhiễu Phật theo chiều kim
đồng hồ từ trái sang phải, khi xoay mình cũng xoay theo chiều
kim đồng hồ.
TƯỚNG
ĐỨNG
Không
đứng dựa tường, dựa ghế, dựa cột, không đứng khúm
núm, không đứng chống nạnh ra oai. Khi đứng nói chuyện với
chư Tăng nên đứng nghiêm chỉnh, hai bàn chân đặt theo hình
chữ V, hai tay chắp hoặc buông xuống. Khi hành lễ, tụng kinh
phải đứng ngay thẳng nghiêm chỉnh, hai tay chắp trước ngực.
Không day qua day lại liếc ngó láo liên, không đi tới lui làm
mất trật tự.
Không
được đứng trên cao nói chuyện hay kêu gọi chư Tăng ở
dưới thấp.
TƯỚNG
NGỒI
Nếu
ngồi trên ghế phải ngồi thẳng lưng, hai chân thòng xuống
để ngay ngắn trên đất. Khi ngồi không ngoẹo đầu, ngoẹo
cổ, không khom lưng, không dựa ngửa, dựa nghiêng, không ngồi
úp mặt trên bàn, không ngồi chồm hổm trên ghế, không ngồi
gác chân chữ ngũ, không ngồi rung đùi, không lắc lư hai chân,
không gác chân lên ghế, lên bàn.
Khi
tụng kinh, tọa thiền phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng như
tường vách. Có hai cách ngồi :
- Kiết
già : Bàn chân trái đặt lên đùi chân phải và bàn chân phải
đặt lên đùi chân trái (kéo sát vào thân). Bàn tay phải đặt
ngửa trên bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạm vào nhau.
- Bán
già : Bàn chân trái đặt lên đùi chân phải hoặc bàn chân
phải đặt lên đùi chân trái. Bàn tay phải đặt ngửa trên
bàn tay trái, hai đầu ngón tay cái chạm nhau.
Đang
ngồi tự do nếu thấy chư Tăng đi qua phải đứng dậy xá
chào.
Không
được ngồi nói chuyện khi chư Tăng đang đứng (hoặc ngồi
thiền, niệm Phật).
Khi
tiếp xúc với thầy, thầy cho phép ngồi mới ngồi, không
được tự ý ngồi trước.
TƯỚNG
NẰM
Khi
nằm ngủ hay nghỉ ngơi, không nằm nghiêng bên trái, vì trái
tim nằm về phía trái của lồng ngực, tim sẽ bị đè nén,
máu không lưu thông được, dễ dẫn đến ác mộng, (có thể
nằm ngửa với tư thế thân ngay thẳng, hai chân khép lại,
tay đặt trên bụng hoặc duỗi thẳng, nên lấy mền che phần
bụng dưới lại cho kín đáo). Không nên nằm sấp vì buồng
phổi bị ép làm khó thở.
Nằm
theo thế cát tường tức là nằm nghiêng bên phải, chân tay
duỗi thẳng (giống tư thế Đức Phật nhập Niết bàn), đây
là cách nằm an lành tốt đẹp, vừa trang nhã vừa có lợi
cho sức khỏe.
TƯỚNG
ĂN
Trong
chùa khi ăn cơm phải cúng quá đường. Đại chúng mặc áo
tràng, khi ngồi nhớ vén vạt áo tràng phía sau cho gọn gàng,
lưu ý tay áo rộng đừng cho chạm vào thức ăn.
CÁCH
THỨC CÚNG QUÁ ĐƯỜNG
Tay
phải kiết ấn cát tường : Ngón tay cái đặt lên ngón áp
út co sát vào trong lòng bàn tay, ba ngón tay còn lại vươn thẳng
lên. Tay trái : Ngón giữa và ngón áp út co lại, ba ngón còn
lại vươn thẳng lên, tạo thành thế kiềng ba chân, đặt
chén vào giữa. Tay trái nâng bát đưa lên ngang trán, tay phải
kiết ấn đặt ngang miệng chén.
Tam
đề, ngũ quán : Trước khi ăn ba muỗng và quán năm pháp, dùng
hai tay nâng bát ngang trán, mỗi tay chỉ sử dụng ba ngón :
Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Sau đó để bát trên lòng
bàn tay trái, tay phải cầm muỗng xúc ba muỗng cơm quán tam
đề. Sau đó để muỗng trong bát, muỗng úp xuống quay về
phía trước, bàn tay phải đặt dưới bàn tay trái, nâng bát
ngang chấn thủy, thầm niệm ngũ quán.
Trước
khi ăn cơm nên rửa tay sạch sẽ. Phải ngồi ngay thẳng vững
vàng, chẳng nên cúi sát mặt bàn, áp măït sát vào chén mà
húp canh và cơm. Khi ăn chẳng nên ngậm cơm nói chuyện. Không
gãi đầu làm bụi bay qua người khác, hay vào thức ăn. Khi
nhảy mũi, bị sặc cơm phải quay ra phía sau tránh phun trúng
người ngồi gần. Chẳng nên nhổ khạc, ợ ngáp ra tiếng,
(khi ngáp phải lấy tay che miệng), hạn chế tối đa tiếng
khua chén đũøa, không hả miệng lớn lúc chờ đợi cơm, lúc
xỉa răng phải che miệng lại. Trong cơm có sâu kiến phải
kín đáo gắp ra chớ để người ngồi gần thấy. Trên bàn
ăn có món ngon món không ngon, đừng sinh tâm tham, gắp món
ngon nhiều lấn phần người khác mà chê món dở. Cần món
gì ngoài tầm tay, ra hiệu nhờ người khác chuyển giùm, chẳng
nên gọi to nói lớn hoặc đứng dậy lấy thức ăn. Khi ăn
không hà hít chắt lưỡi khen ngon chê dở, nên quán thức ăn
để chữa bệnh ốm gầy. Khi uống nước nên rót ra bát, hai
tay nâng bát lên uống chậm rãi. Ăn xong trước phải đợi
mọi người cùng ăn xong, đứng dậy một lượt.
Sống
trong gia đình hay trong chúng phải áp dụng đúng câu “lục
hòa đồng quân”, nghĩa là phải chia nhường nhau hưởng dụng
một cách công bình, không nên giành phần hơn.
CÁCH
THỨC THỈNH TĂNG VÀ CÚNG DƯỜNG
Phật
tử có duyên sự muốn cung thỉnh chư Tăng hoặc cúng dường,
trước hết phải thành tâm, mặc áo tràng, tay bưng khay lễ
trên đặt phẩm vật cúng dường. Tác bạch thỉnh Tăng hoặc
cúng dường theo đúng nghi lễ (lạy một lạy, đứng lên rồi
quỳ xuống tác bạch, hoặc đứng trang nghiêm xá một xá rồi
tác bạch). Sau khi chư Tăng đã nạp thọ, lạy ba lạy rồi
lui ra.
Cúng
dường Tam Bảo là bổn phận của người Phật tử tại gia,
nhằm góp phần hộ trì Tam Bảo và hoằng dương Phật pháp.
Khi cúng dường nên để tịnh tài vào một đĩa nhỏ đặt
trên bàn, không nên cầm tiền trên tay hoặc nhét vào túi áo
chư Tăng (thiếu lịch sự).
CÁCH
MẶC Y PHỤC
Người
Phật tử nên mặc y phục trang nhã, kín đáo vừa hợp tầm
vóc, không quá chật hay quá rộng, không dùng những màu sắc
sặc sỡø, bông hoa lòe loẹt, không mặc loại vải quá mỏng,
không mặc y phục kiểu cách kỳ dị, hở hang, khêu gợi.
Khi
đến dự khóa tu Phật thất, tất cả đều phải mặc y phục
màu lam.
CÁCH
GIAO TIẾP VỚI MỌI NGƯỜI
Khi
giao tiếp với ai phải giữ thái độ điềm đạm hoan hỷ,
không nên quá niềm nở hoặc cười cợt lả lơi, phải thành
thật ngay thẳng, nhu hòa khiêm tốn, không nói hớt, không giành
nói, không đùa dai.
Khi
nói chuyện với thầy phải giữ lễ độ, đứng chắp tay
hoặc đứng trang nghiêm, không nên cười giỡn hoặc nói lớn
tiếng. Không kết tình cha mẹ, anh chị em với người xuất
gia.
Khi
gặp việc gì dù khó khăn rắc rối cũng phải giữ bình tĩnh
ôn hòa, không tỏ vẻ cau có bực bội.
Phải
biết giữ uy tín và danh giá của mình bằng cách không nói
càn hứa ẩu. Đừng nói mập mờ để người ngộ nhận, rất
có hại, phải biết lắng nghe và nói đúng lúc, nói đúng
lý, không nói quá nhiều, không nói lớn lối khoe khoang, không
nói chê bai, không nói đùa giỡn, không nói lời khích bác.
NHỮNG
PHẦN PHỤ
* Khi
lên chính điện cần lưu ý :
- Khi
vào lễ Phật, nếu đã có nhang cắm trong lư rồi không nên
thắp thêm.
- Không
đứng trên chính điện mặc áo tràng.
- Không
tùy tiện đánh chuông, trống, mõ, khánh.
- Không
nên tranh giành chỗ ngồi.
- Tay
dơ bẩn không nên cầm kinh.
- Khi
ngáp phải che miệng.
* Bổn
phận chúng trưởng :
Thường
xuyên theo dõi săn sóc nhắc nhở chúng viên của mình như khi
đau ốm, ăn ngủ phi thời, không giữ đúng oai nghi. Thường
xuyên báo cáo lên Ban Tổ chức biết những việc cần thiết
cũng như những điều không tự giải quyết được.
Ngoài
ra khóa sinh phải sống đúng tinh thần lục hòa. Không nên
thấy lỗi người khác, phải thực sự đóng góp xây dựng
để giúp đỡ người thiếu sót về phong cách đạo đức.
Không nên bỏ mặc làm ngơ trước sự thiếu sót của người
khác về mặt tác phong.
Trên
đây là những vấn đề thiết yếu trong đời sống tu tập
của hàng Phật tử, quý vị cần phải lưu tâm, học hỏi
và hành trì để trong những ngày tu Phật thất đạt được
nhiều kết quả an vui, lợi lạc.
Nam
mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát
Ban
Tổ chức Khóa tu Phật thất
NGHI
THỨC TỤNG NIỆM
TRONG
KHÓA TU PHẬT THẤT
KỆ
KHEN PHẬT
Đấng
Pháp vương Vô thượng,
Ba
cõi chẳng ai bằng.
Thầy
dạy khắp trời người,
Cha
lành chung bốn loại.
Quy
y tròn một niệm,
Dứt
sạch nghiệp ba kỳ.
Xưng
dương cùng tán thán,
Ức
kiếp không cùng tận.
QUÁN
TƯỞNG
Phật
chúng sinh tánh thường rỗng lặng
Đạo
cảm thông không thể nghĩ bàn
Lưới
đế châu ví đạo tràng
Mười
phương Phật bảo hào quang sáng ngời
Trước
bảo tọa thân con ảnh hiện
Cúi
đầu xin thệ nguyện quy y.
LỄ
PHẬT
Chí
tâm đảnh lễ : Nam Mô Tận Hư Không Biến Pháp Giới, Quá
Hiện Vị Lai Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh
Tăng Thường Trụ Tam Bảo.
Chí
tâm đảnh lễ : Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư
Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật,
Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ
Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật
Bồ Tát.
Chí
tâm đảnh lễ : Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại
Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại
Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát,
Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát.
KHEN
PHẬT A DI ĐÀ
Di
Đà thân Phật sắc vàng tươi
Tướng
tốt quang minh vẹn đủ mười
Ánh
sáng tỏa hình năm núi lớn
Mắt
trong tợ nước bốn nguồn khơi
Hào
quang hóa Phật bao nhiêu ức
Bồ
tát hiện thân gấp mấy mươi
Bốn
tám lời nguyện mong độ chúng
Hoa
sen chín phẩm rước lên ngôi
Nam
mô Tây phương Cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà
Phật.
Nam
Mô A Di Đà Phật…………….
Nam
Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát (3 lần)
Nam
Mô Đại Thế Chí Bồ Tát (3 lần)
Nam
Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần)
Nam
Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát (3 lần)
SÁM
NGUYỆN
Đệ
tử kính lạy,
Đức
Phật Thích Ca,
Phật
A Di Đà,
Mười
phương chư Phật,
Vô
thượng Phật pháp,
Cùng
Thánh Hiền Tăng,
Đệ
tử lâu đời lâu kiếp,
Nghiệp
chướng nặng nề,
Tham
giận kiêu căng,
Si
mê lầm lạc,
Ngày
nay nhờ Phật,
Biết
sự lỗi lầm,
Thành
tâm sám hối,
Thề
tránh điều dữ,
Nguyện
làm việc lành,
Ngửa
trông ơn Phật,
Từ
bi gia hộ,
Thân
không tật bệnh,
Tâm
không phiền não,
Hằng
ngày an vui tu tập,
Pháp
Phật nhiệm mầu,
Để
mau ra khỏi luân hồi,
Minh
tâm kiến tánh,
Trí
huệ sáng suốt,
Thần
thông tự tại,
Đặng
cứu độ các bậc tôn trưởng,
Cha
mẹ, anh em,
Thân
bằng quyến thuộc,
Cùng
tất cả chúng sinh,
Đều
trọn thành Phật đạo.
HỒI
HƯỚNG
Niệm
Phật công đức vô biên
Xin
đem hồi hướng mọi miền gần xa
Chúng
sinh pháp giới bao la
Đều
về Cực Lạc Di Đà Tây thiên
Nguyện
tiêu ba chướng não phiền
Nguyện
khai trí tuệ vô biên sáng ngời
Nguyện
trừ tội chướng bao đời
Hành
theo Bồ Tát đời đời vị tha
Nguyện
sinh Tịnh độ Di Đà
Hoa
sen chín phẩm là cha mẹ mình
Hoa
khai ngộ pháp vô sinh
Cùng
chư Bồ tát bạn lành với ta
Nguyện
đem công đức tạo ra
Hướng
về tất cả gần xa hưởng nhờ
Con
cùng muôn loại thân sơ
Đều
thành Phật đạo, đến bờ an vui.
TỰ
QUY Y
Tự
quy y Phật, xin nguyện chúng sinh, thể theo đạo cả, phát lòng
vô thượng.
Tự
quy Pháp, xin nguyện chúng sinh, thấu rõ kinh tạng, trí huệ
như biển.
Tự
quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh, thống lý đại chúng, tất
cả không ngại.
NGHI
THỨC QUÁ ĐƯỜNG
CÚNG
DƯỜNG
Cúng
dường thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật
Viên
mãn báo thân Lô Xá Na Phật
Thiên
bá ức hóa thân Thích Ca Mâu Ni Phật
Đương
lai hạ sinh Di Lặc tôn Phật
Cực
lạc thế giới A Di Đà Phật
Thập
phương tam thế nhất thiết chư Phật
Đại
trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát
Đại
Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Đại
bi Quan Thế Âm Bồ Tát
Chư
tôn Bồ Tát Ma Ha Tát
Ma
ha Bát nhã Ba La Mật
Ba
đức sáu vị
Cúng
Phật cùng Tăng
Pháp
giới hữu tình
Đều
xin cúng dường
Khi
dùng cơm này
Nguyện
cho chúng sinh
Vui
hưởng hương vị
Của
pháp và thiền
(Cúng
dường rồi để bát xuống)