NIÊM
TỤNG KỆ
Dịch
1.
Cử: Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng vương cung, chưa
ra thai mẹ độ người đã xong.
Niêm:
Gươm báu chưa vung, tướng quân đã lộ.
Tụng:
Không có hình hài, chửa rời quê,
Sớm
tối đưa người qua bến mê.
Cất
bước ngao du không xen cách,
Chẳng
cần thuyền gỗ với phao bè.
2.
Cử: Thế Tôn mới sanh, một tay chỉ trời, một tay chỉ đất
nói: Trên trời dưới đất chỉ ta tôn quí.
Niêm:
Một áng mây trắng che cửa động,
Đàn
chim về tổ thảy quên đường.
Tụng:
Đạt-đa mới giáng Tịnh Vương cung,
Muốn
hóa quần sanh tự hiển tung.
Bảy
bước đi quanh chỉ trời đất,
Bao
người con Phật mất gia phong.
3.
Cử: Thế Tôn đưa cành hoa, Ca-diếp mặt rạng rỡ mỉm cười.
Niêm:
Vén đứng lông mày để mắt xem,
Tiến
lên suy nghĩ cách ngàn non.
Tụng:
Thế Tôn nắm dựng một cành hoa,
Ca-diếp
sáng nay được đến nhà.
Nếu
bảo đây là truyền pháp yếu,
Về
Nam xe Bắc lối càng xa.
4.
Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi
không lời?
Niêm:
Trừ người quả thật con ta đó,
Ai
kẻ bạo chân vào đường này.
Tụng:
Lao quan khó buộc có ai tri,
Ngôn
ngữ đều quên không chỗ y.
Chẳng
phải trong đời con ngựa giỏi,
Do
đâu bất chợt được tiện nghi.
5.
Cử: Thế Tôn lên pháp tòa, Văn-thù bạch chúng rằng: Quán
kỹ pháp Pháp vương, pháp Pháp vương như thế.
Niêm:
Khảy khúc Dương Xuân đàn không dây,
Muôn
năm ngàn thuở tiếng nào dứt.
Tụng:
Tuy nói câu câu chẳng vết tỳ,
Giấu
sừng, đuôi vẫn hiện như ri.
Nào
giống một cành sáo không lỗ,
Vì
anh thổi khúc Thái bình thi.
6.
Cử: Vua nước Kế-tân cầm kiếm, bảo Tổ thứ hai mươi bốn
(Sư Tử) rằng: Thầy được năm uẩn không chăng? Tổ đáp:
Đã được. Vua hỏi: Lìa sanh tử chăng? Tổ đáp: Đã lìa.
Vua hỏi: Có thể thí cái đầu cho tôi được không? Tổ đáp:
Thân còn không phải của ta, huống nữa là đầu! Vua liền
chém. Sữa trắng vọt ra, tay vua tự rơi.
Niêm:
Đem đầu kề gươm bén,
Dường
như chém gió xuân.
Tụng:
Đao bén chém nước cùng xuy quang
(thổi ánh sáng),
Việc
này nên biết nào ngại gì.
Báo
tin sáng ấy xa khói, sóng,
Ai
biết riêng có nghĩ suy lành.
7.
Cử: Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm ở Lạc Dương,
chín năm ngồi xây mặt vào vách.
Niêm:
Để mắt xem, thôi ngủ gật.
Tụng:
Chim Bằng vỗ cánh đến Nam Minh
(Nam Hải),
Nối
gót luống công muôn dặm trình.
Đêm
trước chỉ tham vui yến tiệc,
Sáng
nay bất giác say men nồng.
8.
Cử: Nhị Tổ xin Sơ Tổ pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: Đem tâm
ra ta an cho ông. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm không thể được.
Sơ Tổ bảo: Ta an tâm cho ông rồi.
Niêm:
Em bé lên ba ôm trống giấy,
Ông
già tám chục mặc áo cầu.
Tụng:
Tâm đã không tâm nói với ai,
Người
câm thức mộng mắt tròn xoe.
Lão
tăng dối bảo an tâm đấy,
Cười
ngất bàng quan chẳng tự hay.
9.
Cử: Ngài Văn-thù thấy cô gái nhập định gần Phật, Ngài
đến xuất định không được. Phật sai Bồ-tát Võng Minh
đến xuất định được.
Niêm:
Đứa con oan gia, tan gia phong ta.
Tụng:
Đều cùng xuất định có sơ thân,
Định
ấy nên là chửa chánh chân.
Nếu
thật Hóa công không hậu bạc,
Xoay
vần xuân đến khắp mọi phần.
10.
Cử: Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa từng
thiếu tương muối.
Niêm:
Dù cho chẳng phạm mảy may,
Vẫn
là cầm bánh dính tay.
Tụng:
Trước kia làm bạn khách rượu chè,
Quán
rượu thường nằm bên cạnh nhà.
Giả
thử khoe khoang người lanh lợi,
Giữa
đường mất áo chịu thôi mà.
11.
Cử: Bá Trượng tái tham Mã Tổ, Mã Tổ hét một tiếng. Bá
Trượng đại ngộ.
Niêm:
Ngàn mũi nhọn, không bằng một nhát mai cùn.
Tụng:
Ngày trước xe thơ chẳng cùng đồng,
Bốn
bên dấy loạn tợ đàn ong.
Mã
Tổ một phen vung kiếm bén,
Từ
đây đường nẻo tin tức thông.
12.
Cử: Quốc sư một ngày gọi thị giả ba lần. Thị giả ba
lần dạ. Quốc sư nói: Ngỡ là ta phụ ngươi, ngược lại
ngươi phụ ta.
Niêm:
Như người uống nước, lạnh nóng tự biết.
Tụng:
Dưới trên xướng họa xứng cùng hai,
Ý
ấy so đâu biết ngắn dài.
Nhằm trước phơi bày gan ruột sạch,
Trong
đây chỉ hứa tự mình hay.
13.
Cử: Đại Qui nói: Câu có câu không như dây leo cây. Sơ Sơn
hỏi: Cây ngã dây khô câu về chỗ nào? Đại Qui cười to
ha hả!
Niêm:
Nước chảy ắt về biển, trăng lặn chẳng rời trời.
Tụng:
Sóng lặng yên rồi, trận gió thâu,
Uổng
công hướng ngoại khổ tìm cầu.
Khối
nghi cười nát thành trăm mảnh,
Từ
đó mới phân đá với châu.
14.
Cử: Bá Trượng bảo: Thế nào là pháp không vì người nói?
Nam Tuyền đáp: Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng
phải vật.
Niêm:
Ngàn Thánh tìm dấu y chẳng được, toàn thân ẩn tại đại
hư không.
Tụng:
Trước đây công án không lệch nghiêng,
Đối
diện xem xem hội chăng liền.
Trong
ngôi Phật pháp mời chẳng ở,
Đêm
về như trước ngủ bờ lau.
15.
Cử: Nam Tuyền nói: Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải
đạo.
Niêm:
Uống cạn huyền vi lý, đường về dưới trăng đi.
Tụng:
Muôn tiếng trùng lặng, sao Đẩu dời,
Bầu
trời trong suốt gợn mây vơi.
Nương
tựa gậy lê lên gác ngắm,
Yên
yên lặng lặng thật thảnh thơi.
16.
Cử: Sau khi Lâm Tế khai hóa chỉ dùng gậy hét dạy đồ chúng.
Vừa thấy Tăng vào cửa liền hét.
Niêm:
Mùng năm tháng năm giờ ngọ viết,
Miệng
đỏ lưỡi độc tận tiêu trừ.
Tụng:
Vào nhà liền hét muốn làm chi?
Dẫn
được cháu con tỉnh giấc mê.
Chẳng
phải sấm xuân vang một tiếng,
Làm
sao vỏ hạt được nẩy mầm.
17.
Cử: Nam Tuyền nói: Tâm bình thường là đạo.
Niêm:
Lạnh nói là lạnh, nóng nói là nóng.
Tụng:
Rìu búa không cần, ngọc trắng tinh,
Đâu
do mài giũa để cầu tân.
Đường
về chẳng bước nhà vẫn tới,
Trao
kẻ trèo non buông thõng tay.
18.
Cử: Triệu Châu nói: Mọi người bị mười hai thời sai khiến,
Lão tăng sai khiến được mười hai thời.
Niêm:
Cậy thế dối người, không nơi căn cứ.
Tụng:
Lão này hay khiển mười hai thời,
Rồng
dữ cọp hung thảy được thuần.
Cần
phương chỉ sắt thành vàng thật,
Chẳng
để cho người có việc nghe.
19.
Cử: Tăng hỏi Lâm Tế: Thế nào là vô vị chân nhân? âm Tế
đáp: Cục cứt khô.
Niêm:
Bắn sẻ mất châu, ném chuột nhơ đồ.
Tụng:
Vô vị chân nhân, cục cứt khô,
Do
người Thích tử mất gia phong.
Nhìn
xuống xem xem, biết chẳng biết,
Con
trâu vào biển dấu vết không.
20.
Cử: Triệu Châu nói: Khám phá bà già ở Ngũ Đài Sơn xong.
Niêm:
Ngũ nghịch nghe sấm, chẳng cho bịt tai.
Tụng:
Khảy móng Đài Sơn hết nói ngoa,
Chẳng
phiền bước tới được về nhà.
Can
qua chẳng động lòng người phục,
Gươm
bén đâu cần ra hộp ngà.
21.
Cử: Triệu Châu nói: Phật vàng không độ được lò đúc,
Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được
nước, Phật thật ngồi trong nhà.
Niêm:
Núi là núi nước là nước, Phật ở chỗ nào?
Tụng:
Trên đồ Võng Xuyên xếp thành hình,
Ngày
trước Vương Duy được nổi danh.
Uổng
phí mực son nơi khó vẽ,
Trong
không trăng sáng cùng gió lành.
22.
Cử: Triệu Châu nói: Tôi ở Thanh Châu may một chiếc áo vải
nặng bảy cân.
Niêm:
Trấn Châu củ cải còn thể được,
Thanh
Châu áo vải lại phiền người.
Tụng:
Một manh áo vải thật lạ thường,
Tùng
Thẩm không màng chẳng cất rương.
Trong
đây nghĩ nghị chia cân lượng,
Cười
ngất nhà đông, Mạnh Bát Lang.
23.
Cử: Vị Tăng hỏi Triệu Châu: Con chó có Phật tánh không?
Triệu Châu đáp: Không. Tăng lại hỏi, Triệu Châu đáp: Có.
Niêm:
Lấy hai so một.
Tụng:
Hỏi ngay ở trước, đáp có không.
Bảo
thẳng ngay lời dứt nhóm ngông.
Một
đời tự phụ người tài giỏi,
Thế
ấy vẫn là chẳng trượng phu.
24.
Cử: Triệu Châu nói: Chỗ có Phật chẳng trụ, chỗ không
Phật chạy qua gấp.
Niêm:
Nước đến thành ao, roi va lằn nổi.
Tụng:
Chỗ Phật có không cả hai quên,
Lời
này xem lại chưa được toàn.
Sau
rốt cầm hoa đưa trở lại,
Chẳng
rời tấc bước đến Tây thiên.
25.
Cử: Thủ Sơn đưa trúc bề nói: Bảo là trúc bề tức chạm,
chẳng gọi trúc bề tức trái, hãy gọi là cái gì?
Niêm:
Chớ động đến, động đến ăn ba mươi gậy.
Tụng:
Trúc bề chạm, trái thật khó phân,
Ngay
đó rõ ràng nhắc với người.
Tuy vốn đường bằng bụi không dấy,
Một
trường bày hiện gai góc đầy.
26.
Cử: Tăng hỏi Động Sơn (Thủ Sơ): Thế nào là Phật? Sơn
đáp: Trên vách ba cân gai.
Niêm:
Gọi một vật lại chẳng trúng.
Tụng:
Hỏi Phật thế nào, nói đáp anh,
Động
Sơn trên vách gai mấy cân.
Tuy
nhiên không có phong trần dính,
Cũng
vẫn còn đem cảnh chỉ người.
27.
Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Hiện Tử: Thế nào là ý Tây sang?
Hiện Tử đáp: Mâm rượu trước bàn thần.
Niêm:
Nếu chẳng phải sư tử con, đâu khỏi chạy theo khối đất
lăn.
Tụng:
Chặt đứt cội nguồn không chỗ nương,
Ở
đây nhắc lại để anh tường.
Nếu
bảo trước thần là Tổ ý,
Khác
nào kẻ gọi khố là quần.
28.
Cử: Quốc sư Vô Nghiệp nói: Nếu niệm phàm thánh bằng đầu
sợi lông chưa hết, chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa. Hòa
thượng Bạch Vân Đoan nói: Giả sử niệm phàm thánh bằng
đầu sợi lông hết, cũng chưa khỏi vào bụng ngựa thai lừa.
Niêm:
Đốt non cần cọp chạy, đập cỏ cốt rắn kinh.
Tụng:
Lời này xét lại chí khí khinh,
Đập
cỏ cốt là bọn rắn kinh.
Nếu
người rành lối Trường An ấy,
Buông
thõng tay đi khỏi hỏi trình.
29.
Cử: Huyền Sa dạy chúng nói: Các bậc Lão túc khắp nơi đều
bảo: “Tiếp vật lợi sanh.” Chợt gặp ba hạng người bệnh
lại, làm sao tiếp? Người bệnh mù, giơ chùy dựng phất họ
chẳng thấy. Người bệnh điếc, nói năng tam-muội họ không
nghe. Người bệnh câm, dạy họ nói, nói không được.
Niêm:
Khát uống đói ăn, lạnh mặc nóng quạt.
Tụng:
Buồn thì ủ rũ vui tươi cười,
Mũi
dọc mày ngang chẳng khác người.
Đói
khát lạnh nồng tùy chỗ được,
Đâu
nên bất chợt lại sanh nghi.
30.
Cử: Thụy Nham thường gọi: Ông chủ nhân, tỉnh tỉnh đi,
về sau chớ bị người lừa gạt.
Niêm:
Khóc đến máu tuôn không chỗ dụng,
Chi
bằng ngậm miệng qua xuân tàn.
Tụng:
Thụy Nham thường gọi chủ nhân ông,
Lược
giỏi cơ sâu cũng chẳng hùng.
Nếu
quả thế gian tướng vô địch,
Đợi
gì gươm giáo mới là hưng.
31.
Cử: Tam Thánh nói: Tôi gặp người liền ra, ra thì chẳng vì
người. Hưng Hóa nói: Tôi gặp người thì chẳng ra, ra thì
vì người.
Niêm:
Một con rùa mù, nửa cặp trạnh què.
Tụng:
Gặp khát tức thì uống nước ngay,
Nói
ăn ngày trọn bụng đói chay.
Hai
bên gươm bén thôi niêm kín,
Khi
khác trẻ con miệng họa này.
32.
Cử: Nam Tuyền thấy Đặng Ẩn Phong đến, chỉ tịnh bình
nói: Tịnh bình là cảnh, ông không được động đến cảnh.
Niêm:
Nói có, nhằm chỗ nào để.
Tụng:
Trong gương không nhớp luống tự chùi,
Dụng
hết công phu uổng phí thôi.
Lặng
lặng im im tùy chỗ thích,
Cơm
xong liền đó uống chung trà.
33.
Cử: Thạch Đầu nói: Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy
cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được.
Niêm:
Các hạnh vô thường, tất cả đều khổ.
Tụng:
Câu nói hay khéo đem đến ông,
Tạm
làm mây trắng che cửa động.
Dù
cho toàn được mười phần đúng,
Vẫn ở giữa đường muôn dặm trông.
34.
Cử: Tăng hỏi: Thế nào là cảnh Giáp Sơn? Sơn đáp: Vượn
ẵm con về sau núi biếc, chim tha hoa rụng trước non xanh.
Niêm:
Cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa.
Tụng:
Giáp Sơn cảnh vắng không người đến,
Ngay
đó phải nên làm những gì?
Nếu
người thật được đôi mắt sáng,
Giờ
ngọ mặc tình trống canh ba.
35.
Cử: Tăng hỏi Mục Châu: Một hơi thở tụng hết một tạng
kinh không? Châu đáp: Có bao nhiêu bánh đem hết lại đây.
Niêm:
Buông tay đến nhà, chẳng nhọc tiến bước.
Tụng:
Một hơi tự khéo tụng tạng kinh,
Vạch
lá tìm cành chẳng nhọc mình.
Vô
biên huyền nghĩa đều hiện rõ,
Hỏi
đến Sơn tăng thảy chẳng minh.
36.
Cử: Trong hội Lâm Tế, hai vị Thủ tọa nhà Đông nhà Tây
gặp nhau đồng thời hét. Tăng hỏi: Lại có chủ khách hay
không? Lâm Tế đáp: Chủ khách rõ ràng.
Niêm:
Cũng là vượn trắng nói lăng xăng.
Tụng:
Thánh chúa ngày nay cổ hóa phong,
Bản
đồ văn phạm trọn cùng đồng.
Bờ
cõi xa gần phân rành rõ,
An
dân tế thế nào kể công.
37.
Cử: Huyền Sa nói: Nếu luận việc này, ví như người chủ
một thửa ruộng, đến trong một phạm vi đã bán cho các ông
rồi, chỉ còn cái cây ở trung tâm vẫn thuộc về Lão tăng.
Niêm:
Biển cả chẳng nạp tử thi.
Tụng:
Dù người liễu ngộ ngời ngời tỏ,
Muôn
lự đầu tâm hết lăng xăng;
Trong
đây còn có tơ hào dấy,
Vào
mắt mạt vàng lại xốn xang.
38.
Cử: Tăng hỏi Hòa thượng Tư (Hành Tư) về đại ý Phật
pháp.
Hòa
thượng Tư đáp: Ở Lô Lăng giá gạo bao nhiêu?
Niêm:
Bóng trúc quét thềm trần chẳng dấy,
Vầng
trăng xuyên biển nước không tỳ.
Tụng:
Lời này quả thật bậc anh linh,
Gồm
hết căn cơ tiếp hữu tình.
Một
hỏi, Lô Lăng gạo giá mấy,
Hoàn
toàn trọn chẳng dính đồ trình.
39.
Cử: Tăng hỏi Thiền sư Văn-thù: Muôn pháp về một, một
về chỗ nào? Văn-thù đáp: Sông Hoàng Hà chín khúc.
Niêm:Nhân
khi có trăng đẹp, bất thần qua Thương Châu.
Tụng:
Hoàng Hà chín khúc vì nêu ra,
Chẳng
dính đồ trình tự đến nhà.
Nhiều
kẻ ban ngày mở mắt ngóng,
Đâu
hay chim trĩ đến Tân La.
40.
Cử: Nam Tuyền hỏi Triệu Châu: Ngươi là Sa-di có chủ hay
Sa-di không chủ? Triệu Châu đáp: Có chủ. Nam Tuyền hỏi:
Thế nào là chủ? Triệu Châu khoanh tay thưa: Hôm nay kính chúc
Hòa thượng luôn được muôn phước.
Niêm:
Co tay chuyển chùy chẳng đổi gươm,
Người
khéo sử dụng đều được tiện.
Tụng:
Khoanh tay Tùng Thẩm chỉ cho người,
Chẳng
kẹt hai bên chủ tự phân.
Đâu
phải Hoa Lam Hàn lệnh thuật,
Nào
hay khéo nấu rượu Tuân tuần.
41.
Cử: Tăng hỏi Mộc Am: Thế nào là việc của Nạp y (Tăng
sĩ). Mộc Am đáp: Dùi châm chẳng vào.
Niêm:
Ngồi yên dứt mảy trần, hư không chẳng lối thông.
Tụng:
Cầm thì mịn mượt, ấn thì mềm,
Trán
sắt đầu đồng đụng chẳng xuyên.
Vốn
thật hư không, không gián cách,
Đêm
về như cũ hoa quế thu.
42.
Cử: Bàng cư sĩ nói: Đây là trường thi Phật, tâm không được
đậu về.
Niêm:
Tháp nhạn đề tên, không dung giấy trắng.
Tụng:
Áo may trăm mảnh giày cỏ xuyên,
Thi
Phật trong trường đã có tên.
Nếu
bảo tâm không lại ứng cử,
Chẳng
ăn roi vọt cũng ăn thoi.
43.
Cử: Từ Minh hỏi Chân Điểm Hung về đại ý Phật pháp. Chân
đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng sông. Minh
hét, nói: Đầu bạc răng vàng vẫn khởi kiến giải này. Chân
rơi lệ, giây lâu nói: Không biết thế nào là đại ý Phật
pháp? Minh đáp: Không mây sanh đỉnh núi, có trăng rơi lòng
sông. Chân đại ngộ.
Niêm:
Người nhân thấy thì gọi là nhân, người trí thấy thì gọi
là trí.
Tụng:
Kia đây đồng khảy một cung đàn,
Cần
phải trao cho bạn tri âm.
Không
mây, trăng có tuy đồng đấy,
Nào
khác núi cao cùng nước sâu.
Dốt:
Trọn ngày theo hồng trần,
Chẳng
biết báu nhà mình.
Ôi:
Buông tay không tựa toàn thể hiện,
Lão
chài thuyền nhỏ đậu hoa lau.
Giảng
Niêm
tụng kệ do ngài Trần Thái Tông biên soạn gồm bốn mươi
ba bài, mỗi bài chia làm ba phần: Cử, Niêm và Tụng. Cử là
đề ra hay nêu lên một câu chuyện hoặc một câu trong kinh
để giải thích. Niêm là rút gọn hay tóm tắt để nói rõ
ý nghĩa của vấn đề. Tụng là giải bày thành một bài kệ
bốn câu.
1.
Cử: Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng Vương cung,
chưa ra thai mẹ độ người đã xong.
Niêm:
Gươm báu chưa vung, tướng quân đã lộ.
Tụng:
Không có hình hài, chửa rời quê,
Sớm
tối đưa người qua bến mê.
Cất
bước ngao du không xen cách,
Chẳng
cần thuyền gỗ với phao bè.
Trong
kinh Hoa Nghiêm nói: “Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng
Vương cung, chưa ra thai mẹ độ người đã xong.”
Ngài
Trần Thái Tông toát yếu gọn lại: “Gươm báu chưa vung,
tướng quân đã lộ.” Nghĩa là người tướng quân chưa hươi
gươm chém giặc, mà hình thức tướng quân đã lộ, vì mang
giáp đeo kiếm nên biết là tướng quân. Cũng vậy, tuy đức
Phật chưa rời trời Đâu-suất đã giáng sanh trong Vương cung,
chưa ra khỏi thai mẹ đã hiển bày thể bất sanh bất diệt.
Không
có hình hài chửa rời quê,
Sớm
tối đưa người qua bến mê.
Tuy
chỉ là pháp thân, chưa có báo thân hay hóa thân, tức là chưa
ra đời mà đã độ chúng sanh rồi.
Cất
bước ngao du không xen cách,
Chẳng
cần thuyền gỗ với phao bè.
Pháp
thân trùm khắp không vắng mặt nơi nào, nên không phải chờ
có hình thức phao bè mới độ được người. Chính trong thể
bất sanh bất diệt là thể độ chúng sanh ra khỏi bến mê.
2.
Cử: Thế Tôn mới sanh ra một tay chỉ trời, một tay chỉ
đất nói: Trên trời dưới đất chỉ ta tôn quí.
Niêm:
Một áng mây trắng che cửa động,
Đàn
chim về tổ thảy quên đường.
Tụng:
Đạt-đa mới giáng Tịnh Vương cung,
Muốn
hóa quần sanh tự hiển tung.
Bảy
bước đi quanh chỉ trời đất,
Bao
người con Phật mất gia phong.
Đức
Phật vừa ra đời, tay chỉ trời tay chỉ đất nói: Trên trời
dưới đất chỉ ta là hơn hết. Nghe hai câu này có nhiều
người nghĩ ngã của Ngài to quá.
Nhớ
lại khi xưa tôi đi giảng, có một Phật tử hỏi: Thưa Thầy,
thường mỗi bài kệ trong kinh có bốn câu, vì sao ở đây
đức Phật chỉ nói hai câu:
Thiên
thượng thiên hạ,
Duy
ngã độc tôn.
Còn
hai câu nữa ở đâu? Tôi về tra lại trong kinh A-hàm, mới
biết còn hai câu nữa là:
Nhất
thiết thế gian,
Sanh
lão bệnh tử.
Như
vậy bài kệ có tất cả bốn câu:
Thiên
thượng thiên hạ,
Duy
ngã độc tôn.
Nhất
thiết thế gian,
Sanh
lão bệnh tử.
Dịch:
Trên
trời duới trời,
Chỉ
ta hơn hết.
Tất
cả thế gian,
Sanh
già bệnh chết.
“Chỉ
ta hơn hết” là hơn chỗ ta là người đã qua khỏi sanh già
bệnh chết, còn thế gian vẫn mắc kẹt trong bốn cảnh này.
Bên Đại thừa thường dùng hai câu trước bỏ hai câu sau,
tại sao? Vì không muốn nói qua khỏi sanh già bệnh chết là
hơn hết, tức là không nói người giải thoát sanh tử là
hơn hết. Đại thừa nói “Ta là hơn hết”, vì Ta là pháp
thân, chớ không phải Ta là thân phàm tục do báo, hóa hiện
ra, vì vậy nói Ta hơn hết là đủ rồi, không nói thêm hai
câu sau nữa.
Trong
kinh Kim Cang có bài kệ bốn câu thường được nhắc đến
là:
Nhược
dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ
âm thanh cầu ngã,
Thị
nhân hành tà đạo,
Bất
năng kiến Như Lai.
Dịch:
Nếu
dùng sắc thấy Ta,
Dùng
âm thanh cầu Ta,
Người
ấy hành đạo tà,
Không
thể thấy được Phật.
Chữ
Ta trong bài kệ không có sắc tướng, không có âm thanh, đó
là pháp thân. Pháp thân bất sanh bất diệt là hơn hết, không
phải chỉ đức Phật mới có, mà ai ai cũng có, nên nói Ta
hơn hết là đủ, không nói thêm nữa.
Một
áng mây trắng che cửa động,
Đàn
chim về tổ thảy quên đường.
Đây
là thấy hình thức mà không thấy chỗ về. Hình thức là
tay chỉ trời tay chỉ đất nói: Ta là hơn hết. Ai cũng nghĩ
Ta là thân này, cho nên không thể nào thâm nhập được lời
Phật nói. Ngài Trần Thái Tông dùng hai câu niêm để giải
thích: Vì đám mây trắng che cửa động, nên đàn chim quên
đường về tổ. Nghĩa là vì lầm chấp thân tứ đại là
Ta nên không ai trở về được với pháp thân bất sanh bất
diệt.
Đạt-đa
mới giáng Tịnh Vương cung,
Muốn
hóa quần sanh tự hiển tung.
Bảy
bước đi quanh chỉ trời đất,
Bao
người con Phật mất gia phong.
Ngài
Tất-đạt-đa vừa giáng sanh ở cung vua Tịnh Phạn, vì muốn
giáo hóa quần sanh nên Ngài hiển bày tung tích của mình, là
phải đạt được pháp thân. Chúng ta cứ nghĩ Ta là thân này
cho nên không ai thấy được chỗ Phật chỉ. Đức Phật đi
bảy bước tay chỉ trời, tay chỉ đất nói: Ta là hơn hết,
chủ yếu là chỉ thể bất sanh bất diệt nơi mọi người.
Vì lầm nhận thân tứ đại là mình nên không ai thấy được
pháp thân. Thế nên bao người con Phật quên mất gia phong nhà
mình.
3.
Cử: Thế Tôn đưa cành hoa, Ca-diếp mặt rạng rỡ mỉm cười.
Niêm:
Vén đứng lông mày để mắt xem,
Tiến
lên suy nghĩ cách ngàn non.
Tụng:
Thế Tôn nắm dựng một cành hoa,
Ca-diếp
sáng nay được đến nhà.
Nếu
bảo đây là truyền pháp yếu,
Về
Nam xe Bắc lối càng xa.
Đức
Phật nêu lên cành hoa, đưa mắt nhìn đại chúng, ai cũng im
lặng, chỉ có ngài Ca-diếp mỉm cười.
“Vén
đứng lông mày để mắt xem” là chỉ các bậc lão niên lông
mày rủ xuống, phải vén lên nhìn, nếu mỉm cười là đúng.
“Tiến lên suy nghĩ cách ngàn non”, vừa khởi niệm suy nghĩ
là cách xa ngàn dặm, không bao giờ thấy được.
Thế
Tôn nắm dựng một cành hoa,
Ca-diếp
sáng nay được đến nhà.
Đức
Thế Tôn đưa cành hoa nhìn đại chúng, ngài Ca-diếp mỉm cười.
Ngay đó đức Phật liền truyền pháp ấn cho Ngài: “Ta có
Chánh pháp Nhãn tạng, Niết-bàn Diệu Tâm..., nay trao cho Ma-ha
Ca-diếp.” Phật nói trao Chánh pháp Nhãn tạng mà Ngài có
trao cái gì không? Thế nên nói:
Nếu
bảo đây là truyền pháp yếu,
Về
Nam xe Bắc lối càng xa.
Muốn
về Nam mà xe hướng đầu đi qua phương Bắc thì càng đi càng
xa. Vậy có truyền pháp ấn hay không? Không có mà có. Nếu
nghĩ pháp ấn là cái gì từ tay trao cho là không bao giờ hiểu
được. Chẳng qua vị thầy muốn chỉ cái đó cho thấy, người
đệ tử nhận thấy, sáng lên, biết được ý thầy, vị thầy
liền ấn chứng. Vì thế đức Phật đưa cành hoa lên, chư
Tổ trong nhà Thiền dựng đứng phất tử, Tổ Bá Trượng
chỉ đốm lửa, yếu chỉ đâu có khác. Đó là những điểm
đặc biệt trong nhà Thiền.
4.
Cử: Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi
không lời.
Niêm:
Trừ người quả thật con ta đó,
Ai
kẻ bạo chân vào đường này.
Tụng:
Lao quan khó buộc có ai tri,
Ngôn
ngữ đều quên không chỗ y.
Chẳng
phải trong đời con ngựa giỏi,
Do
đâu bất chợt được tiện nghi.
Có
một ngoại đạo đến hỏi Phật: Tôi chẳng hỏi có lời,
chẳng hỏi không lời. Đức Phật ngồi lặng thinh. Ngoại
đạo tán thán: Thế Tôn vì con mà chỉ chỗ cứu kính. Vậy
Phật có nói câu nào không?
Trừ
người quả thật con ta đó,
Ai
kẻ bạo chân vào đường này.
Người
nào là con thật của ta mới dám đi đường này, ngoài ra không
ai dám cất bước vào.
Lao
quan khó buộc có ai tri,
Ngôn
ngữ đều quên không chỗ y.
Khi
đến chỗ cuối cùng, không bị trói buộc, đâu có ai biết
được. Tôi xin nhắc lại câu chuyện trong kinh: Có một ngoại
đạo đến hỏi Phật: Thưa Thế Tôn, con không hỏi có lời,
không hỏi không lời, Thế Tôn dạy cho. Đức Phật ngồi lặng
thinh giây lâu. Ngoại đạo nói: Thế Tôn thật là đại từ
đại bi, đã chỉ cho con chỗ cứu kính. Khi ngoại đạo đi
rồi, Ngài A-nan đứng hầu một bên, ngạc nhiên hỏi Phật:
Bạch Thế Tôn, ngoại đạo hiểu gì mà nói câu đó. Phật
bảo: Con ngựa hay thấy bóng roi liền chạy. Vì thế trong bài
tụng có hai câu:
Chẳng
phải trong đời con ngựa giỏi,
Do
đâu bất chợt được tiện nghi.
Bất
chợt là dịch chữ Hán “đặc địa”. Con ngựa hay là nhắc
lại câu chuyện trong kinh. Tất cả ngôn ngữ nói ra không phải
là cứu kính, tại sao? Vì ngôn ngữ lập trên phương diện
đối đãi, chớ không phải tuyệt đối. Như nói trắng là
đối với đen, nói tốt là đối với xấu, nói phải là đối
với quấy, không có câu nói nào ngoài đối đãi. Thường
đến chỗ vượt đối đãi chư Tổ chỉ hét hoặc hư một
tiếng mà không nói lời nào. Còn chúng ta cả ngày nói ồn
ào, cố gắng nói đến chỗ cứu kính, mà càng nói càng xa.
Dù có nói gì cũng ở trong đối đãi phải quấy, hơn thua,
còn đối đãi là không phải chân lý. Thế nên chân lý không
có ngôn ngữ, ngôn ngữ không có chân lý. Nhưng muốn cho người
hiểu chúng ta phải nói, lại còn viết sách nữa, đó đều
là mượn những đối đãi để tạm hiểu thôi. Thật ra chỗ
cứu kính không có ngôn ngữ, vì ngôn ngữ có hai lỗi: Một
là lập trên đối đãi không phải tuyệt đối. Hai là lời
nói do khởi nghĩ mới có nên động, còn chân lý là không
động, vì thế lời nói không đến được chân lý. Do hai
lỗi này nên mất đi cái chân thật. Việc này chỉ có con
cháu trong nhà mới biết được.
5.
Cử: Thế Tôn lên pháp tòa, Văn-thù bạch chúng rằng:
Quán
kỹ pháp Pháp vương, pháp Pháp vương như thế.
Niêm:
Khảy khúc Dương Xuân đàn không dây.
Muôn
năm ngàn thuở tiếng nào dứt.
Tụng:
Tuy nói câu câu chẳng vết tỳ,
Giấu
sừng đuôi vẫn hiện như ri.
Nào
giống một cành sáo không lỗ,
Vì
anh thổi khúc Thái bình thi.
Thế
Tôn lên pháp tòa, Văn-thù bạch chúng rằng: Quán kỹ pháp
Pháp vương, pháp Pháp vương như thế. Đây là bạch chùy,
tức là đánh kiểng rồi trình bạch với chúng: Quán kỹ pháp
của Pháp vương, pháp của Pháp vương như thế. Nói như vậy
mới đủ.
Khảy
khúc Dương Xuân đàn không dây,
Muôn
năm ngàn thuở tiếng nào dứt.
Khảy
bản nhạc Dương Xuân với cây đàn không dây, tiếng đàn
còn mãi không bao giờ dứt bặt. Nếu tiếng do động mà ra,
tức nhiên có sanh phải có diệt. Còn tiếng không động mà
có, tiếng đó không bao giờ diệt, nên muôn năm ngàn thuở
không bao giờ dứt.
Pháp
của Pháp vương như thế, chúng ta hiểu chữ “như thế”
ra sao? Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật giảng về “Thập Như
Thị”: như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị
báo v.v... tất cả là mười pháp như thế. Pháp của Pháp
vương như thế tức là pháp của Phật là như thế, đây là
chỉ tướng chân thật của các pháp.
Trong
nhà Phật chữ “như thế” có nghĩa rất đặc biệt. Tỉ
dụ đây là cái tách. Có người hỏi: Cái tách ra làm sao?
Đáp: Cái tách là cái tách, nó như thế. Đáp vậy là đúng
như thị. Nếu nói cái tách này xấu là có so sánh với cái
tách khác đẹp hơn. Tức là khi trước chúng ta đã thấy một
cái tách khác và đem hình bóng của cái tách cũ để đối
chiếu với cái tách hiện giờ. Chúng ta luôn luôn dùng hình
bóng quá khứ để so sánh với hiện tại, có so sánh là không
thấy như thật. Nếu nói cái tách là cái tách, không nói gì
thêm, nhìn thấy nó như thế là thấy như thật, đó là nhìn
đúng với con mắt nhà Thiền. Nếu nhìn cái tách nói là đẹp
là xấu, là nhìn với con mắt phân biệt so sánh, tức không
thấy đúng như thật.
Như
hiện giờ chúng ta nhìn một người đã có ác cảm với mình
khi trước, vừa trông thấy người ấy, chúng ta cảm thấy
không vui trong lòng, dù người ấy đang nói những lời tốt
lành với bè bạn. Đó là chúng ta nhìn với khuôn cũ sẵn
có cho người ấy là xấu, không thể nào tốt được. Giả
sử có người có cảm tình với chúng ta khi trước, bị phê
bình là xấu là dở, chúng ta liền phản đối và bênh vực
ngay. Tại sao? Vì chúng ta nhìn theo hình bóng đẹp khi xưa đã
có sẵn nơi chúng ta, nên không thấy đúng như thật về con
người đó. Tóm lại, nếu thấy đúng “như thế”, thì khi
nhìn một người nào, chúng ta không có gì bực bội chê bai
hay bênh vực bào chữa. Vì thế người tu thiền là lột hết
những khuôn cũ, những kiến chấp cũ mà thế gian gọi là
thành kiến hay định kiến, chỉ thấy con người và sự vật
đúng như thật ngay đây và hiện giờ, các pháp như thế nào
thấy như thế ấy, chớ không đem khuôn cũ để so sánh với
cái mới hiện tại. Thế nên pháp “như thị” rất hay, rất
đặc biệt. Tinh thần đạo Phật là thấy tất cả như thật,
không theo thành kiến của chính mình hay của những người
thân thuộc bạn bè lập ra. Nếu thấy đúng tinh thần “như
thị’ thì chúng ta không có phiền não. Trái lại thấy trong
so sánh phân biệt thì chúng ta sẽ bực bội rất nhiều. Đối
diện với người oán hờn mình, nếu thấy “như thị” thì
chúng ta không còn bực tức, nghĩa là không có oán tắng hội
khổ. Nếu sống “như thị” thì có người thương hay không
có cũng thôi, thì đâu có ái biệt ly khổ. Sống “như thị”
thì không khởi niệm mong cầu, thế là không còn cầu bất
đắc khổ... Thấy “như thị’ thì tất cả khổ đau theo
đó tan hoang như mây khói. Sở dĩ hiện nay bao nhiêu thứ khổ
đau dồn dập tới là vì chúng ta sống với hình bóng quá
khứ, sống với mong cầu tương lai, chớ không sống với các
pháp hiện tại. Những gì trong quá khứ chúng ta cứ nuôi dưỡng,
nên khi đối diện với hiện tại, như ý thì vui, trái ý thì
buồn, như ý và trái ý là đối với khuôn cũ sẵn có. Dù
cho hiện tại có thay đổi chăng nữa, nhưng vì thành kiến
nên luôn luôn chúng ta sống trong đau khổ. Nếu sống đúng
như thị thì chúng ta sẽ được an lành tự tại, những khổ
đau ngang đây chấm dứt.
Như
vậy cái thấy đúng “như thị” là cái thấy đạo đức,
đâu mất thời giờ để nói chuyện năm xưa, đâu mất thời
giờ để so sánh đối chiếu. Sống trong hiện tại, giờ ăn
cơm cứ ăn cơm, giờ cuốc đất cứ cuốc đất, như thế
chúng ta tránh được bao thứ điên đảo, hoặc của thời
quá khứ hoặc của mong đợi tương lai. Thế nên Thiền sư
nói: Cây gậy là cây gậy. Đó là nhìn đúng “như thị”.
Pháp của Pháp vương như thế, mới nghe dường như đơn giản,
kỳ thật khó hiểu làm sao! Song gốc của đạo là ở đây
vậy, nên nói tiếng đàn không dây rất tuyệt vời không bao
giờ mất.
Tuy
nói câu câu chẳng vết tỳ,
Giấu
sừng đuôi vẫn hiện như ri.
Nếu
nói câu nào đều đúng “như thị” thì câu câu đều không
tỳ vết. Giấu sừng mà đuôi vẫn hiện, nói như thị mới
nghe tưởng như bí mật, nhưng đã bày hiện lẽ thật rồi,
đó là giấu đầu mà ló đuôi.
Nào
giống một cành sáo không lỗ,
Vì
anh thổi khúc Thái bình thi.
Như
có cành trúc dùng làm ống sáo mà không có lỗ, vì anh thổi
khúc sáo Thái bình. Ai sống được như thị sẽ được thái
bình an lạc muôn đời. Chúng ta hãy thử sống một ngày “như
thị” xem có được thái bình muôn thuở chăng? Vì sống với
quá khứ và vị lai cho nên chúng ta thường bất bình nổi
sóng. Chúng ta ngồi lại cứ ôn nhớ những chuyện cũ rồi
tự mình chuốc khổ, buồn thương giận ghét. Còn sống ngay
hiện tại, tất cả như thế, thì đâu có khổ, đó thật
là thái bình.
Việc
tu hết sức là đơn giản, đâu phải làm những điều gì
khó khăn, chỉ thấy đúng như thế thôi, không có so sánh để
khen chê thương ghét. Nếu còn so sánh là còn thương ghét,
khen chê, nhân đó sanh ra các thứ phiền não. Nếu thấy các
pháp đều như thế thì không còn thương ghét khen chê, chẳng
phải khúc sáo thái bình là gì? Như vậy tu là cốt đem lại
cho mình một cuộc đời bình an vô sự, thanh thản không phiền
hà, đó là “như thị”.
6.
Cử: Vua nước Kế-tân cầm kiếm, bảo Tổ thứ hai mươi bốn
(Tổ Sư Tử) rằng: Thầy được năm uẩn không chăng? Tổ
đáp: Đã được. Vua hỏi: Lìa sanh tử chăng? Tổ đáp: Đã
lìa. Vua hỏi: Có thể thí cái đầu cho tôi được không? Tổ
đáp: Thân còn không phải của ta, huống nữa là đầu! Vua
liền chém. Sữa trắng vọt ra, tay vua tự rơi.
Niêm:
Đem đầu kề gươm bén,
Dường
như chém gió xuân.
Tụng
: Đao bén chém nước cùng xuy quang
(thổi ánh sáng),
Việc
này nên biết nào ngại gì.
Báo
tin sáng ấy xa khói, sóng,
Ai
biết riêng có nghĩ suy lành.
Đây
là câu chuyện Tổ Sư Tử bị vua Kế-tân giết. Ngài Trần
Thái Tông niêm:
Đem
đầu kề gươm bén,
Dường
như chém gió xuân.
Vua
Kế-tân đưa kiếm chém đầu Tổ dường như chém gió mùa
xuân. Tại sao? Vì Tổ đã nói: Thân này còn không phải của
ta huống nữa là đầu. Tức là thân này không phải của Ngài,
nên khi bị chém đầu, Ngài xem như chém gió xuân, không có
dính dáng gì với Ngài cả. Nếu người tu đến được chỗ
này là thành Tổ rồi. Còn chúng ta hiện nay, nếu kiếm bén
đưa đến gần liền quì lạy van xin tha mạng, là vì chúng
ta còn thấy cái ngã quá to, quá nặng, nhưng với Tổ, Ngài
thấy cái ngã không còn nữa. Thế nên có bài tụng:
Đao
bén chém nước cùng xuy quang
(thổi ánh sáng),
Việc
này nên biết nào ngại gì.
Dùng
dao bén chém nước hay chém lửa cũng không được, nước và
lửa không bị đứt. Dùng miệng thổi ánh sáng mặt trời,
ánh sáng cũng không lay động. Như thế cầm dao chém lửa đang
cháy, lửa không có vết tích gì, dùng dao chém nước dưới
sông, nước cũng không tỳ vết. Đây là nói lên ý nghĩa:
Khi vua Kế-tân cầm kiếm chém đầu Tổ Sư Tử, cũng như chém
nước chém lửa, cũng như thổi ánh sáng, đối với Tổ không
có nghĩa lý gì, nên nói “việc này nên biết nào ngại gì”.
Tuy Tổ bị giết mà không có chút gì ngại ngùng hay khó khăn.
Báo
tin sáng ấy xa khói, sóng,
Ai
biết riêng có nghĩ suy lành.
“Xa
khói, sóng” tức là bỏ thân nhớp nhúa vô thường. Thân
này như khói, như sóng không có giá trị gì. Tuy bị chặt
đầu, bỏ thân khói sóng, nhưng vẫn có hiện tượng tốt
đẹp, nên nói: “riêng có nghĩ suy lành”, nghĩa là khi ấy
Tổ được thảnh thơi giải thoát. Bỏ thân bại hoại vô
thường, sống với thể bất sanh bất diệt, thì đẹp biết
dường nào, đâu có gì phải lo sợ hay buồn khổ. Thế nên
qua lời giảng của ngài Trần Thái Tông chúng ta thấy rõ những
gì cần làm, cần tu, chớ không phải chỉ nói chuyện suông,
nhất là đối với người tu Thiền.
7.
Cử: Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm ở Lạc Dương.
Chín năm ngồi xây mặt vào vách.
Niêm:
Để mắt xem, thôi ngủ gật.
Tụng:
Chim bằng vỗ cánh đến Nam Minh (Nam Hải),
Nối
gót luống công muôn dặm trình.
Đêm
trước chỉ tham vui yến tiệc,
Sáng
nay bất giác say men nồng.
Đây
là kể lại câu chuyện Tổ Đạt-ma khi đến ở chùa Thiếu
Lâm, tại kinh đô Lạc Dương.
“Tổ
Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm, chín năm ngồi xây mặt vào
vách” để làm gì?
Ngài
Trần Thái Tông niêm gọn lại: Để mắt xem, thôi ngủ gật.
Tức là ngồi đó nhìn xem, chớ có ngủ gật. Chúng ta đừng
tưởng lầm Tổ tiêu cực yếm thế, ngồi xây mặt vào vách,
không nói đến ai. Mục đích Tổ ngồi đó là chờ người
đủ điều kiện đến để truyền trao chánh pháp. Như vậy
đây là một việc làm phi thường, chớ không phải có tánh
cách tiêu cực, yếm thế, trốn thiên hạ. Cho nên có bài tụng:
Chim
bằng vỗ cánh đến Nam Minh
(Nam
Hải),
Nối
gót luống công muôn dặm trình.
Chim
đại bàng một khi vỗ cánh liền tới biển Nam Hải. Nếu
bắt chước nối gót theo sau thì luống công vô ích, vì chim
vỗ cánh đã bay xa muôn dặm, chúng ta có đi theo cũng không
kịp. Đó là nói việc làm của Tổ Đạt-ma giống như chim
đại bàng vỗ cánh. Nếu chúng ta bắt chước ngồi xây mặt
vào vách như Ngài, chỉ uổng công vô ích, chớ không bao giờ
giống Ngài được.
Đêm
trước chỉ tham vui yến tiệc,
Sáng
nay bất giác say men nồng.
Đêm
trước chúng ta mê vui trong yến tiệc đến khuya, sáng lại
giựt mình thức dậy, mặt trời đã lên cao mà còn say trong
men nồng. Hai câu này ý nói: Chúng ta ở trong mê, mà tưởng
lầm là giác, cũng như chúng ta bắt chước Tổ ngồi xây mặt
vào vách, mà không biết mục đích của Ngài. Đó là bắt
chước trong mê, chớ không phải đúng, như thế mê lại thêm
mê, không có lợi ích gì.
8.
Cử: Nhị Tổ xin Sơ Tổ pháp an tâm. Sơ Tổ bảo: Đem tâm
ra ta an cho ông. Nhị Tổ thưa: Con tìm tâm không thể được.
Sơ Tổ bảo: Ta an tâm cho ông rồi.
Niêm:
Em bé lên ba ôm trống giấy,
Ông
già tám chục mặc áo cầu.
Tụng:
Tâm đã không tâm nói với ai,
Người
câm thức mộng mắt tròn xoe.
Lão
tăng dối bảo an tâm đấy,
Cười
ngất bàng quan chẳng tự hay.
Nhị
Tổ Huệ Khả xin Sơ Tổ Đạt-ma pháp an tâm. Sơ Tổ bảo:
Đem tâm ra ta an cho. Ngài Huệ Khả tìm tâm không được, thưa:
Con tìm tâm không được. Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi
rồi. Như vậy Tổ có an tâm thật hay không? Làm cách gì để
an tâm? - Không có một pháp để an tâm. Thế mà Sơ Tổ lại
bảo đã an tâm cho ngươi rồi. Đó là nói thật hay không?
Ngài
Trần Thái Tông niêm:
Em
bé lên ba ôm trống giấy,
Ông
già tám chục mặc áo cầu.
Trống
giấy là của người lớn khéo đánh mới không bể, lại đưa
cho con nít lên ba vỗ thì lủng ngay. Còn ông già tám mươi
tuổi lại mặc áo cầu, là áo vẽ hình bông hoa để cho con
nít mặc.
Ý
ngài Trần Thái Tông nói Tổ Đạt-ma chỉ pháp an tâm cho Tổ
Huệ Khả giống như là trao trống giấy cho đứa trẻ lên
ba, hay là bắt ông già tám mươi tuổi mặc áo bông vậy. Đây
là Tổ Đạt-ma đánh lừa nhưng rất khéo.
Tụng:
Tâm
đã không tâm nói với ai,
Người
câm thức mộng mắt tròn xoe.
Tâm
đã không thật làm sao nói! Cũng như người câm nằm ngủ
mộng thấy mình được đãi một bữa tiệc rất ngon, khi thức
dậy muốn kể lại cho bạn bè làm sao kể? Chỉ nhìn người
rồi trợn tròn đôi mắt, chớ không nói gì được. Cũng như
vậy, tâm không thật lại bảo đem ra, làm sao đem. Tâm vọng
tự nó dấy lên mình thấy nhưng không nói cho người nghe được,
chỉ cho người thấy được, giống như người câm nằm mộng
mà bảo kể lại giấc mộng thì không kể được.
Lão
tăng dối bảo an tâm đấy,
Cười
ngất bàng quan chẳng tự hay.
Tổ
nói: ta an tâm cho ngươi rồi, đó là một cách nói dối, nhưng
dối mà không dối. Người bàng quan không biết được việc
này.
Hiện
giờ chúng ta có biết Tổ Đạt-ma an tâm bằng cách nào không?
Đây là thuật của Tổ, bảo an tâm mà tâm đó hư dối không
thật, làm sao an? Tỉ dụ như hiện giờ cái tách cái dĩa có
hình tướng để bên cạnh ghế nó sẽ ngã đổ, nếu để
giữa bàn bảo đảm là an ổn. Vậy có hình thức mới có
chỗ nơi. Còn tâm suy nghĩ vọng tưởng của chúng ta hiện
giờ ra sao đang ở đâu? Nó không hình không tướng, muốn
an làm sao an? Thế nên Sơ Tổ bảo: Tìm tâm đem ra ta an cho.
Nghĩa là ông muốn an cái không hình không tướng, nếu tìm
được đem ra đây, thì ta an được. Nhưng ngài Huệ Khả tìm
đáo để không được. Khi tìm không được, tức là tâm an
mất rồi. Như vậy ngài Huệ Khả tự an tâm mà nói Sơ Tổ
an tâm, không phải nói dối là gì? Thế mà chúng ta nghĩ có
pháp an tâm thật, đó là người bàng quan không biết gì.
Trọng
tâm việc tu là biết xoay lại tìm. Vì tâm vọng không thật,
nên một phen tìm lại nó mất tiêu, thế là tự nó đã an
rồi. Nói an tâm nhưng thật ra không có tâm nào, không có cách
nào để an, chỉ là biết xoay lại soi sáng chính mình, tâm
vọng mất đi, đó là an tâm. Đây là điểm đặc biệt trong
nhà Thiền, nếu chúng ta không nắm vững, khó mà biết được
chỗ này.
9.
Cử: Ngài Văn-thù thấy cô gái nhập định gần Phật.
Ngài đến xuất định không được. Phật sai Bồ-tát Võng
Minh đến xuất định được.
Niêm:
Đứa con oan gia, mất gia phong ta.
Tụng:
Đều cùng xuất định có sơ thân,
Định
ấy nên là chửa chánh chân.
Nếu
thật Hóa công không hậu bạc,
Xoay
vần xuân đến khắp mọi phần.
Đây
là câu chuyện dẫn trong kinh: Một hôm đức Phật đang thuyết
pháp cho Tăng chúng, có một cô gái đến ngồi gần tòa đức
Phật nhập định. Ngài Văn-thù thấy vậy là vô phép, mới
dùng thần thông để xuất định cho cô, nhưng không được.
Sau đó đức Phật bảo Bồ-tát Võng Minh đến xuất định
thì cô mới xuất. Ngài Võng Minh là Bồ-tát mới tu, còn ngài
Văn-thù là Bồ-tát Đại Trí, rất là đặc sắc, thế mà
Ngài không làm được việc mà một vị sơ cơ làm được.
Như vậy định của cô gái có phải là đại định không?
Lời
Niêm: Đứa con oan gia, mất gia phong ta. Nếu là định cứu
kính chân thật thì người đại trí đã cho xuất được,
còn định đó chưa phải là chân thật nên người tu sơ cơ
cũng xuất được. Thí dụ như có những Phật tử nghiên cứu
Phật pháp khá, đến đây hỏi đạo lý với tôi, khi tôi giảng
nói họ nghe họ hiểu. Còn nếu người chưa hiểu Phật pháp
chút nào hay hiểu lệch lạc, đến đây hỏi, tôi có nói họ
cũng không hiểu. Nhưng khi đến nhà khách, thầy Tri khách nói
họ lại hiểu. Vậy những gì cao sâu thì người tu cao nói
được, còn những điều thông thường thì người thường
nói chuyện vui vui đây kia họ nghe họ hiểu.
Thế
nên có lời bình như sau:
Đều
cùng xuất định có sơ thân,
Định
ấy nên là chửa chánh chân.
Nếu
cùng xuất định mà có kẻ sơ người thân thì định ấy
chưa chân chánh.
Nếu
thật Hóa công không hậu bạc,
Xoay
vần xuân đến khắp mọi phần.
Nếu
thật trời đất không có đối với người sâu, cạn khác
nhau thì nơi đâu cũng được mùa xuân. Nhưng vì có hậu bạc,
nên mùa xuân không cùng khắp. Đó là để nói định có chân
và không chân, không phải định nào cũng đều chân chánh
như nhau.
10.
Cử: Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa từng
thiếu tương muối.
Niêm:
Dù cho chẳng phạm mảy may,
Vẫn
là cầm bánh dính tay.
Tụng:
Trước kia làm bạn khách rượu trà,
Quán
rượu thường nằm bên cạnh nhà.
Giả
thử khoe khoang người lanh lợi,
Giữa
đường mất áo chịu thôi mà.
Đây
là câu chuyện trong sử, Mã Tổ ra đi giáo hóa, trụ ở Giang
Tây. Thầy Ngài là Tổ Nam Nhạc Hoài Nhượng cho người tới
hỏi: Từ khi rời Tổ Nam Nhạc đến nay, Thầy ở đây truyền
bá thế nào? Mã Tổ nói: Từ sau loạn Hồ ba mươi năm, chưa
từng thiếu tương muối. Loạn Hồ tức là thời loạn lạc
ở Trung Hoa. Sau đó ba mươi năm thì tương muối lúc nào cũng
sẵn, không có thiếu. Ý muốn nói từ khi thấy đạo đến
nay, lúc nào cũng hiện tiền, không có thiếu thốn.
Niêm:
Dù
cho chẳng phạm mảy may,
Vẫn
là cầm bánh dính tay.
Nói
chưa từng thiếu tương muối, nghĩa là khoe ta là người không
có thiếu. Như thế tuy không phạm lỗi, nhưng cũng là cầm
bánh dính tay, hơi dơ một chút.
Ngài
Trần Thái Tông có lời bình:
Trước
kia làm bạn khách rượu trà,
Quán
rượu thường nằm bên cạnh nhà.
Giả
thử khoe khoang người lanh lợi,
Giữa
đường mất áo chịu thôi mà.
Trước
kia tức là lúc loạn Hồ.
Khoe
khoang người lanh lợi là nói Mã Tổ bảo chưa từng thiếu
tương muối. Nhưng giữa đường mất áo phải chịu thôi,
nghĩa là tuy lanh lợi thật nhưng cũng bị mất áo tìm không
được, vậy mới đúng với ý nghĩa cầm bánh dính tay. Nếu
tự cho mình không từng vắng thiếu, vẫn là có chút khoe khoang!
Phụ
chú:
1.
Những bài Niêm Tụng này, mới nghe thấy rất khó. Người
nghe chỉ có hứng thú trong cái dứt bặt nghĩ tưởng, còn
suy gẫm thì không thấy thú chút nào. Nghe rồi mỗi ngày thấm
một ít, lâu ngày thành quen, mới biết Thiền rất là quan
trọng. Nhiều khi chúng ta nghĩ Thiền nói chuyện đâu đâu
không hiểu nổi, dù có hay cũng trở thành không hay. Nếu không
hay thì sách vở để lại làm gì cho vô ích? Chúng ta cần
phải nhận hiểu đôi chút để nếm được hương vị Thiền
mới thấy cái hay của người xưa. Người xưa hiểu và ứng
dụng tới đâu, chúng ta ngày nay cũng noi theo gương đó để
thực hành. Tuy những bài Niêm Tụng có khô khan nhưng chúng
ta cố gắng nghe, rồi sẽ thấm được vị Thiền.
2.
Chữ Biết trong đạo Phật
Hôm
nay chúng tôi nói thêm về chữ Biết trong đạo Phật để
quí vị nghe và nhận định kỹ trước khi bước vào đường
tu tập.
Chữ
Biết danh từ chuyên môn trong đạo gọi là Tâm. Đức Phật
nhìn thấy nơi con người chúng ta có hai loại biết:
1.-
Loại biết do duyên với bóng dáng của sáu trần rồi khởi
suy nghĩ phân biệt, đó là cái biết sanh diệt, trong nhà Phật
gọi là Vọng tâm.
2.-
Còn cái biết sẵn nơi sáu căn, không do duyên với bóng dáng
sáu trần, cũng không do suy nghĩ phân biệt, mà luôn luôn hằng
có, đó là cái biết không sanh diệt, trong kinh Lăng Nghiêm
đức Phật gọi là Chân tâm.
Như
vậy Chân tâm là cái biết thường hằng không sanh diệt, còn
Vọng tâm là cái biết duyên theo bóng dáng sáu trần, cái biết
này hư dối, chợt sanh chợt diệt, chợt có chợt không, không
phải là thật. Nhưng hầu hết chúng ta đang sống trong cái
biết sanh diệt đó. Lúc nào có nghĩ có tính thì gọi là biết,
khi không nghĩ không tính tưởng chừng như không biết. Vì
thế chúng ta nhận cái biết sanh diệt làm tâm của mình, còn
cái biết hằng hữu không sanh không diệt, mình lại bỏ quên,
không nhận ra nó. Thế nên đức Phật nói chúng ta cứ mãi
đi trong luân hồi sanh tử.
Cái
biết duyên theo bóng dáng sáu trần, mà sáu trần là tướng
vô thường sanh diệt, nên cái biết cũng là niệm sanh diệt.
Bên ngoài chạy theo cảnh sanh diệt, bên trong nhận tâm sanh
diệt làm mình, chạy theo hai tướng sanh diệt thì nhất định
chúng ta phải đi trong sanh tử luân hồi. Ai cũng như ai đều
chấp nhận, đều sống như vậy, cho nên đức Phật bảo:
Chúng sanh bị trầm luân trong sanh tử luân hồi.
Hiện
nay muốn dứt dòng sanh tử, đức Phật dạy chúng ta phải
trở lại cái biết chân thật chưa bao giờ sanh diệt, cái
biết đó mới là thật mình, mới là hằng hữu. Vì nó không
duyên theo bóng dáng của sáu trần, nên không phải tướng
sanh diệt, không sanh diệt thì làm gì có sanh tử luân hồi?
Thế nên chúng ta sống trở về với cái biết chân thật là
chúng ta biết tu, trở về cái không sanh diệt là chúng ta giải
thoát. Thế thì sanh tử hay giải thoát gốc ở nơi mình. Nếu
lầm nhận cái biết sanh diệt là mình thì lăn trong sanh tử,
nhận cái biết không sanh diệt là mình thì giải thoát sanh
tử.
Lâu
nay sở dĩ chúng ta quanh quẩn không tìm ra lối đi, vì bị
sanh diệt chi phối. Nghiệm cho thật kỹ, mỗi khi chúng ta suy
nghĩ, thì cái suy nghĩ là cái biết sanh diệt. Cái suy nghĩ
đó luôn luôn kèm theo những hình bóng của trần cảnh, hay
ngôn ngữ, mà trần cảnh và ngôn ngữ đều là tướng sanh
diệt, nên cái suy nghĩ về hai tướng đó cũng sanh diệt. Thế
mà chúng ta cứ mãi sống theo cái sanh diệt, chớ không bao
giờ sống với cái thật của mình. Nay muốn giải thoát sanh
tử, chúng ta phải dừng cái sanh diệt để nhận ngay nơi mình
có cái biết không sanh diệt, đó là chúng ta hướng về con
đường giải thoát, trong nhà Thiền gọi là trở về cố hương.
Còn đi theo sáu trần để chịu sanh tử, đó gọi là lang thang
làm khách phong trần.
Hiễu
rõ chỗ này rồi, chúng ta mới biết nhà Thiền nhắm thẳng
vào cái gì. Nếu không hiểu, chúng ta thấy các Thiền sư nói
những chuyện đâu đâu, rất là vô nghĩa vô lý. Thông thường
chúng ta quen câu nói nào cũng phải có nghĩa có lý, tức là
có suy gẫm, càng suy gẫm thì càng lăn trong sanh diệt. Thế
nên câu nói hay nhất của nhà Thiền là câu nói không suy nghĩ
được. Câu nói không suy nghĩ được mà mình nhận ra, thì
đó là những câu rất hay, trong nhà Thiền gọi là lời nói
sống hay hoạt ngữ. Còn câu nói mà suy nghĩ được nhà Thiền
gọi là tử ngữ hay câu nói chết. Hiểu như vậy, khi đi sâu
trong tinh thần Thiền tông, chúng ta mới thấm được cái hay.
Nếu không, chúng ta nghe nói sao lạ lùng quá, không có một
chút ý vị gì, nhưng không ý vị lại được các ngài khen,
còn nói có suy gẫm thấy hay lại bị các ngài chê. Đó là
chỗ thiết yếu trong sự tu. Nếu tu Thiền mà không nắm vững
được lý này, thì không hiểu được đạo Phật. Đạo Phật
cốt dạy chúng ta giác ngộ và giải thoát. Giác ngộ giải
thoát là tự nơi mình. Tâm tư lóng lặng, trí tuệ sáng suốt,
thấy được lẽ thật thì giác ngộ. Thấy được lẽ thật
và sống được với lẽ thật đó, thì chúng ta không bị
sanh tử nữa, đó là giải thoát. Gốc của sự tu là ở ngay
chỗ này.
Chúng
tôi phác họa đại khái để khi nghe các Thiền sư nói chuyện,
quí vị không có ngỡ ngàng, không thấy khó khăn. Nếu không
thì khi nghe những câu nói vừa vô nghĩa, vừa thô kệch, quí
vị nghĩ rằng các Thiền sư nói năng không có gì hay cả,
nhưng chính lời thô kệch vô nghĩa lại được khen, còn những
lời văn hoa bóng bẩy lại bị chê. Hiểu được như vậy
mới thấy chỗ đặc biệt của nhà Thiền.
11.
Cử: Bá Trượng tái tham Mã Tổ, Mã Tổ hét một tiếng. Bá
Trượng đại ngộ.
Niêm:
Ngàn mũi nhọn, không bằng một nhát mai cùn.
Tụng:
Ngày trước xe thơ chẳng cùng đồng,
Bốn
bên dấy loạn tợ đàn ong.
Mã
Tổ một phen vung kiếm bén,
Từ
đây đường nẻo tin tức thông.
Đây
là câu chuyện ngài Bá Trượng tái tham Mã Tổ. Tái tham tức
là trở lại tham vấn lần thứ hai. Sở dĩ trở lại tham vấn
là lý do như sau: Một hôm Mã Tổ đi dạo, ngài Bá Trượng
theo hầu. Thấy một bầy vịt trời bay qua, Mã Tổ hỏi: Đó
là cái gì? Sư thưa: Con vịt trời. Mã Tổ hỏi: Bay đi đâu?
Sư thưa: Bay qua (tức là bay qua mất). Mã Tổ bèn nắm lỗ
mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh. Mã Tổ bảo: Lại
nói bay qua đi. Ngay câu ấy Sư tỉnh ngộ.
Qua
câu chuyện trên, chúng ta thấy thầy trò như nói đùa nhau.
Đi dạo vườn, thấy bầy vịt trời bay ngang trên hư không.
Thầy hỏi: Cái gì? Trò đáp: Bầy vịt trời. Lại hỏi: Đâu
rồi? Trò phải đáp làm sao? Tất nhiên phải đáp: Bay qua mất.
Thầy liền nắm lỗ mũi kéo mạnh một cái, trò đau la thất
thanh. Thầy bảo: Lại nói bay qua đi. Như vậy câu nói đó
có lý thú gì mà ngay đó ngài Bá Trượng liền tỉnh ngộ?
Chúng ta thử lặng tâm xem có thấy được chỗ ngộ của Ngài
không?
Trở
lại việc trước, khi ngài Bá Trượng làm thị giả cho Mã
Tổ, mỗi khi thí chủ đem trai phạn đến, Ngài giở lồng
bàn ra, Mã Tổ liền cầm nửa cái bánh đưa lên giữa chúng
hỏi: Đây là cái gì? Trải qua ba năm như vậy, thị giả chịu
thua không trả lời được.
Nếu
chúng ta thưa: Là cái bánh, có trúng chỗ Tổ muốn nói chưa?
- Chưa trúng. Qua thời gian ba năm, ngài Bá Trượng đã nuôi
dưỡng cái gì rồi. Cho đến hôm nay thầy trò đi dạo vườn,
Tổ mới sử dụng thuật bầy vịt trời bay qua, xem như Mã
Tổ đã chuẩn bị trước ba năm, đến lúc này Tổ mới sử
dụng và ngài Bá Trượng liền được tỉnh ngộ.
Khi
ngộ xong trở về phòng thị giả, Sư khóc rất thống thiết.
Những người cùng phòng hỏi: Huynh nhớ cha mẹ phải không?
Sư đáp: Không. Hỏi: Bị người ta mắng chửi chăng? Đáp:
Không. Tại sao khóc? - Lỗ mũi tôi bị Hòa thượng kéo đau
thấu xương. Huynh đệ mới hỏi: Có nhân duyên gì không khế
hội? Ngài trả lời: Huynh hỏi Hòa thượng đi. Những vị
ấy đến hỏi Mã Tổ: Thị giả Hải có nhân duyên gì chẳng
khế hội ở trong phòng khóc, xin Hòa thượng vì chúng con nói.
Mã Tổ bảo: Y đã khế hội, các ngươi tự hỏi lấy y. Các
vị về phòng hỏi: Hòa thượng nói huynh đã hội, bảo chúng
tôi về hỏi huynh. Sư bèn cười hả hả. Các vị ấy bảo:
Vừa rồi khóc, sao bây giờ cười? Sư đáp: Vừa rồi khóc
bây giờ cười. Các vị ấy mờ mịt không hiểu.
Cách
tu hành này thật lạ lùng, chúng ta thấy sự diễn tiến rất
kỳ đặc. Tổ đưa nửa cái bánh lên hỏi: Đây là cái gì?
Ai không biết là cái bánh, tại sao Tổ lại cầm cái bánh
hỏi là cái gì, phải trả lời làm sao? Cho nên Ngài ôm ấp
mãi việc này trong ba năm. Đến cuối cùng, khi bị Tổ kéo
lỗ mũi và bảo: Sao không nói bay qua mất đi? Ngay đó Ngài
liền thấy, thấy lỗ mũi hay thấy bầy chim?
Nghe
câu chuyện chúng ta cứ mắc kẹt về bầy chim bay hay lỗ mũi
bị kéo mạnh. Nhưng chỗ Thiền sư muốn chỉ không phải là
chỗ đó. Bầy chim là tướng sanh diệt bên ngoài, lỗ mũi
là tướng sanh diệt bên trong. Chỉ có cái không sanh diệt
biết được bầy chim mới là quan trọng, đó là chỗ Tổ
muốn chỉ. Tuy nhận được nhưng ngài Bá Trượng chưa đủ
lòng tin rằng mình ngộ thật, nên về phòng Ngài khóc. Những
người đồng phòng mới hỏi lý do, Ngài trả lời: Lỗ mũi
tôi bị Hòa thượng kéo đau quá. Hỏi: Có nhân duyên gì không
hội nên bị kéo lỗ mũi? Đáp: Huynh đến hỏi Hòa thượng
đi. Khi những vị đến hỏi, Mã Tổ bảo: Y đã ngộ rồi,
tức là Tổ xác nhận Ngài đã ngộ. Khi ấy Ngài cười hả
hả, nghĩa là không còn nghi ngờ nữa. Ngài không tự đến
hỏi Tổ mà nhờ các thầy đồng phòng đi hỏi giùm, đó là
cái khéo của người xưa, khi được xác nhận Ngài cười
to.
Đến
hôm sau Mã Tổ vừa lên tòa, chúng nhóm họp xong, Sư bước
ra cuốn chiếu. Mã Tổ xuống tòa, Sư theo sau đến phương
trượng. Mã Tổ hỏi: Ta chưa nói câu nào, tại sao ngươi cuốn
chiếu? Sư thưa: Hôm qua bị Hòa thượng kéo chót mũi đau.
Mã Tổ hỏi: Hôm qua ngươi để tâm chỗ nào? Sư trả lời:
Chót mũi ngày nay lại chẳng đau. Mã Tổ nói: Ngươi hiểu
sâu việc hôm qua. Đó là xác nhận một lần nữa. Sư làm
lễ lui ra. Vậy là Ngài trực tiếp được Mã Tổ xác nhận,
đó là truyền tâm ấn.
Kỳ
sau tái tham, Sư đứng hầu Mã Tổ, thấy phất tử ở góc
giường, Sư hỏi: Tức đây dùng, lìa đây dùng? Mã Tổ bảo:
Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì vì người? Sư cầm
phất tử dựng đứng. Mã Tổ hỏi: Tức đây dùng, lìa đây
dùng? Sư để phất tử lại chỗ cũ. Mã Tổ nghiêm chỉnh
hét một tiếng, đến ba ngày Sư còn điếc tai.
Đây
là lần sau trở lại tham vấn, ngài Bá Trượng thấy cây phất
tử, tức là cây chổi quét bụi, để trên bàn, Sư liền chỉ
cây phất tử nói: Tức đây dùng hay lìa đây dùng? Nghĩa là
tức cây phất tử đó mà dùng hay lìa cây phất tử dùng?
Mã Tổ bảo: Về sau ngươi mở miệng sẽ lấy cái gì
vì người? Tức là muốn dạy dỗ người thì lấy cái gì
để chỉ dạy? Sư cầm cây phất tử dựng đứng, đó là
dạy người. Chúng ta mới thấy sở trường của mình nơi
vị thầy như thế nào, đến khi dạy người, mình cũng sử
dụng thuật đó triệt để. Dựng đứng cây phất tử là
chỉ cái gì? Có phải chỉ bầy vịt trời không? Đến khi
Mã Tổ hỏi: tức đây dùng hay lìa đây dùng, Ngài liền để
cây phất tử lại y chỗ cũ. Mã Tổ nghiêm chỉnh hét một
tiếng, ba ngày còn điếc tai. Một tiếng hét đó, trong nhà
Thiền gọi là thủ thuật đặc biệt, muôn đời không quên.
Như
vậy chúng ta khi tu có tỉnh có thấy, nhưng tỉnh một lúc
rồi quên. Muốn nhớ đời đời phải nhờ những thủ thuật
hoặc đánh hoặc hét. Mã Tổ hét một tiếng điếc tai ba ngày,
làm sao quên được. Nhớ tiếng hét là nhớ cái gì mình thấy,
nhớ mãi không bao giờ quên. Thường giảng tới chỗ này,
chúng tôi nói đông nói tây quanh co, chớ không có cách nào
khác hơn.
Ngài
Trần Thái Tông niêm: “ngàn mũi nhọn không bằng một nhát
mai cùn”, tức là dù khéo dùng ngàn lời ngàn câu bén nhạy
để giải thích cũng không bằng một tiếng hét, cũng như
một nhát mai cùn có giá trị hơn cả ngàn mũi nhọn. Qua câu
niêm này chúng ta đã thấy được toàn ý của bài.
Tụng:
Ngày
trước xe, thơ chẳng cùng đồng,
Bốn
bên dấy loạn tợ đàn ong.
Mã
Tổ một phen vung kiếm bén,
Từ
đây đường nẻo tin tức thông.
“Ngày
trước xe, thơ chẳng cùng đồng.” Xe và thơ là hình tướng
của chiếc xe cụ thể và hình vẽ trên giấy, tức hình tướng
thật và nét vẽ không giống nhau. Thế nên:
“Bốn
bên dấy loạn tợ đàn ong.” Khi chưa thấy, chưa sống được
lẽ thật, lúc đó tâm chúng ta rối bời lăng xăng như đàn
ong vỡ tổ.
“Mã
Tổ một phen vung kiếm bén”, kiếm bén của Mã Tổ là tiếng
hét.
“Từ
đây đường nẻo tin tức thông.” Từ đó đường đi nẻo
về và tin tức đều thông suốt.
Bài
tụng của ngài Trần Thái Tông tán thán tiếng hét của Mã
Tổ đã giúp cho ngài Bá Trượng thông suốt không còn bị
chướng ngại nữa.
12.
Cử: Quốc sư một ngày gọi thị giả ba lần. Thị giả ba
lần dạ! Quốc sư nói: Ngỡ là ta phụ ngươi, ngược lại
ngươi phụ ta.
Niêm:
Như người uống nước, lạnh nóng tự biết.
Tụng:
Dưới trên xướng họa xứng cùng hai,
Ý
ấy so đâu biết ngắn dài.
Nhằm
trước phơi bày gan ruột sạch,
Trong
đây chỉ hứa tự mình hay.
Một
hôm Quốc sư Huệ Trung gọi thị giả, thị giả dạ. Ngài
gọi như vậy mà không nói thêm câu nào, ba lần gọi, thị
giả đều ứng tiếng dạ ba lần. Cuối cùng Ngài nói: Tưởng
là ta phụ ngươi, không ngờ ngươi phụ ta. Thị giả dạ ba
lần mà phụ thầy ở chỗ nào?