NGỮ
LỤC VẤN ĐÁP
Dịch
Một
hôm vua (Trần Thái Tông) đến thăm chùa Chân Giáo. Có vị
Tăng tên Đức Thành người nhà Tống hỏi: Thế Tôn chưa rời
Đâu-suất đã giáng sanh vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ
người đã xong. Là ý nghĩa thế nào?
Vua
đáp:
Ngàn
sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn
dặm không mây muôn dặm trời.
Tăng
hỏi:
Chưa
rời cung, chưa ra đời đã được chỉ dạy.
Đã
rời cung, đã ra đời việc thế nào?
Vua
đáp:
Mây
sanh đảnh núi toàn màu trắng,
Nước
đến Tiêu, Tương một dáng trong.
Tăng
hỏi:
Mưa
tạnh sắc núi sáng,
Mây
đi trong động ngời.
Vì
sao ẩn hiển như một?
Vua
đáp:
Trừ
người quả thật con ta đó,
Ai
kẻ bạo chân vào đường này.
Tăng
hỏi:
Xưa
nay không lối khác,
Người
đạt cùng chung đường.
Bệ
hạ có nhận riêng Thế Tôn đắc đạo chăng?
Vua
đáp:
Mưa
xuân không cao thấp,
Cành
hoa có ngắn dài.
Tăng
hỏi:
Người
người vốn tự người người đủ,
Mỗi
mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn.
Vì
sao Thế Tôn vào núi tu hành?
Vua
đáp:
Kiếm
vì bất bình mở hộp báu,
Thuốc
do trị bệnh ra khỏi bình.
Tăng
hỏi:
Trong
mắt thôi để bụi,
Trên
thịt chớ khoét thương.
Trên
phần người học có tu chứng không?
Vua
đáp:
Nước
chảy xuống non đâu có ý,
Mây
bay qua núi vốn không tâm.
Tăng
im lặng.
Vua
nói:
Chớ
bảo không tâm đây là đạo,
Không
tâm còn cách một lớp rào.
Tăng
thưa:
Nơi
tâm đã không, nói gì là một lớp rào?
Vua
đáp:
Nước
chảy xuống non đâu có ý,
Mây
bay qua núi vốn không tâm.
Tăng
không đáp được.
Giảng
“Một
hôm Vua (Trần Thái Tông) đến thăm chùa Chân Giáo. Có vị
Tăng tên Đức Thành người nhà Tống hỏi: Thế Tôn chưa rời
Đâu-suất đã giáng sanh vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ
người đã xong. Là ý nghĩa thế nào?
Vua
đáp:
Ngàn
sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn
dặm không mây muôn dặm trời.”
Đó
là lối đối đáp trong nhà thiền. Câu hỏi của ông Tăng
này là dẫn từ kinh Hoa Nghiêm. Trong kinh Hoa Nghiêm có nói:
“Đức Thế Tôn chưa rời Đâu-suất đã giáng sanh vương
cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã xong.” Khi nghe câu
nói này có vị Tăng tên Đức Thành mới đem ra hỏi, như vậy
là ý nghĩa thế nào? Nhà vua đáp:
Ngàn
sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn
dặm không mây muôn dặm trời.
Câu
đáp này thật hay, có ý nghĩa thế nào? Đó là những việc
mà tôi nghĩ nếu không chịu khó giải thích thì tất cả quí
vị đọc mà không thể hiểu, không hiểu rất tốt, đó mới
là Thiền, còn hiểu thì mất Thiền. Nhưng chúng ta tu Thiền
mà không hiểu còn có ý nghĩa Thiền, chớ người không tu
Thiền chỉ nghiên cứu mà không hiểu là tai họa. Do đó tôi
chịu khó giải thích cho quí vị thấm nhuần được ý nghĩa
thâm trầm của câu hỏi và lời đáp. Như trong kinh Hoa
Nghiêm nói: Phật chưa rời cung trời Đâu-suất mà đã giáng
sanh trong cung vua Tịnh Phạn. Chưa ra khỏi thai mẹ (tức là
chưa ra khỏi thai bà Ma-da phu nhân) mà Ngài giáo hóa đã xong.
Nói vậy làm sao chúng ta có thể hiểu, chưa rời cung trời
thì làm sao có mặt dưới đây, chưa ra khỏi thai mẹ làm sao
giáo hóa đã xong? Đó là một vấn đề rất khó hiểu, nhưng
ý kinh nói rằng tất cả chúng sanh cũng như chư Phật đều
có pháp thân bất sanh bất diệt. Thể pháp thân bất sanh bất
diệt không có đến đi, nhưng mọi việc đều đã an bài tức
là đều đã xong, nên nói rằng: chưa rời cung Đâu-suất mà
đã đến vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ độ người đã
xong, là để chỉ cho ý nghĩa thể pháp thân bất sanh bất
diệt ai cũng có. Vì vậy nhà vua mới đáp bằng hai câu thơ:
Ngàn
sông có nước ngàn trăng hiện,
Muôn
dặm không mây muôn dặm trời.
Nghĩa
là sao? Vì trên hư không chỉ có một vầng trăng, nhưng dưới
thế gian này có ngàn con sông thì có ngàn bóng mặt trăng hiện,
đó là để biểu trưng hóa thân, còn một mặt trăng trên
hư không là để biểu trưng cho pháp thân. Pháp thân không
có nhiều, mà hóa thân thì tùy duyên ứng hiện, như vậy câu
“ngàn sông có nước ngàn trăng hiện, muôn dặm không mây
muôn dặm trời”, trời có muôn dặm không? Trời thì không
có muôn dặm, nhưng chỗ nào có mây thì thấy trời bị ngăn
cách, chỗ không mây thì thấy trời có cả ngàn dặm. Trời
không phải là hai, nhưng tùy sự che đậy của mây mà thấy
trời có ngắn có dài, có gần có xa. Thế nên, thấy trời
gần, xa, ngắn, dài chỉ là do mây. Trời là để dụ cho pháp
thân, còn mây nhiều ít là để dụ cho hóa thân tùy duyên
thấy có lớn nhỏ sai biệt. Như vậy hai câu trả lời này
để nói rõ rằng Phật giáng sanh ở vương cung hay đi giáo
hóa người đó là Phật hóa thân, còn Phật pháp thân vẫn
nguyên vẹn, vẫn sẵn đủ chưa bao giờ đến đi, mà không
đến đi nên việc gì cũng đã xong. Đó là ý nghĩa của câu
hỏi và câu đáp.
Tăng
hỏi:
Chưa
rời cung, chưa ra đời đã được chỉ dạy.
Đã
rời cung, đã ra đời việc thế nào?
Như
vậy Ngài chỉ dạy lúc đức Thế Tôn chưa rời cung trời
Đâu-suất, chưa ra khỏi thai mẹ, bây giờ sau khi đã rời
cung trời Đâu-suất, đã ra khỏi thai mẹ rồi thì việc đó
làm sao?
Vua
đáp:
Mây
sanh đảnh núi toàn màu trắng,
Nước
đến Tiêu, Tương một dáng trong.
Nghĩa
là mây sanh ở trên đảnh núi thì tuy mây có nhiều cụm, nhiều
áng, nhưng chỉ toàn một màu trắng. Còn nước sông Tiêu,
nước sông Tương ở bên Trung Hoa khi chảy đến chỗ giáp
nhau thì dòng sông sâu, nên lóng thành nước trong. Hai dòng
tuy khác nhưng đến chỗ cứu kính đều trong. Như vậy trên
thì lấy thể mà nói, dưới lấy dụng mà nói. Dụng là gì?
- Tức là mây, mây là tướng sanh diệt, tuy tướng sanh diệt
khác nhau nhưng đồng màu. Nước sông Tiêu khác, nước sông
Tương khác đến chỗ giáp nhau cũng đồng một sắc. Như vậy
tuy rằng đã có giáng sanh ở vương cung, đã ra đời giáo
hóa, nhưng thể cũng không hai. Hiểu như thế mới thấy câu
trả lời khéo léo của Ngài. Ở trên nhắm thẳng về mặt
trăng, về bầu trời là chỉ cái thể, còn dụng là hóa thân
tùy duyên ứng hiện trăm ngàn thứ khác nhau, nhưng thể vẫn
không hai.
Tăng
hỏi:
Mưa
tạnh sắc núi sáng,
Mây
đi trong động ngời.
Vì
sao ẩn hiển như một?
Nghĩa
là trên những ngọn núi khi sắp mưa thì trời mù mịt, đến
khi mưa tạnh thì núi hiện rõ ràng, nên sắc núi sáng. Mây
che thì cửa hang động tối, mây qua rồi thì cửa hang động
sáng ngời. Như vậy có tối có sáng rõ ràng. Hai hình ảnh
đó có khác nhau, khi mưa khi tạnh núi có hai hiện tượng khác,
khi mây che khi mây tan cửa động có hai hiện tượng khác,
tại sao lại nói ẩn hiển như một? Trong kinh nói: Ẩn hiển
không hai là sao? Câu hỏi này thật khó trả lời, nếu mình
không khéo thì không làm sao đáp nổi.
Vua
đáp:
Trừ
người quả thật con ta đó,
Ai
kẻ bạo chân vào đường này.
Lý
ẩn hiển không hai trừ người thật là con trong nhà Thiền
mới thấy được chỗ đó, còn kẻ khác thì không dám bước
chân vào đây. Cho nên Ngài nói rõ “trừ người quả thật
con ta đó, ai kẻ bạo chân vào đường này”. Như vậy thì
ẩn hiển như một là để chỉ người đạt đạo rồi mới
thấy rõ điều đó, còn người chưa đạt đạo thì lúc nào
cũng thấy là hai.
Tăng
hỏi:
Xưa
nay không lối khác,
Người
đạt cùng chung đường.
Bệ
hạ có nhận riêng Thế Tôn đắc đạo chăng?
Trong
kinh nói “xưa nay không lối khác, người đạt cùng chung đường”
là chỉ chỗ chân thật xưa nay không có lối nào khác, ai đạt
đạo cũng đi chung con đường đó. Mà đã không lối khác,
vậy tại sao nói riêng Thế Tôn được đạo? Ai cũng lối
đó, ai cũng đường đó, ai cũng được đạo, tại sao nói
riêng Thế Tôn được đạo? Như vậy bệ hạ có nhận riêng
Phật được đạo không?
Vua
đáp:
Mưa
xuân không cao thấp,
Cành
hoa có ngắn dài.
Câu
trả lời thật hay “mưa xuân không cao thấp”. Nghĩa là trời
mưa thì bình đẳng không cao thấp, nhưng mà “cành hoa có
ngắn dài”, nên hứng nước mưa có nhiều có ít khác nhau.
Vậy là khác nhau tại cành hoa chớ không phải tại mưa. Mưa
đó chỉ cho cái gì? Cũng như ở trên nói “xưa nay không lối
khác, người đạt cùng chung đường”, đó là ý nói tất
cả chúng sanh đồng thể, đồng có tánh giác, thì đâu riêng
gì Phật đắc đạo, mà ai có tánh giác cũng có quyền đắc
đạo. Nhưng tại sao chỉ nói đức Thế Tôn đắc đạo, còn
chúng ta không ai đắc đạo? Vì đức Thế Tôn biết tu nên
ngộ được tánh giác, còn chúng ta không biết tu nên chưa
ngộ được tánh giác. Tánh giác đó ở đây nói “mưa xuân
không cao thấp”, mưa là chung chớ không riêng ai, nhưng vì
cành hoa có ngắn dài, nhỏ lớn, nên hứng mưa, hứng sương
có khác nhau. Cho nên khi đọc đến đây chúng ta mới thấy
cái nhìn của các ngài vừa thi vị, vừa tường tận ý nghĩa.
Tăng
hỏi:
Người
người vốn tự người người đủ,
Mỗi
mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn.
Vì
sao Thế Tôn vào núi tu hành?
Trong
các vị Thiền sư hay trong kinh Đại thừa luôn luôn nói: Ai
ai cũng vốn tự đủ, ai ai cũng vốn tròn đầy. Tự đủ cái
gì, tròn đầy cái gì? - Là tánh giác, ai cũng đủ ai cũng
đầy, vì sao Thế Tôn vào núi tu hành, đầy đủ rồi cứ
hưởng đi, vào núi tu hành chi nữa. Đó là ý của câu hỏi.
Vua
đáp:
Kiếm
vì bất bình mở hộp báu,
Thuốc
do trị bệnh ra khỏi bình.
Kiếm
quí để trong hộp ngọc, vì bất bình thiên hạ có những
cái gian giảo hung ác, nên mới mở hộp lấy kiếm ra để
trị những kẻ gian ác. Cũng như thuốc nằm sẵn trong bình
vàng nhưng vì bệnh chúng sanh nên mới trút ra để trị bệnh.
Như vậy không phải do có giặc mới có kiếm, mà kiếm đã
nằm sẵn trong hộp ngọc, cũng như không phải do có bệnh
mới có thuốc, mà thuốc đã nằm sẵn trong bình vàng. Vì
muốn lợi ích cho người buộc lòng mở hộp lấy kiếm ra,
mở bình trút thuốc ra. Như vậy ai ai cũng sẵn đủ, nhưng
vì muốn lợi ích cho chúng sanh Thế Tôn phải đi tu. Đó là
chỗ đặc biệt cần phải hiểu cho thật rõ. Cũng như chúng
ta thấy trong kinh nói ai ai cũng có tánh Phật, cũng có khả
năng thành Phật, vậy quí thầy đã có tánh Phật, đã thành
Phật, tại sao đi tu làm gì, thì phải hiểu ý đó. Cho nên
dùng câu “kiếm vì bất bình mở hộp báu, thuốc do trị
bệnh ra khỏi bình”. Như vậy kiếm ra khỏi hộp báu, thuốc
ra khỏi bình là vì trị bệnh, vì cứu dân, vì muốn lợi
ích cụ thể nên phải hiện ra ngoài. Cũng như đức Thế Tôn
có đủ tánh giác, tròn đầy thể bất sanh bất diệt, nhưng
vì muốn cho mọi người được lợi ích, được trở về
tánh giác mà phải vào núi tu hành.
Tăng
hỏi:
Trong
mắt thôi để bụi,
Trên
thịt chớ khoét thương.
Trên
phần người học có tu chứng không?
Con
mắt đang mạnh để bụi vào thì xốn. Trên thịt lành khoét
một vết thương thì đau. Con mắt không bệnh đang khỏe để
bụi vô làm chi. Thịt lành để cho khỏe khoét thêm làm chi.
Như vậy là nó đã sẵn, đâu cần làm thêm cái gì nữa. Vậy
trên phần người học có tu chứng không? Nghĩa là đã sẵn
tánh giác, đã sẵn chân tâm cần tu chi nữa cho thêm chuyện,
cũng như con mắt lành bỏ thêm bụi, thịt lành khoét thành
vết thương. Như vậy thì cần tu hay không?
Vua
đáp:
Nước
chảy xuống non đâu có ý,
Mây
bay qua núi vốn không tâm.
Nước
từ trên núi chảy xuống ầm ầm, mà có ý chảy không? - Nước
chảy chớ không có ý. Còn mây bay qua núi từng đợt từng
đợt có nghĩ rằng che núi không? Như vậy nước chảy mây
bay là để nói phần tu chứng, “Tu chứng chẳng phải không
mà nhiễm ô không thể được.” Câu trả lời thật hay vì
không tâm không ý làm sao nhiễm ô. Câu đáp vừa trung thành
với Phật Tổ, vừa là câu văn rất nên thơ. Hai hình ảnh
nước trên núi chảy, mây bay qua núi, cả hai đều có động
tác mà không tâm không ý. Như vậy tu chứng chẳng phải không
mà không có ý để dính mắc sự tu chứng. Vì vậy ngài Hoài
Nhượng khi đến với Lục Tổ, Lục Tổ hỏi: Ông từ Tung
Sơn đến đây có mang theo vật gì? Ngài không trả lời được,
nên xin vào chúng ở tám năm mới phát minh, bèn ra thưa: Bạch
Hòa thượng “nói một vật tức chẳng trúng”. Tổ liền
hỏi: Có tu chứng chăng? Ngài thưa: “Tu chứng chẳng phải
không, nhiễm ô không thể được.” Câu này thật thiết yếu.
Cũng như ở đây mây bay nước chảy, mà không ý nên nhiễm
ô không thể được. Như vậy bay, chảy là hai động tác hiện
tiền nhưng ý không dính không mắc. Cũng như tất cả chúng
ta đều có tánh giác sẵn không cần phải tìm kiếm ở đâu,
nếu khởi tìm kiếm thì giống như để bụi vào mắt, như
khoét thịt để thành vết thương. Tuy nhiên như thế
trên phần tu chứng chẳng phải chẳng có. Tại sao? Bởi vì
tu chứng là phương tiện để hiển bày cái sẵn có của chính
mình, chớ không có ý dính mắc ở chỗ chứng đắc. Thế
nên mới dùng hình ảnh nước chảy xuống non đâu có ý, mây
bay qua núi vốn không tâm. Đến đây vị tăng Đức Thành im
lặng, nên vua nói:
Chớ
bảo không tâm đây là đạo,
Không
tâm còn cách một lớp rào.
Bởi
vì ở trên Ngài dùng câu “mây bay qua núi vốn không tâm”,
sợ e ông chấp chỗ không tâm nên Ngài nhắc lại “chớ bảo
không tâm đây là đạo, không tâm còn cách một lớp rào”.
Câu này là dẫn lời của ngài Trường Sa Cảnh Sầm. Ông Tăng
nghe như vậy thì bẻ lại: Đã nói không tâm, tức nơi tâm
đã không thì nói gì là một lớp rào? Ngài liền đáp:
Nước
chảy xuống non đâu có ý,
Mây
bay qua núi vốn không tâm.
Nói
một lớp rào là chỉ cái chấp của người, còn chấp là
còn mắc kẹt. Nếu không tâm không ý đâu còn gì chấp, không
chấp thì có gì mắc kẹt mà nói một lớp rào. Ngài lập
lại câu trên, ông Tăng nghe lập lại, không thể đối đáp
được. Còn Ngài vừa đáp được ý rất sâu, đồng thời
văn thơ cũng thật hay. Cho nên chúng ta thấy Thiền sư Việt
Nam vừa thật thà, vừa thi vị, nói rõ được ý nghĩa mà
vẫn có thi vị.