Tựa
BÌNH
ĐẲNG SÁM HỐI
Dịch
Pháp
tánh như như, không có niệm lự chừng mảy tóc. Chân nguyên
trong lặng, xưa nay bặt cả bụi nhơ. Bởi chợt khởi vọng
duyên, hiện thành thân huyễn. Chạy theo nghiệp thức, quên
mất hạt minh châu, tan hết gia tài, sáu căn ham mê tham dục.
Nếu có thu nhận tịnh pháp, ắt hay tẩy sạch vọng trần.
Phát tâm bình đẳng nhất chân, lễ thể pháp thân vô tướng.
Tiến vào trong ấy thì tự thọ dụng và tha thọ dụng lẫn
nhau. Nhằm bên kia cầu thì diện mục mập mờ liền tự hiện.
Tuy
nhiên như thế, kiếm chưa rút ra khỏi hộp ngọc thì chỗ
loạn khó yên; thuốc ra khỏi bình vàng thì gốc bệnh mới
lành. Trẫm khi muôn việc rảnh rỗi, xem thấu chỗ sâu xa của
ba tạng, gặp được pháp môn này, chỉ thẳng trong người
có khả năng thành Phật. Dù là người mắt sáng, ngại gì
trên gấm thêm hoa. Nếu là tri âm, hãy nên tiến bước.
Giảng
Có
quyển sách nói về Bình Đẳng Sám Hối, nhưng quyển sách
đó đã mất chỉ còn lại bài tựa. Đây tôi giảng bài “Tựa
Bình Đẳng Sám Hối”.
“Phật
tánh như như, không có niệm lự chừng mảy tóc.” Mở đầu
quí vị thấy Ngài dùng những chữ “Pháp tánh như như”,
“không có niệm lự chừng mảy tóc”. Vì pháp tánh như như
nên những từ “Pháp tánh, chân nguyên” đều là để chỉ
cho cái thể tâm trong sạch sáng suốt sẵn có của mọi người,
nó như như, bất động. Thể của nó không có một niệm lự
chừng mảy tóc, nhưng vì quên nó nên niệm dấy loạn không
dừng.
“Chân
nguyên trong lặng, xưa nay bặt cả bụi nhơ.” Tức là thể
chân nguyên vốn trong sạch lặng lẽ, không có một tí bụi
nhơ. Bụi nhơ tức là niệm, niệm là trần. Những niệm khởi
đó là bụi nhơ. Hai câu này nói rõ cho chúng ta thấy pháp
thân thanh tịnh của chúng ta không có một mảy niệm, không
có một mảy phiền não dính được. Nó là một thể trong
sáng, lặng lẽ, thủy chung như nhất không đổi thay, không
dấy động. Đó là nói thể pháp thân trong sạch. Bây giờ
nói đến lý do chúng ta có thân này.
“Bởi
chợt khởi vọng duyên hiện thành thân huyễn.” Khởi vọng
duyên tức là khởi niệm chạy theo ngoại trần. “Hiện thành
thân huyễn”: như tôi đã nói, chúng ta vừa nhắm mắt, bỏ
thân này sang thân khác, thì lúc hôn mê mình khởi niệm hướng
về điều gì thì thân huyễn sẽ theo đó mà cấu tạo.
“Chạy
theo nghiệp thức, quên mất hạt minh châu.” Nghiệp thức
là những cái biết của thói quen, thói quen làm thiện, thói
quen làm ác. Cái biết đó dẫn mình đi theo nó nên quên mất
hạt minh châu. Hạt minh châu tức là thể pháp tánh chân nguyên
như như trong lặng.
“Tan
hết gia tài”: Gia tài tức là của báu trong nhà. Khi đã dấy
niệm chạy theo nghiệp thức thì lúc đó thể pháp tánh chân
thật của chúng ta bị mất đi, nên nói “quên mất hạt minh
châu, tan hết gia tài” tức là của báu, còn gọi là pháp
bảo hay tài bảo. Vì lúc đó đã có thân cho nên:
“Sáu
căn ham mê tham dục.” Khi có thân huyễn này rồi, nên nhớ
thân này là thân huyễn chớ không phải thân thật. Tại sao
tôi nói như vậy? Bởi vì từ bảy mươi trở lên sẽ biết
thân huyễn chắc chắn không nghi. Nếu ôn lại mấy mươi năm
qua rồi như giấc mộng, thân này không bao lâu sẽ trở thành
bụi đất. Như vậy ngày nay có, ngày mai trở thành bụi đất
thì có thật không? Quí vị còn dài nên khó thấy, còn tôi
hơi ngắn nên dễ thấy. Vì vậy nên nói thân này là thân
huyễn, tạm có rồi tan hoại. Nhưng khi đã có thì trong thân
có sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, bên ngoài cảnh
có sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Căn mê theo
trần, sanh ra tham dục tức ham muốn, đắm say ham muốn theo
sáu trần cả ngày. Sáng vừa mở mắt đã lo kiếm ăn cho thỏa
mãn cái lưỡi, ăn rồi lo đi chơi ngắm cái này đẹp, cái
kia đẹp cho thỏa mãn con mắt. Tối đến nghe âm nhạc cho
vui tai. Suốt ngày cứ lo cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý
được thỏa mãn. Ngày này qua tháng nọ mê mãi trong việc
làm cho sáu căn thỏa mãn với sáu trần. Cứ lo như vậy nhưng
có ai được thỏa mãn chăng? Gần nhất là cái lưỡi như
hôm nay được ăn ngon, chưa chắc ngày mai cũng được ăn ngon.
Như vậy lâu lâu mới được một bữa thỏa mãn cho cái lưỡi,
vậy mà phải làm đổ mồ hôi xót con mắt chưa biết thỏa
mãn được cái lưỡi hay không, huống nữa là thỏa mãn mũi,
tai, mắt và thân này. Thật là khó mà cũng thật vô lý, vì
đem thân làm để thỏa mãn cái thân, mà thân này có rồi
cũng hoại thành không, trần cũng hoại thành không. Lấy cái
không thỏa mãn cái không, như vậy mình có khôn chăng? Thế
nên tôi thường nói, chúng ta như những con dã tràng xe cát
ngoài biển, làm một lúc đắp lên hơi cao, rồi một đợt
sóng biển ùa đến cuốn trôi mất. Cứ như thế mãi hết
ngày này đến ngày khác, chừng nào ngã ra chết mới thôi.
Cũng vậy, làm sao chúng ta thỏa mãn được cái thân, không
biết chừng nào mới xong. Chưa thỏa mãn kịp thì nó đã hoại
và những cái để cho nó thỏa mãn cũng hoại theo. Rốt cuộc
chúng ta đã dồn sức để làm một việc phí công vô ích.
Vậy mà có lắm người làm được chút việc gì đó, đã
vội cho mình khôn, mình thông minh hơn người mà không biết
rằng mình đang chạy theo nghiệp thức, quên mất của báu
tức là pháp tánh, chân nguyên của chính mình.
“Nếu
có thu nhận tịnh pháp, ắt hay tẩy sạch vọng trần.” Bây
giờ nếu chúng ta thức tỉnh, học hỏi được chút ít tịnh
pháp tức là pháp thanh tịnh của Phật, “ắt hay tẩy sạch
vọng trần” là chúng ta tẩy sạch được những vọng trần,
những tâm tưởng hư dối như những hạt bụi làm che mờ
gương sáng của mình vậy.
“Phát
tâm bình đẳng nhất chân, lễ thể pháp thân vô tướng.”
Nay chúng ta sám hối bằng tâm bình đẳng nhất chân. Như tôi
vừa nói, quí vị biết mình có Phật tánh, biết mọi người
cũng có Phật tánh, ai ai cũng có Phật tánh thì mọi người
đều bình đẳng như nhau, gọi là bình đẳng nhất chân. Như
vậy chúng ta lễ Phật là Phật nào? Tức là hướng về Phật
pháp thân vô tướng, là pháp tánh, là chân nguyên vậy. Nghĩa
là lúc nào chúng ta cũng xoay lại, cũng nhớ mãi nơi ta có
tánh giác, tánh giác là bình đẳng. Nhớ mãi, hứa mãi như
vậy là chúng ta theo pháp “bình đẳng sám hối”.
“Tiến
vào trong ấy thì tự thọ dụng và tha thọ dụng lẫn nhau.”
Nếu chúng ta tiến vào trong thể pháp thân vô tướng đó,
mà đã nói vô tướng thì làm sao tiến vào? Nghĩa là chúng
ta hằng nhớ hằng sống với thể pháp thân thanh tịnh bình
đẳng ấy lâu ngày sẽ được tự thọ dụng, tức là cái
thọ dụng của chính mình được thanh tịnh sáng suốt. Còn
tha thọ dụng là cái thọ dụng cho người. Từ mình thanh tịnh
sáng suốt, người gần mình cũng hưởng được thanh tịnh
phần nào. Như vậy tự thọ dụng, tha thọ dụng cả hai đều
có lợi ích. Được thế tức là chúng ta biết trở về với
pháp thân thanh tịnh của chính mình.
“Nhằm
bên kia cầu thì diện mục mập mờ liền tự hiện.” “Nhằm
bên kia cầu” tức nhằm bên thể pháp thân bình đẳng mà
cầu. Cầu có nghĩa là trở về, sống lại với thể pháp
thân bình đẳng đó thì bản lai diện mục của mình từ xưa
mờ mờ, nay lần lần hiện sáng ra. Đây đi thẳng vào lý
chỉ cho pháp thân thanh tịnh. Chúng ta sám hối bằng cách hướng
về pháp thân thanh tịnh của mình và nhận chân pháp thân
đó không riêng mình có mà tất cả chúng sanh đều có, nên
là bình đẳng.
“Tuy
nhiên như thế, kiếm chưa rút ra khỏi hộp ngọc thì chỗ
loạn khó yên; thuốc ra khỏi bình vàng thì gốc bệnh mới
lành.” Nghĩa là chúng ta tuy biết mình có sẵn pháp thân thanh
tịnh hay có tánh giác trong sáng, nhưng “kiếm chưa rút ra
khỏi hộp ngọc thì chỗ loạn khó yên”. Người đi dẹp
giặc loạn, nếu chưa rút kiếm ra để trừ giặc loạn thì
giặc loạn chưa yên. Tuy đã có kiếm sẵn ở trong hộp, mà
phải dụng công rút kiếm ra khỏi hộp mới có thể trị được
giặc, dứt được loạn. Chúng ta cũng vậy, tuy có sẵn tánh
giác, có sẵn pháp thân mà nếu không dụng công thì cũng không
có diệu dụng. “Thuốc ra khỏi bình vàng, thì gốc bệnh
mới lành.” Linh đơn thần dược trị bệnh gì cũng
khỏi, nhưng nếu nó còn nằm trong bình thì đâu trị lành
bệnh được cho người. Vậy phải trút ra khỏi bình vàng
thì gốc bệnh mới lành. Hai hình ảnh này nói lên cho chúng
ta nhớ, chúng ta sẵn có pháp thân, sẵn có tánh giác giống
như trong hộp ngọc chúng ta sẵn có cây kiếm dẹp được
tất cả kẻ thù, kẻ loạn. Tuy có mà chúng ta chưa rút kiếm
ra thì kẻ loạn vẫn còn. Cũng như chúng ta có thuốc hay thuốc
quí có thể chữa lành tất cả bệnh, nhưng thuốc còn để
trong bình thì bệnh thiên hạ vẫn chưa lành. Vì vậy thuốc
cần phải trút ra khỏi bình mới có hiệu dụng. Tóm lại
hai câu này ý nói tuy chúng ta có pháp thân, có tánh giác sẵn,
nhưng phải dụng công tu mới được diệu dụng, được lợi
ích cho mình, cho người. Nếu không tu thì tuy nói là hay rốt
cuộc không được lợi ích gì cả. Đó là lời Ngài nhắc
chúng ta phải ứng dụng.
“Trẫm
khi muôn việc rảnh rỗi, xem thấu chỗ sâu xa của ba tạng,
gặp được pháp môn này, chỉ thẳng trong người có khả
năng thành Phật.” Khi đang làm vua cai trị muôn dân mà những
lúc rảnh rỗi Ngài xem tam tạng kinh để tìm những cái hay
rút ra chỉ dạy cho người. Như vậy Ngài là một ông vua thật
siêng năng, còn chúng ta hiện nay việc làm chút chút mà than
thở bận rộn quá không xem kinh được, không đi chùa được...
thật quá dở. Sở dĩ Ngài nhận được pháp sám hối bình
đẳng này là vì biết ai cũng có khả năng thành Phật. Điểm
này chúng ta thấy ở ngài Bồ-tát Thường Bất Khinh đã nói:
“Tôi không dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật.”
“Sẽ thành” tức là có khả năng mới thành được. Do đó
mỗi người chúng ta đều có thể thành Phật được.
“Dù
là người mắt sáng, ngại gì trên gấm thêm hoa. Nếu là tri
âm, hãy nên tiến bước.” Hai câu này Ngài khuyến khích rất
hay. “Dù là người mắt sáng, ngại gì trên gấm thêm hoa.”
Người mắt sáng là người nào? Trong nhà thiền thường hay
nói ai tu thấy được đạo, ngộ được đạo gọi là người
mắt sáng. Nếu người ngộ đạo thì đối với pháp Bình
Đẳng Sám Hối chẳng khác nào như một tấm gấm mà còn thêu
thêm hoa nữa, lại càng đẹp hơn. “Nếu là tri âm, hãy nên
tiến bước.” Tri âm là người tri kỷ với Ngài, hiểu được
Ngài, nghe được pháp này hãy ráng tinh tấn tu, không nên chần
chờ, không thể lơ là.
Qua
những lời nhắc nhở của Ngài, chúng ta thấy rất là thiết
yếu. Chẳng những mình biết mà muốn cho tất cả mọi người
cùng biết, chẳng những mình hành mà muốn cho tất cả mọi
người cùng hành. Được như vậy mới gọi là tự, tha đều
hữu ích. Ở đây tôi không dẫn những vị Bồ-tát, A-la-hán
hay những vị Thiền sư đắc đạo ở các nơi, mà tôi dẫn
một vì vua Việt Nam đang ở ngôi vị quân vương, cai trị
muôn dân, giữ nước, dẹp giặc mà có được cái nhìn thông
suốt, thấu đáo như vậy để quí vị lấy đó làm tấm gương
sáng noi theo tu học. Đối với hàng cư sĩ, nhìn gương của
Ngài sẽ không còn lười biếng, không còn than thở nhiều
việc bận rộn không tu được, không học hiểu được. Đối
với người xuất gia chúng ta lại càng hổ thẹn hơn. Hổ
thẹn vì mình là người được rảnh rỗi mà tu chưa chắc
đã hơn người cư sĩ đang làm vua. Như vậy thật xấu hổ,
thật tủi nhục! Nên càng đọc, càng nghe những lời giảng
dạy của Ngài càng thấm thía, càng hổ thẹn thì chúng ta
càng phải nỗ lực tiến hơn, tu nhiều hơn, để mai sau khỏi
bị người chê trách: Một người đã vì chúng sanh đi tu,
nhưng rốt cuộc không làm được gì có lợi ích, uổng đi
một kiếp người, một đời tu.
Đó
là lời tôi nhắc nhở chung cho tất cả.