DÂNG
HƯƠNG CUỐI ĐÊM
“Cúi
mong, sao Bắc Đẩu chuyển về phương bắc, giải Ngân hà nghiêng
hẳn về tây. Bên gối giấc mộng còn say, trên lầu tiếng
sừng vừa dứt. Chúng Tỳ-kheo họp nơi chiếu phạm, trước
đức Phật dâng nén hương tin. Hương này giống từ cung nguyệt
đem về, trong non rễ quấn chằng chịt. Dáng hình khác tục,
thể chất phi phàm. Vượt xa Tước Đầu ở nước Ngô, cao
hơn Qui Giáp ở Quế Lâm. Nơi đốt không dung lửa sân, khói
bay bèn nhờ gió từ. Nào phải hương phàm hạ phẩm, hẳn
là vị lạ thượng phương. Mỏng mỏng tơ bay kết thành điềm
tốt, ngạt ngào khí lạ tụ hội duyên lành. Nghi ngút trước
ngôi tòa báu, phảng phất ngoài bức rèm châu. Quay đầu tìm
biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh. Thấy mặt ngửi huân,
tịch diệt do đây chứng được. Nay lúc cuối đêm, đốt
hương cúng dường.”
“Sao
Bắc Đẩu chuyển về phương bắc, giải Ngân hà nghiêng hẳn
về tây. Bên gối giấc mộng còn say, trên lầu tiếng sừng
vừa dứt.” Đây là chỉ lúc gần sáng, còn đang gối đầu
ngủ say thì trên lầu tiếng sừng tức là tiếng tù và vừa
dứt. Ngày xưa, gần sáng người ta thổi tù và trong thành
phố cho mọi người thức dậy, cũng như ngày nay có tiếng
kèn trong trại lính. Giờ đó:
“Chúng
Tỳ-kheo họp nơi chiếu phạm, trước đức Phật dâng nén
hương tin.” Phạm là thanh tịnh. Nghĩa là ở trước Phật
trải chiếu, chúng Tỳ-kheo tụ hội lại chuẩn bị tụng kinh,
tọa thiền, trước Phật dâng nén hương gởi gấm tất cả
lòng tin. Tỳ-kheo hay Bí-sô, Bí-su là phiên âm từ chữ Phạn
Bhiksu, nhưng sau này dùng chữ Tỳ-kheo làm chánh. Tỳ-kheo có
ba nghĩa: khất sĩ, bố ma và phá ác. Nghĩa thông dụng nhất
là khất sĩ, tức là kẻ ăn mày. Một là ăn mày lương thực
của Phật tử, hai là ăn mày chánh pháp của Phật. Vì người
tu cần giữ cho thân khỏe mạnh nên phải ăn mày lương thực
để có phương tiện nuôi thân. Nhưng không phải chỉ ăn để
sống, mà còn phải tu nên chúng ta phải ăn mày chánh pháp
của Phật để nuôi dưỡng trí tuệ, trong nhà Phật gọi là
Giới thân tuệ mạng, để trở thành con người giải thoát.
Bố
ma là ma sợ. Trong kinh điển, người tu thọ giới Tỳ-kheo
rồi thì ma sợ. Tại sao? Chúng ta đâu có bùa chú gì để
ma sợ, nhưng Tỳ-kheo là người tu hạnh giải thoát, quyết
ra khỏi tam giới, nên Ma vương hay Thiên ma sợ ra khỏi vòng
kiểm soát của nó, vì thế thấy ai tu gần giải thoát là
nó phá triệt để. Có những Tỳ-kheo ngồi thiền quán vô
thường, thấy quả đất rung chuyển, vì thế ma thấy như
quả đất của nó bị tan vỡ. Tu là làm lành nghĩ tốt, vượt
khỏi tam giới để giáo hóa chúng sanh, lẽ ra ma đang ở trong
cảnh khổ nó phải thương giúp mình, tại sao lại phá? Nhưng
sự thật khi một người vuợt khỏi tam giới thì thế giới
ma bị tan nát, nên tu ít nó phá ít, tu nhiều nó phá nhiều.
Đức Phật khi thành đạo ma đến phá đủ cách, đến khi
hoàn toàn không được nó mới hoảng sợ. Vậy đã là Tỳ-kheo
thì không được sợ ma, nếu sợ ma là làm trái ngược những
gì đang lãnh thọ, đang thực hành.
Phá
ác tức là tất cả những phiền não ác độc chúng ta dẹp
hết không còn thừa. Một Tỳ-kheo không thể nói tôi tức
quá, tôi giận quá. Tức giận là điều ác mà ôm ấp, lại
khoe với người, đó là còn nuôi cái ác, vậy chưa phải là
Tỳ-kheo. Thật là khó! Nhiều vị muốn thọ giới cao, làm
người lớn, mà không hiểu ý nghĩa thọ rồi phải làm gì
cho xứng đáng. Vậy được thọ Tỳ-kheo phải hăng hái vươn
lên làm đúng ý nghĩa đó.
Tóm
lại chữ Tỳ-kheo, nghĩa thông dụng nhất là khất sĩ, tức
là khất thực để có cơm ăn. Lại có nghĩa là xin giáo pháp
của Phật để nuôi dưỡng Giới thân huệ mạng. Nghĩa thứ
hai là bố ma là ma sợ chúng ta, chớ chúng ta không được
sợ ma. Nghĩa thứ ba là phá ác, tất cả tam độc chúng ta
phải thắng chớ không nuôi dưỡng chúng. Như vậy mới xứng
đáng là Tỳ-kheo, trái lại nếu không xứng đáng có gọi
Tỳ-kheo cũng chỉ là tên suông, không có giá trị thật.
“Hương
này giống từ cung nguyệt đem về, trong non rễ quấn chằng
chịt.” Hương này ở trên cung trăng đem về, không phải
tầm thường, gốc nó từ trong rừng núi.
“Dáng
hình khác tục, thể chất phi phàm.” Hương này hình dáng
khác với thế tục, thể chất không phải theo phàm tình.
“Vượt
xa Tước Đầu ở nước Ngô, cao hơn Qui Giáp ở Quế Lâm.”
Ở Trung Hoa, vùng sông Dương Tử, nếu từ trên nguồn đi xuống
thì nước Ngô ở phía tay mặt, còn từ biển đi lên thì ở
phía tay trái, nên ngày xưa gọi là Giang Tả, cũng gọi là
Đông Ngô, vùng đó có loại hương Tước Đầu thơm nhất.
Quế Lâm là một tỉnh ở Trung Quốc, nơi đó người ta tinh
luyện quế hương để trang sức, hình nó giống như mai rùa
nên gọi là hương Qui Giáp. Hai loại hương này thơm quí nhất
ở Trung Hoa, nhưng hương cúng Phật còn vượt xa hơn.
“Nơi
đốt không dung lửa sân, khói bay bèn nhờ gió từ.”
Hương
này lửa sân không đốt được mà phải lửa thanh khiết.
Thường chúng ta nóng giận thì gọi là lửa sân, hương này
đốt lên lửa sân phải tiêu. Khói hương bay không do gió thường
thổi mà phải là ngọn gió từ bi.
“Nào
phải hương phàm hạ phẩm, hẳn là vị lạ thượng phương.”
Hương này không phải như hương thường ở thế gian thuộc
hạ phẩm mà hẳn là hương lạ ở cõi trên. Ngài diễn tả
làn hương bay:
“Mỏng
mỏng tơ bay kết thành điềm tốt, ngạt ngào khí lạ tụ
hội duyên lành, nghi ngút trước ngôi tòa báu, phảng phất
ngoài bức rèm châu.” Làn khói hương mỏng mỏng kết thành
điềm tốt, mùi thơm ngạt ngào của khí lạ tụ hội thành
duyên lành. Hương đốt trước ngôi tòa báu của Phật, mùi
thơm phảng phất ngoài bức rèm châu.
“Quay
đầu tìm biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh. Thấy mặt
ngửi huân, tịch diệt do đây chứng được.” Ai biết quay
đầu lại tìm biết hương này thì ánh sáng ngay đó tự nhiên
sanh. “Quay đầu tìm biết” mang ý nghĩa thiền, xoay đầu
nhìn lại mình thì khi ấy ánh sáng tự nhiên của mình được
phát ra. “Thấy mặt ngửi huân” là thấy được mùi hương
mình ngửi, huân được mùi hương thanh tịnh thì chứng quả
Niết-bàn tịch diệt. “Nay lúc cuối đêm, đốt hương cúng
dường.”
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy, rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn,
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ
DÂNG HOA
Tâm
địa mở ra, hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa, vẫn kém thơm.
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
HIẾN
DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH
“Nguyện
mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường
tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh
văn và tất cả Thánh Hiền, vừa rời đài Quang minh, qua cõi
nước vô biên, trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật
sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.
Cúng
dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng
Tam Bảo.”
TÂU
BẠCH
“Kính
bạch mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư; rót cam lồ
cứu đàn đói khát, cầm thần châu gieo chỗ tối tăm. Trộm
nghĩ: Trùng thúc năm dạo, gà giục ba hồi. Bóng đuốc tiệc
hoa vừa tàn lụi, dải sao Ngân hà sắp lặn chìm. Giấc bướm
lại quay về thế mộng, chuông chùa phá vỡ chốn âm u. Đầu
non biếc ngậm nửa trăng mờ, mặt biển xanh vầng hồng chưa
hiện. Vách cũ dế kêu từng chập, đường quan vó ngựa nhịp
đều. Đầu thành làn khói nhạt bao quanh, ngoài trời màn sương
sớm che phủ. Chính là lúc đạo sĩ luyện tu, cũng là thời
chư Tăng hành đạo. Đường đời mờ mịt, quần sanh rối
bời. Tuy sợ đang đêm ôm gối ngủ, chưa tỉnh trọn đời
mở mắt mê.
Chư
Phật tử! Nếu mặc suốt đêm theo dục lạc, bèn khiến trọn
ngày chịu tâm mê. Đến nỗi trói buộc một đời, đều bởi
Tán Hôn hai chữ. Vì ngươi mở thẳng một con đường, để
lại mai sau tác gia ngắm. Nên biết, mạng người khó thường,
chớ để thời này qua rỗng. Nhìn lấy Tịnh độ trước mắt,
nhận ra trong tâm Di-đà. Nếu hay ưa vui gánh vác, liền được
trong ấy hiện ra. Đệ tử chúng con, kính tưởng thời này,
lấy làm khóa lễ cuối đêm.”
“Kính
bạch mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư”, nói gọn
là mười phương ba đời tất cả chư Phật. “Rót cam lồ
cứu đàn đói khát, cầm thần châu gieo chỗ tối tăm.” Phật
rót nước cam lồ để cứu đàn con dại đang lang thang đói
khát, cầm hạt châu sáng gieo vào chỗ tối tăm cho những người
đang ở chỗ u minh tìm được đường đi, thấy được lối
ra.
“Trộm
nghĩ trùng thúc năm dạo, gà giục ba hồi.” Lúc canh năm các
côn trùng dế ve... kêu từng chập, gã đã gáy ba đợt.
“Bóng
đuốc tiệc hoa vừa tàn lụi, dải sao Ngân hà sắp lặn chìm.”
Nơi cung điện đèn đuốc trong những buổi tiệc hoa vừa tàn,
nhìn lại dải sao Ngân hà sắp lặn.
“Giấc
bướm lại quay về thế mộng, chuông chùa phá vỡ chốn âm
u.” Giấc bướm là giấc điệp hay mộng điệp. Qua một đêm
ngủ say bao nhiêu giấc mộng dồn dập, nay thức giấc, tất
cả đều là mộng của thế gian, không có thật. Bỗng tiếng
chuông chùa vang lên phá vỡ chỗ âm u tăm tối. Buổi khuya
chuông chùa gióng lên báo hiệu gần sáng, mọi người chuẩn
bị lo buổi sáng. Câu này trong phần chữ Hán có từ ngữ:
Bồ lao. Bồ lao là dùi chuông đóng, do tích: Thuở xưa tại
một hòn đảo ở Ấn Độ có con cá kình, mỗi khi nó ngửng
đầu nổi trên mặt nước, nước dâng lên thành lụt nên
dân trên đảo rất sợ. Khi cá kình trồi lên, con bồ lao thấy
hét lên một tiếng, cá kình sợ lặn xuống, dân trên đảo
khỏi bị ngập lụt. Thế nên về sau trong chùa làm chuông
chạm hình cá kình, dùi chuông đóng chạm hình bồ lao, chày
đóng vào chuông tượng trưng tiếng hét con bồ lao cứu dân
hết khổ. Vì thế khi nghe tiếng chuông mọi người đều giảm
khổ đau trong cuộc đời này và trong cõi địa ngục u minh.
“Đầu
non biếc ngậm nửa trăng mờ, mặt biển xanh vầng hồng chưa
hiện.” Trên đầu non xanh, vầng trăng đã khuất phân nửa.
Trên biển xanh mặt trời hồng chưa hiện.
“Vách
cũ dế kêu từng chập, đường quan vó ngựa nhịp đều.”
Trong những vách cũ rêu phong tiếng dế kêu từng chập. Trên
đường quan chân ngựa bắt đầu nhịp đều.
“Đầu
thành làn khói nhạt bao quanh, ngoài trời màn sương sớm che
phủ.” Đầu thành phố có những làn khói nhạt bao quanh,
sáng sớm sương khói mờ mờ che phủ.
“Chính
là lúc đạo sĩ luyện tu, cũng là thời chư Tăng hành đạo.”
Đây là giờ những đạo sĩ tu tiên bắt đầu thức dậy luyện
tập, cũng là giờ chư Tăng tụ hội tụng kinh tọa thiền.
“Đường
đời mờ mịt, quần sanh rối bời.” Đường đời đủ các
thứ dụ dỗ lôi cuốn làm cho con người phải mê lầm chìm
đắm quay cuồng trong đó không tìm được lối ra.
“Tuy
sợ đang đêm ôm gối ngủ, chưa tỉnh trọn đời mở mắt
mê.” Tối kê đầu trên gối ngủ đó là mê. Người biết
tu sợ ngủ là mê, nhưng nếu thức mà chưa tỉnh giác thì
dù đi lại nói năng cũng vẫn là kẻ mê, mở mắt mà mê.
Ngủ mê là do nhắm mắt, còn thức mê là do trí chưa mở,
tuy mở mắt mà vẫn mê, đây là lời nhắc nhở rất chí thiết.
“Chư
Phật tử! Nếu mặc suốt đêm theo dục lạc, bèn khiến trọn
ngày chịu tâm mê.” Nếu trong đêm tối cứ chạy theo dục
lạc, rượu chè đàn hát, say sưa theo “tửu sắc tài khí”
thì khiến trọn ngày chịu tâm mê. Người đời ban ngày đi
làm có tiền để ban đêm đi chơi thỏa mãn dục lạc, nên
ban ngày họ cũng bị chìm đắm trong mê.
“Đến
nỗi trói buộc một đời đều bởi Tán Hôn hai chữ.” Cả
đời bị trói buộc đều tại hai chữ tán và hôn. Tán là
tán loạn, hôn là hôn trầm. Đối với người đời, tán là
thả mình theo dục lạc, hôn là say sưa với mùi trần tục,
chớ không phải chỉ nói tán loạn hôn trầm của người tu
thiền.
“Vì
ngươi mở thẳng một con đường để lại mai sau tác gia ngắm.”
Ngài muốn nói các ông đang say mê, vì thương các ông tôi
chỉ rõ một con đường cho các ông đi, con đường đó những
người đạt đạo sau này sẽ thấy. Chữ tác gia, trong kinh
A-hàm có kể rằng sau khi ngộ đạo đức Phật nói: “Ta từ
nay mới thấy được người làm nhà.” Người làm nhà là
chỉ người chủ động gây nên luân hồi sanh tử, rồi cũng
chủ động trở về giác ngộ. Trong nhà Thiền, hàng tác gia
mắt sáng là chỉ những Thiền sư đã ngộ đạo, làm mẫu
mực cho người. Thế nên Ngài muốn nói rằng Ngài vạch ra
một con đường mà hàng sáng mắt sẽ thấy.
“Nên
biết, mạng người khó thường, chớ để thời này qua rỗng.”
Trước hết Ngài nhắc phải thấy mạng người vô thường,
nay còn mai mất không gì bảo đảm, vậy đừng để một đời
qua suông, đừng để thân vô thường sống ngày qua ngày rồi
chờ chết mà không làm gì lợi ích, không tạo được những
việc hay tốt, cao quí.
Ngài
lại chỉ xa hơn: “Nhìn lấy Tịnh độ trước mắt, nhận
ra trong tâm Di-đà.” Chúng ta quan niệm Tịnh độ là ở Tây
phương. Tây phương Cực Lạc cách đây bao nhiêu vạn cõi Phật.
Nay Ngài muốn chỉ thẳng cho chúng ta biết Cực Lạc ở ngay
trước mắt, đừng tìm Cực Lạc ở đâu xa, ngay trước mắt
chúng ta tâm tịnh thì độ tịnh. Lúc nào tâm chúng ta lăng
xăng, rối loạn là khổ, tâm thanh tịnh là lạc. Quí Phật
tử thử nhớ buổi tối nằm lại nhắm mắt ngủ nhưng trong
đầu cứ rối bời, muốn buông để ngủ mà không được,
lúc đó thật là khổ. Trái lại nếu buông và ngủ được
thì rất khỏe. Như vậy tâm loạn là khổ, nên tâm loạn là
Ta-bà; tâm tịnh là vui nên tâm tịnh là Cực Lạc. Ta-bà, Cực
Lạc ngay trước mắt chúng ta.
“Nhận
ra trong tâm Di-đà” tức là tự tánh Di-đà, nghĩa là nhận
ra Di-đà ngay trong tâm mình. Di-đà là tiếng Phạn, dịch nghĩa
theo chữ Hán là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang. Vô Lượng
Thọ là sống lâu không thể tính kể. Vô Lượng Quang là ánh
sáng cũng không thể tính kể. Thân này có sanh có diệt nhưng
tánh giác không sanh diệt tức là Vô Lượng Thọ. Vọng tưởng
điên đảo là mê, còn tánh giác là hằng giác, hằng sáng,
tức là Vô Lượng Quang. Như vậy Di-đà là ở ngay tự tánh
mình. Nếu quên tự tánh là mê, ngộ tự tánh là giác, nhớ
quay lại tự tánh mình, sống với tánh giác, đó là sống
với Phật Di-đà. Thế nên tu thì phải làm sao cho tâm được
thanh tịnh, đó là Cực Lạc, nhận ra tánh giác của mình đó
là Phật Di-đà. Trong kinh Di-đà có câu: “Nếu một ngày hai
ngày đến bảy ngày nhất tâm bất loạn thì khi lâm chung vừa
nhắm mắt liền thấy Phật Di-đà và Thánh chúng hiện ngay
trước mặt.” Nhất tâm bất loạn là tâm thanh tịnh, thì
tánh giác hiện ra, không phải đợi về Cực Lạc mới ra mắt
đức Phật Di-đà. Trong kinh nói rõ nhưng vì không hiểu nên
chúng ta chấp sự mà không đạt được lý. Ở đây ngài Trần
Thái Tông muốn chỉ thẳng lý “Tự tánh Di-đà, duy tâm Tịnh
độ”. Tâm tịnh thì độ tịnh, nên Tịnh độ ngay trước
mắt và đức Phật Di-đà ngay tự tánh của mình.
“Nếu
hay ưa vui gánh vác liền được trong ấy hiện ra.” Nếu người
nào ưa vui nhận và hành được lẽ này thì liền ngay trong
đó thấy Phật hiện rõ ràng.
“Đệ
tử chúng con kính tưởng thời này lấy làm khóa lễ cuối
đêm.
Tâu
bạch rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng
Tam Bảo.”
SÁM
HỐI TỘI CĂN Ý
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
NGHIỆP
CĂN Ý LÀ:
Nghĩ
vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng;
Mắc
mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
Như
tằm kéo kén, càng buộc càng bền;
Như
bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
Hôn
mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh;
Não
loạn tâm thần, đều do ba độc.
Trong
ý căn, chúng ta “nghĩ vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng”,
chuyện đâu đâu không đáng mà cũng nhớ cũng nghĩ.
“Mắc
mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng”, dính kẹt với sáu
trần lại thêm chấp tướng. Chấp tướng là kẹt về hình
thức bên ngoài, tức là lời nói và việc làm bám chặt vào
hình thức mà không nhận được ý nghĩa thâm trầm bên trong.
Thí dụ thấy hoa này khen đẹp, hoa kia chê xấu, người này
đẹp, người kia xấu, người dễ thương, người dễ ghét,
bao nhiêu việc căn cứ trên hình thức để khen chê thương
ghét, đều là chấp tướng, nên đều là khổ. Nếu không
chấp tướng thì hết cả khen chê, thương ghét và cũng hết
khổ. Thế nên còn mắc mứu tình trần kẹt tâm chấp tướng
là còn khổ. Khổ đó như thế nào?
“Như
tằm kéo kén, càng buộc càng bền”, như tằm nhả tơ kết
thành kén, tằm kẹt luôn trong đó, rồi bị bỏ vào chảo
nước sôi, khổ không sao tả hết!
“Như
bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.” Ban đêm mùa hè chúng
ta đốt ngọn đèn dầu, các con bướm ở ngoài thấy đèn
liền đáp vào, nên tự thiêu tự đốt. Người đời đuổi
theo dục lạc thế gian, tưởng rằng hưởng được dục lạc
là hạnh phúc, nhưng nếu ai có nhiều tiền lắm của, ngày
đêm đều vào tửu điếm trà đình, lầu xanh thì cũng giống
như bướm lao vào đèn. Đó là tự mình tìm cái chết, tự
thiêu tự đốt.
Hôn
mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh,
Não
loạn tâm thần, đều do ba độc.
Vì
mê không thức tỉnh nên điên đảo sanh ra. Tâm thần rối
loạn đều do tham sân si. Đây là gốc mà ý căn tạo nên tội.
Tham sân si là gì?
1.-
TỘI KEO THAM LÀ:
Keo
tham là keo kiệt, tham lam.
Âm
mưu ghen ghét, keo cú vét vơ;
Mười
vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.
Âm
mưu ghen ghét người, bao nhiêu cũng keo cú vét vơ đem về cho
mình. Vốn có mười đồng mà bán lời được một ngàn đồng
vẫn cho chưa đủ, muốn lời ngàn rưởi, hai ngàn, đó là
bệnh tham của con người.
Của
chứa tợ sông, lòng như hũ chảy;
Rót
vào lại hết, nên nói chưa đầy.
Của
thì nhiều như sông nhưng lòng như hũ chảy, rót vô bao nhiêu
cũng chảy hết, cũng không đủ nên nói chưa đầy.
Tiền
mục lúa hư, không cứu đói rét;
Lụa
là chất đống, nào có giúp ai.
Do
keo kiệt nên có tiền lúa chứa nhiều để hư mục không dám
cho người đói rét. Lụa vải chất đống để lên mốc meo
không giúp người rách rưới.
Được
người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
Mất
mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Người
cho mình mấy trăm cũng chưa nói là nhiều, còn mình mất một
đồng thì cho là hao lớn, nghĩa là được bao nhiêu cũng không
vừa, mất một chút thì tiếc rẻ.
Trên
từ châu báu, dưới đến tơ gai;
Kho
đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Nào
là châu báu, nào là tơ gai v.v... chất đầy kho đụn nhưng
không bao giờ bố thí cho ai.
Bao
nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;
Khổ
tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
Bao
nhiêu sự việc ngày đêm lo tính mãi, khổ tứ lao thần cũng
từ tham mà ra.
2.-
TỘI NÓNG GIẬN LÀ:
Do
tham làm gốc, lửa giận tự thiêu;
Quắc
mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
Bao
nhiêu niệm sân dấy khởi đều gốc từ tham. Thí dụ do tham
được danh tốt, được mọi người khen, nay lại có người
chê liền nổi giận. Tại sao? Chê là mạ nhục nên nổi giận,
đó là vì thích danh. Muốn được quyền lợi để nếp sống
được sung túc, nay có người ngăn chặn không cho, chúng ta
cũng nổi giận. Lại như thấy người đẹp mình thương, nay
không cho thương cũng giận. Ở thế gian nhiều kẻ tự tử
cũng do nổi sân, tưởng là gan, nhưng không ngờ đó là liều
mạng, là sân chớ không phải là gan. Thế nên từ tham sanh
ra sân. Khi sân thì có những hiện tượng gì? “Quắc mắt
quát to”, miệng la, mắt trợn làm hòa khí trong gia đình không
còn nữa.
Không
riêng người tục, cả đến thầy tu;
Kinh
luận tranh giành, cùng nhau công kích.
Tưởng
đâu sân chỉ có nơi người thế gian, không ngờ trong giới
thầy tu cũng có, đem kinh luận ra tranh hơn thua rồi công kích
lẫn nhau.
Chê
cả Sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha;
Cỏ
nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
Khi
đã sân rồi, thầy không kể, cha mẹ không màng, nói nặng
nói nhẹ đều được hết. Người tu theo Phật là phải tập
hạnh nhẫn nhục, khi nổi sân thì cỏ nhẫn bị héo khô vì
lửa sân cháy rực.
Buông
lời hại vật, cất tiếng hại người;
Không
nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
Nói
lời nào cũng làm cho người đau khổ, cất tiếng gì cũng
làm hại người. Khi sân rồi có nhớ từ bi không? Giận thì
không có thương, thương thì không có giận. Thế nên khi nổi
sân thì giới luật lòng từ đều quên mất. Như Phật dạy
chúng ta phải sống với tinh thần lục hòa, thế mà khi nổi
giận, thì không nhớ khẩu hòa vô tránh.
Bàn
thiền tợ Thánh, trước cảnh như ngu;
Dầu
ở cửa không, chưa thành vô ngã.
Hai
câu này chính là nhắc chư Tăng, nói lý Thiền thì hay lắm,
thấy như thành Phật dễ dàng, nhưng gặp cảnh thì như ngu.
Lúc bình tĩnh sáng suốt nói đạo rất hay, nhưng gặp ai nói
trái tai, hành động trái mắt thì trí tuệ bay đâu mất, toàn
thốt lên những lời si mê. Tỉ dụ như khi tỉnh nói Phật
dạy người tu phải luôn luôn sáng suốt, những gì người
thế gian say mê mình phải xem là thường, là giả dối. Nhưng
có nhiều thầy tu kha khá khi gặp những người nữ đẹp nói
ngọt vài câu thì thấy cái gì cũng thật, quên mất thế gian
là huyễn hóa. Dầu ở cửa không mà chưa thành vô ngã, nhà
Phật nói cửa Thiền là cửa không (không môn), nhưng gặp
cảnh thì ngã còn rõ ràng, nên chưa thành vô ngã.
Như
cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây;
Những
tội trên đây, đều do nghiệp giận.
Chúng
ta dùi cây ra lửa, khi lửa cháy thì cây bị đốt trở lại,
cũng như vậy nơi tâm sanh ra nóng giận, sự nóng giận đó
trở lại hại chúng ta. Như vậy những tội lỗi đó là do
nghiệp sân.
3.-
TỘI NGU SI LÀ:
Căn
tánh đần độn, ý thức tối tăm;
Chẳng
hiểu tôn ti, không phân thiện ác.
Người
ngu si là do căn tánh đần độn, ý thức tối tăm. Tôn là
bực lớn, ti là kẻ nhỏ, ai đáng quí, ai đáng trọng cũng
không biết, ai ngang bằng hoặc thấp hơn cũng không hay, tức
là không phân biệt kẻ trên người dưới, không thấy rõ
ràng việc nào thiện, việc nào ác, đó là do gốc ngu si.
Chặt
cây hại mạng, giết gấu gãy tay;
Mắng
Phật chuốc ương, phun trời ướt mặt.
Chặt
cây hại mạng giết gấu gãy tay, hai câu chuyện này ở trong
truyện cổ Việt Nam.
Thuở
xưa có người nhà quê ngu ngốc, một hôm đi mé cây, có một
nhánh lớn chia hai, anh cầm búa lên mé nhánh, thấy đứng phía
trong gần thân cây khó chặt, anh ra ngồi phía ngoài xây vào
chặt phía trong, nhánh gãy anh té chết, nên chặt cây hại
mạng là nói sự ngu si đó. Giết gấu gãy tay là nói một
người cũng ngu si như vậy. Anh vào rừng một tay cầm rựa,
một tay đánh đòng xa chợt có con gấu nhảy ra cắn tay anh,
nhưng chưa trúng, anh lấy rựa chặt cánh tay rớt xuống cho
gấu khỏi cắn trúng tay. Nếu người khôn thì giựt tay lên
không chặt tay. Đó là hai hình ảnh người ngu đáo để. “Mắng
Phật chuốc ương”, khi muốn cầu điều gì, xin Phật ban
ơn xuống phước cho nhưng cầu mãi không được nên chê bai
Phật không linh... đó là chuốc tai ương. “Phun trời ướt
mặt”, ngày xưa có những người làm ruộng, đến mùa gặt
lúa, đập lúa xong đem ra sân phơi, bỗng trời mưa ào xuống,
tức quá họ ngửa mặt lên trời chửi, càng chửi càng phun
nước miếng cho dơ trời, không ngờ nước miếng rớt xuống
dơ mặt.
Quên
ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân;
Không
tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
Người
có ơn sanh thành dưỡng dục hoặc có ơn giúp đỡ mình trong
khi khốn khổ mà không nhớ là quên ơn bội nghĩa. Không tỉnh
không xét đều do nghiệp si.
Những
tội như thế, rất nặng rất sâu;
Đến
lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
Trải
ngàn muôn kiếp, mới được thọ sanh;
Dù
được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
Những
tội đó là tội đọa địa ngục. Đến khi hết nghiệp ở
địa ngục được lên làm người, nhưng do dư báo nên cũng
lại ngu ngốc nữa.
Nếu
không sám hối, đâu được tiêu trừ;
Nay
trước Phật đài, thảy đều sám hối.
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia.
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm
thang Thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
Những
bài này đã giảng.
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện nguồn linh thường trong lặng,
Hai
nguyện tạng thức dứt lăng xăng,
Ba
nguyện khối nghi đều tan nát,
Bốn
nguyện trăng định mãi tròn đầy.
Năm
nguyện pháp trần không khởi diệt,
Sáu
nguyện lưới ái lìa buộc ràng,
Bảy
nguyện suy nghĩ hành Thập địa,
Tám
nguyện nghe suốt bỏ Tam thiên.
Chín
nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót,
Mười
nguyện ý ngựa dứt cương yên,
Mười
một nguyện mở lòng nghe Phật dạy,
Mười
hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền.
“Một
nguyện nguồn linh thường trong lặng.” Nguồn linh là chỉ
cho nguồn giác. Nguyện nguồn giác sẵn có của chúng ta thường
trong lặng, đừng bị phiền não làm nhơ đục.
“Hai
nguyện tạng thức dứt lăng xăng”, tức là trong kho tạng
thức dứt hết, không còn dung chứa các pháp trần làm cho
nó lăng xăng.
“Ba
nguyện khối nghi đều tan nát.” Khối nghi ở đây có nghĩa
là những người tu thiền khi đã dồn tâm thành khối, không
còn niệm khởi, chỉ còn một khối nghi, khi khối nghi nát
ra thì ngộ đạo. Chúng ta cũng tu thiền nhưng không dùng thoại
đầu, không có khối nghi nhưng chúng ta cũng có nghi. Thí dụ
chúng ta thấy chư Phật dạy phải đạt được tánh giác hay
chân tâm, mà khi chưa đạt chân tâm, chưa ngộ tánh giác chúng
ta cũng nghi không biết chân tâm, tánh giác như thế nào. Khi
tâm lặng rồi, bỗng một lúc nào cái nghi của chúng ta tan
nát, liền ngộ được chân tâm, thấy được tánh giác, đó
là tan được khối nghi.
“Bốn
nguyện trăng định mãi tròn đầy”, tức là trăng thiền
định luôn luôn tròn đầy.
“Năm
nguyện pháp trần không khởi diệt.” Pháp trần tức là mắt
thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân
tiếp xúc, mỗi trần đều có bóng dáng dồn chứa vào trong
kho tàng thức. Thí dụ ra chợ thấy cái gì đẹp chúng ta thích,
về nhà ngồi yên bỗng dưng nhớ lại những hình ảnh ngoài
chợ, hoặc nghe tiếng gì hay, một lúc sau ngồi yên nhớ lại
tiếng đó, tức là những bóng dáng qua rồi mà còn chứa đựng
trong tâm, đó gọi là pháp trần.
“Sáu
nguyện lưới ái lìa buộc ràng.” Ái có ba thứ, ái ngã là
một, dứt được ái ngã không phải là dễ. Đến ái người
thân, những người mình thương mến. Thứ ba là ái cảnh,
tạo được cảnh vừa ý, chúng ta ái cảnh đó. Nay nguyện
tất cả những lưới ái đều không còn buộc ràng được
mình.
“Bảy
nguyện suy nghĩ hành Thập địa.” Nguyện thường nhớ nghĩ
thực hành cho được Thập địa Bồ-tát.
“Tám
nguyện nghe suốt bỏ tam thiên.” Tam thiên là ba cõi trời:
Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Nguyện nghe thấu suốt
được pháp giải thoát của Phật, không còn kẹt trong tam
thiên nữa.
“Chín
nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót.” Tâm vượn tức tâm viên
trong từ ngữ tâm viên ý mã. Nguyện tâm viên này được yên
lặng không còn nhảy nhót.
“Mười
nguyện ý ngựa dứt cương yên.” Ý ngựa (ý mã) không còn
gì ràng buộc cột trói nữa. Tâm ý như con vượn, con ngựa
lăng xăng. Nay làm thế nào cho ngựa thuần, ngựa thuần rồi
thì không cần dây cương; khỉ nhảy nhót thì phải nhốt trong
lồng, khi hết nhảy mới thả được. Như vậy đây là lời
nguyện cho tâm ý được lặng lẽ, trong sáng.
“Mười
một nguyện mở lòng nghe Phật dạy.” Nguyện tâm mình mở
rộng để đón nhận những lời dạy của Phật, lời nào
cũng thấm nhuần, thấu đáo.
“Mười
hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền.” Nghe lời dạy của chư
Tổ về Thiền tông, chúng ta ưa thích chớ không sợ, không
chán.
KỆ
VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
Tiếng
pháp khua tan mộng thế trần,
Chuông
chùa phá vỡ điếc ngu mông.
Còn
ưa gối đầu trong tối ngủ,
Chẳng
quản trời đông đã rạng ngời.
Mù
mịt đêm dài thì có sáng,
Lờ
mờ đường tối lại khó thông.
Ngày
nay nếu chẳng siêng hành đạo,
Khi
khác làm sao gặp Thế Tôn.
“Tiếng
pháp khua tan mộng thế trần.” Chúng ta sống trên thế gian,
tuy bảy, tám mươi năm, nhưng đến tuổi sắp mãn cuộc đời,
nhớ lại những gì chúng ta đã tạo, chẳng khác nào như giấc
mộng, giấc mộng trần gian. Muốn tan giấc mộng, chỉ nhờ
tiếng pháp của Phật chúng ta mới tỉnh thức, không còn mê
lầm nữa.
“Chuông
chùa phá vỡ điếc ngu mông.” Ngu mông là kẻ ngu mê, mù tối.
Tiếng pháp, tiếng chuông của đạo làm cho người điếc,
người ngu và mê mờ đều sớm thức tỉnh.
Còn
ưa gối đầu trong tối ngủ,
Chẳng
quản trời đông đã rạng ngời.
Chúng
ta còn kê đầu trên gối mê ngủ trong tối mà không nhớ phương
đông mặt trời đã rạng ngời.
Mù
mịt đêm dài thì có sáng,
Lờ
mờ đường tối lại khó thông.
Mù
mịt nên nói là đêm dài nhưng thật ra có đêm thì sẽ có
ngày, tối rồi sẽ sáng. Tuy nhiên đã sống trong đêm dài
mù mịt thì đường trước lờ mờ, mù tối khó thông.
Ngày
nay nếu chẳng siêng hành đạo,
Khi
khác làm sao gặp Thế Tôn.
Ngài
nhắc chúng ta ngày nay đang trong cảnh mờ mịt tối tăm phải
ráng thức tỉnh cố gắng tu hành thì ngày khác chúng ta mới
được gặp Phật.
Tổng
kết lại, Lục thời Sám hối của vua Trần Thái Tông có những
ý nghĩa đặc biệt mà chúng ta phải học, phải hành. Trong
các kinh A-hàm, đức Phật luôn luôn dạy chúng ta phải thu
nhiếp sáu căn, từ hành động đến ý nghĩ lúc nào cũng phải
gìn giữ, đừng buông lung sáu căn chạy theo sáu trần. Thuở
xưa Phật dạy các thầy Tỳ-kheo khi ra đường không được
nhìn hai bên chỉ nhìn trước mấy thước tây thôi, vì e thấy
cảnh rồi dính mắc về ngồi thiền khó an nên phải hạn
chế. Đến phần giới luật, cũng là thu nhiếp sáu căn. Không
sát sanh, không trộm cướp là nhiếp thân căn, giới nói dối
thuộc về miệng (khẩu), cấm uống rượu thuộc về lưỡi.
Trong giới Sa-di cấm xoa hương thuộc về mũi v.v..., như vậy
là tạo điều kiện cho chúng ta thu nhiếp sáu căn. Đức Phật
nói rõ rằng Phật khác hơn người thường ở điểm người
thường thả sáu căn chạy theo sáu trần, trái lại đối với
sáu trần Phật không dính nhiễm, Ngài được giải thoát.
Lại như trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan hỏi Phật: Cái gì
là căn bản của của Bồ-đề Niết-bàn, cái gì là căn bản
của phiền não sanh tử? Không phải chỉ đức Phật Thích-ca
mà mười phương chư Phật đồng trả lời: “Sáu căn của
ông là căn bản của phiền não sanh tử, sáu căn của ông
là căn bản của Bồ-đề Niết-bàn.” Như vậy sáu căn là
cội gốc của trầm luân sanh tử, cũng chính là cội gốc
của Bồ-đề Niết-bàn. Thế nên chúng ta phải nương nơi
sáu căn mà tu, ngăn không cho sáu căn ô nhiễm, dính mắc các
trần.
Đến
các Thiền sư thì thế nào? Có người hỏi ngài Huệ Hải:
“Thế nào là giải thoát?” Ngài đáp: “Căn trần không
dính nhau là giải thoát.” Như vậy gốc cũng là sáu căn.
Gần nhất ngài Sơ tổ Trúc Lâm, trong bài Cư Trần Lạc Đạo,
câu kệ cuối Ngài nói: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.”
Đối cảnh là gì? Là mắt đối với sắc, tai đối với thanh,
mũi đối với hương, lưỡi đối với vị, thân đối với
xúc, nghĩa là năm căn đối với năm trần, tâm không dính
mắc thì đừng hỏi thiền nữa vì đó là thiền. Tóm lại
ngay sáu căn khéo đừng dính mắc sáu trần đó là gốc của
Thiền, cũng là gốc của Kinh, gốc của Phật dạy.
Như
vậy ngài Trần Thái Tông dùng sáu thời sám hối để sám
hối sáu căn, điều đó thật là chí thiết đối với sự
tu hành. Đọc Lục thời Sám hối chúng ta thấy Ngài khéo dùng
ngôn ngữ vừa thực tiễn vừa văn chương để nhắc nhở
sách tấn chúng ta. Đứng về mặt giáo lý, bài này là pháp
tu căn bản cho người học Phật, đứng về mặt văn chương,
đây là những áng văn có giá trị. Ngài đã có một cái nhìn
tường tận thấu đáo, lại khéo diễn tả, thật đáng cho
chúng ta cảm phục. Là một vị vua cai trị muôn dân, việc
triều chính đa đoan mà Ngài vẫn có ngày giờ nghiên cứu
KINH ĐIểN, viết những áng văn hay để chỉ dạy người sau,
thật là việc hi hữu. Chúng ta hiện nay chỉ làm trụ trì
với năm bảy mươi đệ tử mà không rảnh, vì thế chúng
ta phải noi gương Ngài, gương cần mẫn, gương cố gắng tu
hành, gương thương người sau. Người xưa làm được, ngày
nay chúng ta cũng làm được, chỉ cần phải cố gắng. Thế
nên chúng tôi đem sáu thời sám hối này để dạy Tăng Ni
ứng dụng tu hành. Mỗi đêm tụng một lần, không phải tụng
cho tiêu nghiệp chướng, rồi vẫn để sáu căn chạy theo sáu
trần. Không phải tụng suông mà tụng để nhớ rồi ứng
dụng tu, như thế mới có lợi. Đó là lời nhắc nhở của
tôi.