DÂNG
HƯƠNG NỬA ĐÊM
“Cúi
mong, đồng hồ canh ba chuyển, muôn tiếng nhạc lặng im. Chúng
Tăng hòa hợp trước nghiêm đàn, một nén hương thơm trùm
pháp giới. Hương này trời đất sanh thành, công vun trồng
chẳng phải một đời, do bảo hộ trăm thần mà được. Cội
rễ tốt tươi, mãi nhờ mưa pháp thấm nhuần. Thể chất thanh
cao, hằng được mây từ che mát. Giống lạ, chớ đem cây
thường so sánh, mùi thơm nào phải kẻ phàm hay. Cắm trong
lư vàng, mảnh mảnh vừa châm vào ngọn lửa, kết thành lọng
báu tầng tầng, bay thẳng tận mây ngàn. Dùng làm lễ nghi
trước Phật, mong nêu lòng tin kẻ phàm. Nay lúc nửa đêm,
thắp hương cúng dường.”
Trong
bài dâng hương này, ngài Trần Thái Tông diễn tả hương kỳ
đặc của tâm thanh tịnh, không phải hương thường của thế
gian.
“Đồng
hồ canh ba chuyển, muôn tiếng nhạc lặng im. Chúng Tăng hòa
hợp trước nghiêm đàn, một nén hương thơm trùm pháp giới.”
Đồng hồ đã điểm canh ba, tất cả tiếng nhạc bên ngoài
đều im lặng, khi ấy chúng Tăng hòa hợp trước điện Phật
thắp hương cúng dường. Nén hương này thơm trùm pháp giới,
ở thế gian không có hương nào thơm hơn, đây là chỉ hương
của tâm thanh tịnh.
“Hương
này trời đất sanh thành, công vun trồng chẳng phải một
đời, do bảo hộ trăm thần mà được.” Hương này là hương
của tâm thanh tịnh do trời đất sanh thành, phải nhờ sự
ủng hộ của chư thần trong nhiều đời nhiều kiếp mới
được.
“Cội
rễ tốt tươi, mãi nhờ mưa pháp thấm nhuần. Thể chất thanh
cao, hằng được mây từ che mát.” Cội rễ của cây hương
sở dĩ được tươi tốt là nhờ mưa pháp thấm nhuần. Chính
trong khi học kinh nghe pháp là lúc được mưa pháp thấm nhuần,
nên hương này thể chất thanh cao, hằng được mây từ che
mát.
“Giống
lạ, chớ đem cây thường so sánh, mùi thơm nào phải kẻ phàm
hay.” Cây hương này là giống lạ, không thể đem so sánh
với những loại cây thường. Mùi thơm của hương người
phàm không ngửi được, chỉ có những bậc Thánh Hiền mới
ngửi được. Vì sao? Vì hương này phát nguồn từ tâm thanh
tịnh.
“Cắm
trong lư vàng, mảnh mảnh vừa châm vào ngọn lửa, kết thành
lọng báu tầng tầng, bay thẳng tận mây ngàn.” Khi thắp
cây hương, vừa châm vào lửa, có những tầng khói bay lên
tận mây ngàn. Hương này dùng làm gì?
“Dùng
làm lễ nghi trước Phật, mong nêu lòng tin kẻ phàm.” Về
sự là thắp hương cúng dường Phật, về lý là thắp hương
của nội tâm, hương của tâm hồn trong sáng thanh tịnh. “Nay
lúc nửa đêm thắp hương cúng dường.”
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy, rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn,
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ
DÂNG HOA
Tâm
địa mở ra, hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa, vẫn kém thơm.
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
HIẾN
DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH
“Nguyện
mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường
tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh
văn và tất cả Thánh Hiền; vừa rời đài Quang minh, qua cõi
nước vô biên, trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật
sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.
Cúng
dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng
Tam Bảo.”
(Những
đoạn này đã giảng ở trước.)
TÂU
BẠCH
(Lại
niêm hương quì bạch: Cầm hương quì bạch)
“Kính
bạch, mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư. Duỗi tay
vàng tiếp độ quần sanh, phóng sáng ngọc soi cùng các cõi.
Trộm nghe, giờ vừa sang tý, đêm đã nửa rồi. Ngọn đèn
dĩa bạc đã hầu tàn, đường sá trong thành đều lắng bụi.
Mấy trận gió mây sanh muôn dặm, một vầng trăng sáng rọi
canh ba. Lưa thưa rừng trúc rây vàng, lấp lánh hoa sân vờn
ngọc. Hạc oán lặng thinh nơi trướng huệ, vượn buồn kêu
mãi chốn rừng tùng. Xa xôi Sâm, Đẩu trải ngân hà, vắng
vẻ quỉ thần khóc đồng nội. Cuốc kêu thống thiết,
mộng điệp say mê. Thân huyễn lẻ loi trong rừng rậm, mộng
hồn rong ruổi ngàn dặm trường. Cam chịu ma ngủ quấy rầy
luôn, đâu biết đuốc trí hằng sáng rực. Ngoài nhà thần
phách lạc hồn bay, trong hang quỉ tròng che mắt nhắm. Chỉ
thích tham mê ngủ nghỉ, đâu biết nếm vị chân như. Ham ưa
một giấc ngon đến sáng, nào ngại trăm năm cơn chết chờ.
Các
Phật tử! Phải nhớ bốn rắn bức bách, chớ quên hai chuột
gặm mòn. Luân hồi ba cõi chừng nào thôi, quanh quẩn bốn
loài bao giờ hết? Đường vãng sanh nên bước, cần vin xe
dẫn ra. Nào là chỗ lao quan, quyết định đêm nay phá vỡ.
Đệ tử chúng con, kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ
nửa đêm.”
Bài
tâu bạch này rất hay về văn chương lẫn ý nghĩa.
“Kính
bạch, mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư. Duỗi tay
vàng tiếp độ quần sanh, phóng sáng ngọc soi cùng các cõi.”
Đây là lời tâu bạch với đức Phật, đấng Đại Giác,
Đại Hùng, Đại Lực. Đức Phật duỗi cánh tay vàng để
tiếp độ quần sanh. Như chúng ta thường thấy tượng Phật
Di-đà đứng trên đám mây duỗi tay xuống để cứu vớt chúng
sanh đang lặn hụp trong biển khổ. Phật Thích-ca và tất cả
chư Phật cũng vậy, các ngài lúc nào cũng duỗi tay tiếp đón
mà chúng sanh cứ mải mê ngụp lặn không chịu đưa tay.
Khi
thuyết pháp, Phật thường phóng hào quang chỗ sợi lông trắng
ở giữa chặng mày, gọi là bạch hào, soi sáng tất cả cõi,
để nhắc nhở chúng sanh mau thức tỉnh trở về. Duỗi tay
vàng là thể hiện lòng từ bi tiếp độ, phóng sáng ngọc
là phóng ánh sáng trí tuệ soi đường cho mọi người được
tỏ rạng. Đó là tinh thần từ bi cứu khổ của đức Phật.
“Trộm
nghe giờ vừa sang tý, đêm đã nửa rồi. Ngọn đèn dĩa bạc
đã hầu tàn, đường sá trong thành đều lắng bụi.” Giờ
tý canh ba là nửa đêm. Đêm đã về khuya, ngọn đèn bằng
dĩa bạc thắp trong nhà sang trọng lần lần tàn lụi. Ngoài
đường ngựa xe đều nghỉ nên đường sá lắng bụi.
“Mấy
trận gió mây sanh muôn dặm, một vầng trăng sáng rọi canh
ba. Lưa thưa rừng trúc rây vàng, lấp lánh hoa sân vờn ngọc.”
Mấy trận gió thổi mây bay đi muôn dặm, nhìn lên trời chỉ
thấy một vầng trăng sáng rọi xuống lúc canh ba. Rừng tre
rừng trúc có những chỗ thưa hở, ánh trăng xuyên qua giống
như rây những tia vàng rơi xuống. Ngoài sân ánh sáng trăng
lấp lánh, gió đùa hoa như vờn ngọc. Đây là cảnh nửa đêm
trăng sáng có vườn trúc lung lay, hoa sân vờn ngọc.
“Hạc
oán lặng thinh nơi trướng huệ, vượn buồn kêu mãi chốn
rừng tùng.” Con hạc không biết oán hận ai mà đêm khuya
lặng thinh không kêu nữa, trong màn trướng người người
đều yên giấc. Các con vượn buồn ai mà kêu mãi trong rừng
tùng. Đây là diễn tả cảnh buồn đêm khuya.
“Xa
xôi Sâm, Đẩu trải ngân hà, vắng vẻ quỉ thần khóc đồng
nội.” Trên trời cao, sao Sâm sao Đẩu trải dài trên dải
ngân hà. Sâm tức là tên một ngôi sao trong nhị thập bát
tú (hai mươi tám vì sao). Đẩu là tên một chùm sao gồm có:
Nam Đẩu (sáu ngôi sao), Bắc Đẩu (bảy ngôi sao), Tiểu Đẩu
(năm ngôi sao), gọi sao Đẩu phần nhiều là để chỉ sao Bắc
Đẩu. Ngoài đồng nội vắng vẻ đìu hiu dường như quỉ
thần đang khóc.
“Cuốc
kêu thống thiết, mộng điệp say mê. Thân huyễn lẻ loi trong
rừng rậm, mộng hồn rong ruổi ngàn dặm trường.” Chim cuốc
kêu thống thiết ngoài lùm bụi, nơi phòng người đang say
mê trong giấc điệp. Thân huyễn hóa nằm một mình nơi thôn
xóm, mà hồn mộng đi xa ngoài ngàn dặm. Thí dụ như đêm
khuya thân nằm trên núi, mà mộng hồn đi tới thành phố Sài
Gòn.
“Cam
chịu ma ngủ quấy rầy luôn, đâu biết đuốc trí hằng sáng
rực. Ngoài nhà thần phách lạc hồn bay, trong hang quỉ tròng
che mắt nhắm.” Chúng ta cam chịu ma ngủ quấy rầy làm cho
say mê, đâu biết rằng ngay khi mê đuốc trí hằng sáng rực
nơi mình. Muốn chiến thắng ma ngủ, chúng ta phải thắp lên
ngọn đuốc trí, nghĩa là phải chịu khó ngồi dậy đi rửa
mặt, tréo chân ngồi kiết già, không được nằm ì nhắm
mắt, ma ngủ sẽ làm cho mình mê say tăm tối, hồn phách tản
mát dạo chơi. Khi bị tối tăm, nhà Thiền gọi là ở trong
hang quỉ. Giả sử đang ngồi thiền nhắm mắt, lâu lâu gật
một cái, lúc đó tuy ngồi tại Thiền đường, nhưng chúng
ta đang sống trong hang quỉ, nên nói: “trong hang quỉ tròng
che mắt nhắm”, nghĩa là khi mắt nhắm tròng mắt bị che
bít nên ngủ say sưa như ở trong hang quỉ. Lúc đó chúng ta
không còn đàng hoàng tỉnh táo, không còn khôn ngoan làm chủ
được mình, thật là đáng buồn. Chúng ta đi tu ai cũng muốn
được giác ngộ thành Phật. Vậy chúng ta phải chiến thắng
ma ngủ, thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ, quyết ra khỏi hang
quỉ mê mờ u tối.
“Chỉ
thích tham mê ngủ nghỉ, đâu biết nếm vị chân như.” Nếu
chỉ ham thích ngủ nghỉ, thì không nếm được vị chân như.
Được ngồi yên tỉnh táo, hoàn cảnh chung quanh đều im lặng,
chính khi ấy chúng ta mới nếm được vị chân như. Còn nằm
nhắm mắt ngủ khò, đó là vị say của ma ngủ.
“Ham
ưa một giấc ngon đến sáng, nào ngại trăm năm cơn chết
chờ.” Câu này thật là buồn. Chúng ta ham mê ngủ nghỉ,
nằm xuống đánh một giấc ngon tới sáng, thật là thích thú,
nhưng nào ngờ cơn chết đang chực sẵn bên mình. Thế nên
ngủ ít, ngủ thiếu để lo giải quyết chuyện sanh tử, nếu
mê ngủ hoài thì ai giải quyết cho mình? Đó là lời nhắc
nhở để đánh thức chúng ta không nên mê nữa.
“Các
Phật tử! Phải nhớ bốn rắn bức bách, chớ quên hai chuột
gặm mòn.” Đây là điển tích trong nhà Phật. Bốn rắn bức
bách tức là “tứ xà đồng nhiếp”, nghĩa là bốn con rắn
nhốt chung trong một cái chậu. Trong kinh Niết-bàn, đức Phật
nói: Ngày xưa có một người nuôi bốn con rắn độc chung
trong một chậu lớn, chúng không ưa nhau nên cắn lộn mãi,
người nuôi phải đem đủ thức ăn và phải điều hòa chúng.
Cứ như thế mà lo cho đáo để, đến một hôm cái chậu ngã
lăn, mấy con rắn chạy tứ tán, mỗi con một nơi, người
nuôi chới với kiếm bốn con rắn khác nuôi nữa. Cứ nuôi
như vậy một lần, hai lần đến cả trăm ngàn lần, thật
là đáng thương cho người đó vì họ làm việc của dã tràng,
ra công sức để làm, kết quả hoàn tay không. Người thích
nuôi bốn rắn đó là ai? Là người mê hay tỉnh, ngu hay sáng?
Nếu là người sáng suốt, khi bốn con rắn không ưng ở chung
mỗi con muốn đi mỗi ngả, mình chỉ cười thôi, cười vì
hết nợ, không còn ra công nuôi nấng nhọc nhằn và can ngăn
để giảng hòa chúng nữa. Bốn con rắn ấy là: rắn hổ đất,
rắn nước, rắn hổ lửa, rắn hổ mây; nếu nhốt chung lại
một chỗ, chúng nó cắn lộn lấn áp lẫn nhau cho nên chúng
ta phải kiếm đất bỏ vào, lấy nước tưới vào... cả ngày
cực khổ, cứ như thế làm suốt đời, suốt kiếp. Thế mà
khi bốn rắn sắp ly tán chúng ta lại than van khóc tiếc, thật
là dại khờ. Đức Phật dùng thí dụ này để chỉ trong cuộc
sống nếu chúng ta cứ theo đuổi giữ gìn thân tứ đại thì
uổng đi một kiếp không có lợi ích gì.
“Chớ
quên hai chuột gặm mòn.” Đây là câu chuyện trong kinh, Phật
dùng để thí dụ: Có người tử tội, nhà vua cho quân lính
áp dẫn ra rồi thả hai con voi tới để giày xác, người ấy
cắm đầu chạy, hai voi đuổi nà theo. Bất chợt bên đường
ông thấy một cái giếng cạn nên vội nhảy xuống để trốn.
Dưới đáy giếng có ba con rồng đang phun lửa, ông hoảng
sợ vội chụp sợi dây bìm bìm thòng xuống gần bên và phăng
lần lên. Khi còn đeo lơ lửng giữa chừng thì chung quanh thành
giếng có bốn con rắn độc thè lưỡi ra chực đớp ông.
Hết lối thoát ông chỉ còn cách đeo sợi dây chờ chết.
Trong khi đó, ở trên miệng giếng lại có hai con chuột, một
trắng một đen, chạy qua chạy lại gặm nhấm sợi dây, thật
nguy hiểm biết chừng nào! Thế mà bất thần có bầy ong mật
bay ngang qua làm rớt năm giọt mật, người tử tội liếm
được mật thích quá, say mê quên cả nguy hiểm đang chực
sẵn bên mình.
Qua
thí dụ trên đức Phật muốn nói lên điều gì? Tất cả
chúng ta sanh ra có phải là những người mang án tử hình không?
Có sanh thì nhất định có tử, cho nên người tử tội là
dụ cho án tử hình của mỗi người chúng ta. Hai con voi đuổi
theo là dụ cho hành khổ và hoại khổ. Hành khổ tức là khổ
vì vô thường, từng sát-na thay đổi. Hoại khổ tức là khổ
vì tan hoại. Hai khổ này theo đuổi thân chúng ta, nên Phật
dụ hai con voi rượt đuổi người tử tội. Khi chạy trốn
hai voi, người tội lại nhảy xuống giếng gặp ba con rồng
đang phun lửa. Ba con rồng là dụ cho tam độc (tham sân si)
đang thiêu đốt chúng ta. Muốn tránh ba độc, phải phăng sợi
dây leo lên. Đang ở nửa chừng giếng có bốn rắn ló đầu
ra chực cắn. Bốn rắn là dụ cho tứ đại, lúc nào cũng
tranh giành chống trái lẫn nhau. Người tử tội chỉ còn đeo
sợi dây, dụ cho sanh mạng hay tuổi thọ của mình. Hai con
chuột chạy qua chạy lại gặm nhấm sợi dây là dụ cho ngày
và đêm, ngày qua đêm lại, tuổi thọ của mình mòn dần,
đến một hôm nào sợi dây đứt thì rớt xuống giếng tan
thân mất mạng. Nhưng lúc đó bất thần có mấy con ong làm
rơi năm giọt mật, người tử tội liếm mật say mê quên
hết khổ sở hiểm nguy. Năm giọt mật là dụ cho ngũ dục,
theo nghĩa thông thường thế gian ngũ dục là tài, sắc, danh,
thực, thụy, tức là tiền của, sắc đẹp, danh vọng, ăn
ngon, ngủ kỹ. Theo nhà Phật, ngũ dục là sắc, thanh, hương,
vị, xúc. Năm dục làm cho chúng ta say mê quên lửng mình đang
sống trong nguy hiểm cơ cực tột cùng. Chúng ta phải quyết
tâm thoát khỏi hiểm nguy cho kỳ được, đó mới là người
thức tỉnh.
Thí
dụ trên cho chúng ta thấy cuộc sống của mình lúc nào cũng
bất an, hiểm nguy đang chực sẵn, mà ít người nhớ tới.
Khi cơn vô thường chợt đến, chúng ta than khóc khổ đau.
Nếu là người sáng suốt thì vô thường là chuyện đương
nhiên, không có gì phải than van nuối tiếc.
“Luân
hồi ba cõi chừng nào thôi, quanh quẩn bốn loài bao giờ hết?”
Nếu chúng ta say mê theo năm giọt mật thì luân hồi trong ba
cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới không biết lúc nào
thôi, lên xuống trong lục đạo địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh, người, a-tu-la, trời đến bao giờ mới dứt? Đây là
câu hỏi làm cho chúng ta thức tỉnh.
“Đường
vãng sanh nên bước, cần vin xe dẫn ra.” Đường vãng sanh
không phải hiểu theo nghĩa vãng sanh Tịnh độ, mà ở đây
muốn nói đến con đường giải thoát, đường này chúng ta
phải gấp bước. “Cần vin xe dẫn ra” là nhắc đến phẩm
Thí Dụ trong kinh Pháp Hoa. Trong căn nhà lửa đang cháy hừng
hực, các con ông Trưởng giả không hề hay biết, cứ say mê
vui chơi đùa giỡn, không chịu chạy ra. Ông Trưởng giả thương
xót mới tìm phương tiện dẫn dụ các con, đặt ra ba chiếc
xe là xe dê, xe hươu, xe trâu. Nhờ ham xe nên chúng nó chạy
ra khỏi nhà lửa. Nhưng khi các con chạy ra khỏi, ông Trưởng
giả chỉ cho xe trâu trắng trang hoàng lộng lẫy, màn trướng
phủ che, tôi tớ hầu hạ... quá sự mơ ước của các con.
Đây là để nói chúng ta đang quanh quẩn trong nhà lửa tam
giới, muốn thoát ra phải nương ba xe dụ cho ba thừa: Thanh
văn, Duyên giác, Bồ-tát. Thật ra chỉ Phật thừa là cứu
kính, được tượng trưng bằng xe trâu trắng.
“Nào
là chỗ lao quan, quyết định đêm nay phá vỡ.” Lao quan là
chỗ ngục tù giam hãm, ngay trong đêm nay chúng ta quyết phá
vỡ để vượt ra. Trong nhà Thiền, tông Lâm Tế thường nói
đến Tam quan, tức là: Tổ sư quan, trùng quan và lao quan, nghĩa
là chúng ta tu hành cốt phải vượt khỏi tất cả cửa ải
trở ngăn để đến chỗ giác ngộ viên mãn. Đây là ngài
Trần Thái Tông muốn nhắc ngay trong đêm tối đang ngủ ngon
này, chúng ta phải gan dạ thức dậy tu hành để vượt khỏi
những trói buộc giam hãm chúng ta trong ngục tù tam giới.
“Đệ
tử chúng con, kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ nửa
đêm.”
SÁM
HỐI TỘI CĂN THÂN
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
Đây
là lời sám hối tổng quát của các căn để nhắc rằng từ
thuở nào đến giờ chúng ta đã quên mất bản tâm, không
biết con đường chánh, vì vậy mà lẩn quẩn trong ba đường
khổ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Sở dĩ như thế là vì
sáu căn chúng ta sai lầm tạo nghiệp. Nay chúng ta phải sám
hối những lỗi trước đã làm, mới có thể tránh được
những lỗi sau này.
NGHIỆP
CĂN THÂN LÀ:
Tinh
cha huyết mẹ, chung hợp nên hình;
Năm
tạng trăm hài, cùng nhau kết hợp.
Chấp
cho là thật, quên mất pháp thân;
Sanh
dâm, sát, trộm, bèn thành ba nghiệp.
Thân
hình chúng ta do tinh cha huyết mẹ hợp thành, trong đó năm
tạng trăm hài kết lại cùng nhau. Năm tạng là: tâm, can, tì,
phế, thận, trăm hài là chỉ các đốt xương. Thật ra khi
ngồi tu, chúng ta nhìn lại thân này thật buồn cười. Nó
chỉ là một cái sườn bằng xương, cột dính lại bằng những
sợi gân, rồi tô đắp bằng máu thịt, bên ngoài bọc một
lớp da, gọi đó là thân. Thân người là sự kết hợp như
vậy, lại “chấp cho là thật, quên mất pháp thân”. Vì
chấp thân mình là thật, nên sanh ra các tội, nào là dâm,
sát và trộm tạo thành ba nghiệp.
1.-
NGHIỆP SÁT SANH LÀ:
Luôn
làm bạo ngược, chẳng khởi nhân từ;
Giết
hại bốn loài, đâu biết một thể.
Chúng
ta luôn luôn làm những điều bạo ngược mà không khởi lòng
nhân, thường giết hại bốn loài, đâu biết chúng cùng một
thể. Bốn loài là: thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh,
tất cả những loài đó chúng ta đều giết hại, đâu biết
rằng về mặt vật chất, chúng cũng từ tứ đại hợp thành
không khác gì chúng ta.
Lầm
hại cố giết, tự làm dạy người;
Hoặc
tìm thầy bùa, đem về ếm đối.
Hoặc
làm thuốc độc, để hại sanh linh;
Chỉ
cốt hại người, không hề thương vật.
Tâm
ác độc của con người luôn luôn là cố hại. Hoặc là giết
lầm, hoặc là cố ý, có khi tự mình giết hay dạy người
giết, bằng cách này hay cách khác. Làm bùa làm chú hoặc làm
thuốc độc, chỉ cốt hại người cho được, không hề thương
tưởng.
Hoặc
đốt núi rừng, lấp cạn khe suối;
Buông
chài bủa lưới, xuýt chó thả chim.
Thấy
nghe tùy hỉ, niệm dấy tưởng làm;
Cử
động vận hành, đều là tội lỗi.
Có
khi đốt rừng đốt núi làm cho những con vật bị chết thiêu,
hoặc lấp cạn các khe suối làm cho tôm cá chết khô. Ở thế
gian khi còn mê lầm, mỗi một ngày sống của chúng ta là mỗi
một ngày sát hại sanh linh, nghĩa là chúng ta bồi bổ mạng
sống của mình bằng thể xác của những con vật. Trong một
bữa ăn dù nhà nghèo đi nữa, nếu chúng ta mua những con cá
nho nhỏ, ít ra cũng vài ba chục con để dùng cho ngon miệng.
Ngày nào cũng như ngày nấy, đều đều như vậy, thì chừng
bao nhiêu con vật đã chết vì mình? Thế là chúng ta chỉ nghĩ
tới sự sống của bản thân mà không nhớ đến nỗi khổ
đau của chúng. Đó là nói về tội sát sanh.
2.-
NGHIỆP TRỘM CẮP LÀ:
Thấy
tài bảo người, thầm khởi tâm tà;
Phá
khóa cạy then, sờ bao mò túi.
Thấy
của Thường trụ, lòng dấy khởi tham;
Trộm
của nhà chùa, không sợ thần giận.
Không
những vàng ngọc, mới mắc tội to;
Ngọn
cỏ cây kim, đều thành nghiệp trộm.
Chẳng
những trộm của thế gian, mà của chùa nhiều khi những người
tham cũng muốn lấy cắp, không sợ các Long thần Hộ pháp
quở rầy. Mắc tội trộm, không phải lấy của nhiều mới
là trộm, dù cho một cây kim, một trái ớt, không xin mà lấy,
cũng là mang tội.
3.-
NGHIỆP TÀ DÂM LÀ:
Lòng
mê nhan sắc, mắt đắm phấn son;
Chẳng
đoái liêm trinh, riêng sanh lòng dục.
Hoặc
nơi đất Phật, Chánh điện phòng Tăng;
Cư
sĩ gái trai, đụng chạm đùa giỡn.
Tung
hoa ném quả, đạp cẳng kề vai;
Khoét
ngạch trèo tường, đều là dâm nghiệp.
“Cư
sĩ gái trai” là chỉ những người cư sĩ nam, cư sĩ nữ,
tiếng Trung Hoa gọi là Cận sự nam, Cận sự nữ, dịch từ
chữ Phạn Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di.
Như
vậy mê sắc đẹp, không những ở ngoài thế gian, có khi đến
chùa những người cư sĩ còn đùa giỡn, có những ý niệm
đắm mê nhan sắc, nên tạo nhiều tội lỗi.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên;
Đến
lúc mạng chung đều vào địa ngục.
Gái
nằm giường sắt, trai ôm cột đồng;
Muôn
kiếp tái sanh, lại chịu tội báo.
Khi
sống do thân này mà tạo ba nghiệp: sát sanh, trộm cướp,
tà dâm, gây nên bao nhiêu tội lỗi. Đến khi chết phải đọa
vào địa ngục, người nữ thì nằm giường sắt nóng, người
nam thì ôm cột đồng cháy đỏ. Khi hết tội, được sanh
làm người, lại chịu các quả báo dư thừa.
Nếu
không sám hối, khó được tiêu trừ;
Nay
trước Phật đài, thảy đều sám hối.
Những
lỗi lầm do thân tạo ra, chúng ta đều phải thành tâm sám
hối để tiêu trừ ba nghiệp.
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm
thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
(Những
đoạn này đã giảng trong các bài trước.)
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện mạng căn chóng thành tuệ,
Hai
nguyện thể tướng biến thành chân,
Ba
nguyện gieo mình cầu đại pháp,
Bốn
nguyện vào lửa ngộ thâm nhân.
Năm
nguyện đốt thân đền Phật đức,
Sáu
nguyện chẻ tủy đáp ơn thầy,
Bảy
nguyện xin đầu trọn chẳng tiếc,
Tám
nguyện móc mắt cũng là thân.
Chín
nguyện thoa hương không có thích,
Mười
nguyện cắt thịt chẳng sanh sân,
Mười
một nguyện đời đời không đắm trước,
Mười
hai nguyện kiếp kiếp lìa tục trần.
Mười
hai nguyện này chúng ta đọc lên để thử xem có thành tựu
được hay không?
“Một
nguyện mạng căn chóng thành tuệ.” Chúng ta nguyện cho mạng
căn được chóng thành trí tuệ, gọi là giới thân tuệ mạng,
tức là lấy trí tuệ làm mạng, chớ không phải lấy cuộc
sống làm mạng.
“Hai
nguyện thể tướng biến thành chân.” Nguyện thể tướng
vô thường tạm bợ này biến thành thể chân thật, tức là
pháp thân.
“Ba
nguyện gieo mình cầu đại pháp.” Đây là dẫn sự tích trong
kinh Vị Tằng Hữu Thuyết Nhân Duyên, kể lại chuyện Bồ-tát
đi học đạo. Người hứa dạy đạo bảo: Nếu muốn được
dạy pháp Phật thì phải hy sinh thân mình, nhảy xuống dưới
hố rồi lên ta sẽ dạy cho. Bồ-tát vì cầu đại pháp mà
chấp nhận xả thân không kinh sợ.
“Bốn
nguyện vào lửa ngộ thâm nhân.” Bảo nhảy vào lửa cũng
nhảy để ngộ được nhân sâu xa.
“Năm
nguyện đốt thân đền Phật đức.” Vì đền ơn đức Phật
nên dù đốt thân mình cũng không tiếc.
“Sáu
nguyện chẻ tủy đáp ơn thầy.” Chỉ cần biết ơn thầy
lo tu hành cũng là khó rồi, huống nữa là chẻ tủy. Người
xưa phát nguyện mạnh như vậy, chúng ta ngày nay chỉ đọc
lời nguyện thôi, chưa chắc làm được.
“Bảy
nguyện xin đầu trọn chẳng tiếc.” Dù cho người ta xin cái
đầu cũng chẳng tiếc. Như câu chuyện Tổ Sư Tử cho đầu:
Vua nước Kế-tân, tay cầm kiếm bén đến hỏi: Ngài thấy
năm uẩn đều không chưa? Tổ đáp: Phải, tôi thấy năm uẩn
đều không. Vua hỏi: Nếu năm uẩn đều không, cho tôi cái
đầu được chăng? Tổ bảo: Năm uẩn đều không, sá gì cái
đầu. Tổ cho đầu mà chẳng tiếc.
“Tám
nguyện móc mắt cũng là thân.” Dù móc con mắt của mình
cũng là thân chớ không có thù. Trong kinh kể lại: Có một
vị Tỳ-kheo nguyện xả thân, ai muốn xin phần nào trong thân
Ngài cũng cho. Một vị trời hiện thân làm người ngoại đạo
tới nói: Tôi muốn xin tròng con mắt của Ngài về làm thuốc.
Vị Tỳ-kheo liền móc con mắt đưa cho, người ấy cầm tròng
mắt quăng xuống đất, lấy chân chà lên. Vị Tỳ-kheo liền
nổi sân, tưởng đâu cho mắt làm thuốc, mà lại chà đạp
lên. Người ngoại đạo liền hiện thân trời Đế Thích nói:
Như vậy là Ngài chưa thật cho mà không tiếc. Dù móc mắt
cho cũng là thân chớ đừng nổi sân.
“Chín
nguyện thoa hương không có thích.” Dù cho đem hương thoa thân
cũng không thích. Nếu thoa chất gì nhơ nhớp thì chúng ta không
bằng lòng, còn đem hương thơm thoa mình, rất khó mà không
thích.
“Mười
nguyện cắt thịt chẳng sanh sân.” Dù bị cắt thịt nguyện
cũng không sân hận. Nhưng chúng ta bây giờ chỉ đụng đau
một chút là kêu la, huống nữa là cắt da thịt, làm sao chịu
nổi.
“Mười
một nguyện đời đời không đắm trước.” Đối với tất
cả sắc, thanh, hương, vị, xúc, nguyện không bao giờ đắm
trước.
“Mười
hai nguyện kiếp kiếp lìa tục trần.” Nguyện kiếp kiếp
không dính với những gì trần tục.
Đây
là mười hai nguyện đối với thân, nếu chúng ta gan dạ nguyện
và làm được như vậy, quả là người siêu phàm.
KỆ
VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
Muôn
tiếng vừa im bặt,
Canh
ba trống điểm hồi,
Chim
cuốc kêu thảm thiết,
Giấc
mộng mãi mê say.
Cam
trong hòe làm kiến,
Trở
thành cá trên ao.
Không
thể xem trăng mọc,
Chỉ
luyến ái trong hoa.
Quên
mất nhà muôn dặm,
Còn
tham giấc ngủ thừa.
Chẳng
biết thân là huyễn,
Mê
muội đến bao giờ.
Bốn
câu đầu diễn tả cảnh nửa đêm lúc canh ba.
“Cam
trong hòe làm kiến”, tức là cam làm con kiến trong cây hòe.
Sự tích như sau: Ngày xưa ở Trung Hoa, có ông Thuần Vu Phần,
ngủ trưa dưới gốc cây hòe. Ông nằm mơ thấy mình đến
nước Đại Hòe An, làm Thái thú quận Nam Kha hai mươi năm.
Ông được vua nước Đại Hòe An gả Công chúa và sanh được
năm trai, hai gái, cực kỳ vinh hiển. Sau ông đánh giặc bị
thua, Công chúa chết, vua Đại Hòe An đuổi về quê. Ông chợt
tỉnh dậy, thấy mình nằm dưới gốc cây hòe, trên cành hòe
phía nam có một tổ kiến. Vì thế nên nói “cam làm kiến
trong hòe”. Chúng ta cam say mê trong giấc mộng không chịu
thức tỉnh. Cuộc đời chỉ là một giấc mộng dài, không
có gì thật, cũng như chàng Thuần Vu Phần hưởng lạc thú
trong giấc mộng, giựt mình tỉnh giấc thấy mình nằm dưới
gốc cây. Đây là hình ảnh rất buồn. Điển tích này trích
trong Nam Kha Ký của Lý Công Tá.
“Trở
thành cá trên ao.” Tức là muốn trở thành con cá trên ao.
Đây là một sự tích khác.
Không
thể xem trăng mọc,
Chỉ
luyến ái trong hoa.
Nghĩa
là chỉ thích làm con sâu trong cái hoa, chớ không muốn được
tự do thong thả bên ngoài, cũng như chỉ thích làm kiến trong
cây hòe, làm cá trong ao. Vì mê lầm chúng ta đắm trước trong
những điều tạm bợ không ra gì, cho nên không thấy được
cái đẹp đẽ, cao quí như mặt trăng.
Quên
mất nhà muôn dặm,
Còn
tham giấc ngủ thừa.
Chẳng
biết thân là huyễn,
Mê
muội đến bao giờ.
Chúng
ta đã đi xa muôn dặm quên mất gia hương, lại mải say sưa
trong giấc ngủ, không chịu thức tỉnh. Chẳng biết thân này
là tạm bợ huyễn hóa, lại mê muội chấp cho là thật.
Bao
nhiêu phiền não dấy khởi đều do chấp thân và cảnh là
thật. Vì thế ai chạm tới thân thì bực bội oán thù, ai
tước đoạt cảnh mình ưa thích thì giận hờn tức tối.
Nếu biết rõ thân chúng ta mấy mươi năm rồi cũng tan hoại,
cảnh bên ngoài là tạm bợ giả dối thì phiền não không
còn, ba nghiệp dẹp sạch, thế mới là người tỉnh giác.
Đây
là lời nhắc nhở của Phật và Tổ, tất cả chúng ta phải
luôn luôn ghi nhớ thực hành để đường tu của mình được
trong sáng và tươi đẹp cho đến ngày giác ngộ viên mãn.