DÂNG
HƯƠNG BUỔI ĐẦU HÔM
“Cúi
mong, lửa đom đóm điểm không, đèn thuyền chài rọi nước.
Bạn tịnh trên đàn đều tới, trong lò mới thắp tín hương.
Hương này, sản phẩm chẳng ở Lạc Sơn, chủng loại không
phải trầm thủy. Đâu bởi Thần Long dâng cúng, chính do Bồ-tát
cất dành. Trong rừng Ngưu đầu khó so bì, nơi vườn Kê thiệt
suy tôn bậc nhất. Gươm tuệ chặt, vót bằng đao giới rất
mực thanh kỳ; nước định rửa, lửa tam-muội đốt mùi thơm
ngào ngạt. Đâu chỉ đàn tràng ngửi được, mọi nơi khắp
chốn đều thơm. Một nén hương xông nhiều đời nghiệp sạch.
Nay buổi đầu hôm, đốt hương cúng dường.”
“Cúi
mong, lửa đom đóm điểm không, đèn thuyền chài rọi nước.”
Tối đến đom đóm bay chớp chớp trên không, các thuyền chài
thắp đèn, ánh sáng rọi xuống nước.
“Bạn
tịnh trên đàn đều tới, trong lò mới thắp tín hương.”
Bạn tịnh là dịch chữ phạm lữ. Lữ là bạn, phạm là thanh
tịnh, nghĩa là những người xuất gia vừa đến trước đàn
tràng, là chùa hoặc Thiền đường, khi ấy mới bắt đầu
thắp hương cúng dường cắm trên lò hương. Ngài tán thán
hương:
“Hương
này, sản phẩm chẳng ở Lạc Sơn, chủng loại không phải
trầm thủy.” Lạc Sơn là chỉ những ngọn núi ở ngoài biển
tương tự như núi Bồng lai, tức là những ngọn núi có hương
quí. Chủng loại của hương này vượt hơn hương trầm thủy.
“Đâu
bởi Thần Long dâng cúng, chính do Bồ-tát cất dành.” Hương
này không phải do các vị thần, rồng dâng cúng mà do trong
kho của Bồ-tát cất dành sẵn.
“Trong
rừng Ngưu đầu khó so bì, nơi vườn Kê thiệt suy tôn bậc
nhất.” Rừng Ngưu đầu tức Ngưu đầu chiên-đàn, là cây
chiên-đàn rất thơm, sản xuất trên núi Ngưu đầu, một ngọn
núi ở miền Nam Ấn Độ. Trong kinh Chính Niệm Xứ chép: Đỉnh
núi này giống như đầu con trâu và núi sản sanh cây chiên-đàn
nên gọi là Ngưu đầu chiên đàn. Hương chiên-đàn ở núi
Ngưu đầu rất thơm nhưng so với hương dâng cúng Phật còn
thua kém. “Nơi vườn Kê thiệt suy tôn bậc nhất.” Kê thiệt
cũng là tên (Kê thiệt là lưỡi gà). Tìm trong sử thì thấy
tên nhưng không thấy diễn tả là vườn hay núi... Hương Kê
thiệt là một thứ hương rất thơm nhưng cũng không bằng
nên gọi là suy tôn bậc nhất. Vậy hương này là tâm hương
nên chỉ có ở kho của Bồ-tát.
“Gươm
tuệ chặt, vót bằng đao giới rất mực thanh kỳ.” Vì là
tâm hương nên chặt bằng gươm trí tuệ, vót bằng đao giới
luật nên rất mực thanh kỳ, tức là thơm tho kỳ đặc.
“Nước
định rửa, lửa tam-muội đốt mùi thơm ngào ngạt.” Khi
vót thành cây hương liền lấy nước định rửa, dùng lửa
tam-muội đốt. Tam-muội là âm chữ Phạn, dịch nghĩa là chánh
định. Mùi thơm hương này do trí tuệ biết, không phải như
các loại hương thế gian do mũi ngửi được.
“Đâu
chỉ đàn tràng ngửi được, mọi nơi khắp chốn đều thơm.”
Mùi thơm của hương này không chỉ ở trong chùa mà tỏa khắp
nơi. Đây là tâm hương, do giới, định, tuệ hun đúc thành,
nên không phải do mũi ngửi mà do trí người trọng đạo đức
biết nó thơm quí.
“Một
nén hương xông nhiều đời nghiệp sạch”, nghĩa là xông
được nén hương này thì tất cả nghiệp nhiều đời theo
đó sạch hết. “Nay buổi đầu hôm đốt hương cúng dường.”
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ
DÂNG HOA
Đất
tâm mở ra hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa vẫn kém thơm.
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
PHÁT
NGUYỆN
Nguyện
mây hương hoa này,
Khắp
cả mười phương cõi,
Cúng
dường tất cả Phật,
Tôn
Pháp, chư Bồ-tát,
Vô
lượng chúng Thanh văn
Và
tất cả Thánh Hiền.
Vừa
rời đài Quang minh,
Qua
cõi nước vô biên,
Trong
vô biên cõi Phật,
Nhận
dùng làm Phật sự.
Xông
khắp các chúng sanh
Đều
phát tâm Bồ-đề.
Đây
là lời phát nguyện sau khi dâng hương, dâng hoa.
TÂU
BẠCH
“Kính
bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, mở rộng
đèn tuệ chư Phật, soi khắp nhà tối quần sanh.” Kính mong
chư Phật mở rộng đèn trí tuệ để soi khắp nhà tối của
chúng sanh.
“Trộm
nghe (hay thầm nghe): kèn lầu vừa thổi, trống cấm mới truyền,
nhà nhà đèn sáp sáng trưng, chốn chốn mỡ rồng cháy rực.”
Đây là dẫn giải theo lối xưa, chữ kèn là gượng dịch,
nguyên là chữ giác tức là sừng, thường gọi là tù và.
Tiếng tù và thổi là báo hiệu đã tối, trống cấm trong
thành vua được lệnh đánh, nhà nhà đều đốt đèn cầy
sáng trưng. Mỡ rồng cũng là mỡ rắn, thường thuở xưa người
ta hay lấy mỡ những con rắn lớn thắng làm dầu đốt, cũng
như ở quê đốt dầu phộng dầu mù u, tối đến mỗi nhà
đốt các dĩa dầu cháy rực.
“Ngựa
báu thôi hí ngoài ngõ tía, cá vàng ngưng nhảy dưới ao trong.”
Ngõ tía tức là đường quan. Những con ngựa hay chở đưa
người đi chơi ngoài đường quan, tối rồi ngưng không còn
hí nữa. Cá ban ngày được người cho ăn, nhảy đớp bọt,
tối đến im lặng không nhảy nữa. Đó là hai hình ảnh rất
nên thơ.
“Lưa
thưa mặt nước đom đóm bay, lấp ló đầu non ngậm vầng
nguyệt.” Trên mặt hồ lưa thưa đom đóm bay lập lòe, lúc
đó mặt trăng sắp lặn.
“Bên
đài Phượng hoàng say sưa tiệc rượu liên hoan, trước lầu
Anh vũ tham đắm mê hoa thủ lạc.” Đài Phượng hoàng và
lầu Anh vũ chỉ cho những lầu đài cất gần đền vua ở
Trung Hoa thuở xưa. Đó là chỗ vui chơi của vua quan, nên bên
đài Phượng hoàng say sưa tiệc rượu liên hoan, trước lầu
Anh vũ tham đắm mê hoa thủ lạc. Mê hoa tức là ham chơi thích
thú theo những dục lạc thế gian.
“Hoặc
vịnh trăng cợt gió, hoặc thổi sáo đánh đàn”, hoặc nhìn
trăng đùa gió rồi làm thơ vịnh hoặc đánh đàn thổi sáo
v.v...
“Người
người chăm chăm duyên trước mắt, kẻ kẻ đâu quên việc
sau thân.” Người đời mải ham chơi mê đuổi theo những
việc trước mắt, nhưng đâu thể quên được việc sau thân.
Sau thân là việc gì? Mai kia thân này già nua lụn bại, nên
ai cũng phải biết còn có việc sau thân. Đến đây Ngài đánh
thức:
“Các
Phật tử phải tỉnh đường trước khó tiến tới, chớ tham
gối cao mặc ngủ say.” Người tu hành phải luôn luôn nhìn
trước mình, mỗi ngày mỗi bước tiến lên không được chần
chờ, không được dừng nghỉ. Muốn tiến tới luôn luôn như
vậy thật là khó, chúng ta phải nỗ lực. “Chớ tham gối
cao mặc ngủ say”, tối nằm trên gối ngủ một giấc ngon
tới sáng, đó là gối cao nệm ấm ngủ say sưa, quên đường
trước mà không chịu tiến.
“Lên
giường khó bảo đảm xuống giường, đêm nay đâu thể biết
đêm mai.” Câu này đánh thức chúng ta. Như vừa rồi tại
một thất ở sau Thường Chiếu có một cô xuất gia, cô Huệ
Toàn, chiều còn nói chuyện vui với huynh đệ như thường,
tối ngủ đến sáng không thấy mở cửa, những người hàng
xóm chạy đến nạy cửa vào thấy cô nằm yên không còn thở
nữa. Thật đúng như câu: “Lên giường khó bảo đảm xuống
giường.” Như vậy mà có ai nhớ đâu, cứ nghĩ sáng thì
xuống, không ngờ có khi lên mà không xuống được. “Đêm
nay đâu thể biết đêm mai”, đêm nay còn sống, chưa chắc
đêm mai còn. Đó là những câu cảnh tỉnh cho chúng ta thấy
cuộc đời mỏng manh tạm bợ, ngày nay khỏe mạnh chớ chưa
bảo đảm ngày mai được khỏe. Nếu ai nhớ luôn luôn như
vậy thì tu hành đâu có dám bê trễ. Trái lại, cứ tin ngày
mai mình vẫn khỏe, vẫn làm việc như thường, nên ngày nay
tu thiếu, để dành mai tu bù không có gì phải lo. Nếu biết
rằng ngày nay chưa bảo đảm ngày mai thì ngày nào khỏe phải
tu ngay, chớ không thể chần chờ.
“Cửa
đệ nhất nghĩa nên thẳng vào, nơi ba đường ác chớ tiến
bước.” Cửa đệ nhất nghĩa là dịch từ đệ nhất nghĩa
môn là cửa có một nghĩa thôi, đó là cửa không dính hai
bên. Quí vị đang tiến vào cửa đệ nhất hay cửa đệ nhị?
Nếu là đệ nhị thì kẹt hai bên. Cửa đệ nhất thì không
có hai bên, tức là không có hơn thua, tốt xấu, phải quấy.
Đó cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế, nơi cửa đó phải
ráng thẳng vào. Còn ba đường ác địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh, đừng tiến bước vào vì sẽ khổ. Như vậy người biết
tu phải luôn luôn đi thẳng vào cửa đệ nhất nghĩa, tức
là nơi không còn đối đãi, không còn phân biệt, đó là nơi
an định, giải thoát khỏi vòng sanh tử.
“Quay
đầu nhận về gia hương mình, mở mắt chớ ham mộng phù
thế.” Gia là nhà, hương là làng xã nơi nhà mình ở, đó
là nghĩa đen. Theo nghĩa ở đây gia hương là chỗ cố hương
mình có từ thuở nào. Nay chúng ta có phải là những người
đang phiêu bạt không? Người rời khỏi cố hương là kẻ
phiêu bạt! Như vậy nếu chưa về được gia hương mình là
còn đang phiêu bạt.
Ngài
Trần Thái Tông bảo chỉ quay đầu nhận về gia hương! Vậy
gia hương khác với phiêu bạt ở chỗ quay đầu lại hay phóng
mắt nhìn ra. Quay đầu lại, từ chuyên môn nhà Thiền gọi
là “Hồi đầu thị ngạn” nghĩa là quay đầu là bờ ấy,
bờ ấy là gia hương. Trái lại nếu phóng mắt ra ngoài, đó
là phiêu bạt. Buông sáu căn chạy theo sáu trần đó là phiêu
bạt. Xoay sáu căn trở lại nơi bản quán của nó, là quay
đầu về cố hương, quay đầu về là bờ giác. Bờ giác xa
hay gần? Gần nhưng đi mãi không đến nên thành xa! Xa mà không
phải xa, chỉ cần quay đầu lại, nhưng vì cứ phóng ra nên
trở thành xa! Như vậy tự kiểm điểm lại xem một ngày chúng
ta quay lại được bao lâu, chắc chắn nhất là sáu tiếng.
Chúng ta còn như thế, huống là người thế gian mải đi theo
con đường phiêu bạt hẳn khó kiếm được một tiếng đồng
hồ quay trở lại. Thế nên chúng ta thấy kinh Pháp Hoa diễn
tả hay đáo để. Người cùng tử bỏ nhà đi không biết từ
thuở nào, chỉ thấy đang lang thang, nay giựt mình, quay trở
về quê hương tìm cha mẹ. Khi trở về buổi đầu được
cha trao cho công tác tầm thường như hốt phân, dần dần được
gần cha và cuối cùng cha trao hết gia tài cho. Biết trở về
là như vậy, còn nếu không biết thì suốt kiếp làm cùng
tử lang thang. Nếu tủi nhục cho đời cùng tử thì chúng ta
phải mau quay về. Hiện nay chúng ta cũng giống như chàng cùng
tử đang làm chuyện hốt phân sống qua ngày vậy.
“Mở
mắt chớ ham mộng phù thế.” Mộng phù thế là gì? Con phù
du ở trên mặt nước, sớm mai có mặt, chiều tối chết,
cuộc đời tạm bợ giống như đời con phù du. Cuộc sống
của chúng ta là giấc mộng trong cõi tạm. Thế thì có gì
đáng ưa thích. Nhưng chúng ta đang mê, mở mắt thì ham mộng
phù thế nên Ngài nhắc chúng ta đừng say mê cái tạm bợ,
cái mộng ảo trên thế gian này. Chỉ hai câu này đủ nhắc
nhở chúng ta tu, “quay đầu nhận về gia hương mình, mở
mắt chớ ham mộng phù thế”. Tới lui, xuống bếp, ra vườn
cứ ngâm hai câu đó chớ đừng ca những câu khác.
“Đệ
tử chúng con kính tưởng giờ này, lấy làm khóa lễ đầu
hôm.”
SÁM
HỐI TỘI CĂN LƯỠI
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay;
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
NGHIỆP
CĂN LƯỠI LÀ:
Tham
đủ mọi mùi, thích xét ngon dở;
Nếm
hết các thứ, biết rõ béo gầy.
“Tham
đủ mọi mùi, thích xét ngon dở.” Lưỡi chúng ta thích đủ
mùi. Vị bùi béo thì ưa, chát đắng thì không thích, để
vào lưỡi thì khen món này ngon chê món kia dở. Nhiều khi trên
mặt xã giao có những trường hợp nếu không làm giống người
thì thấy quê, mà làm theo người thì thấy xấu hổ. Thí dụ
như có nhiều người Phật tử nấu thức ăn ngon cúng dường
quí thầy, họ hỏi: Thầy dùng món này được không? Theo thế
tình muốn vui lòng người làm bếp thì phải nói: À ngon quá!
Như vậy mình đã theo vị rồi. Còn nếu chỉ làm thinh hoặc
gật đầu một chút thì thấy thiếu lịch sự. Thế nên việc
xã giao làm con người xa lần với đạo lý, nghĩa là muốn
được lòng người cúng dường thì phải khen, mà khen thì
phải nghĩ tới ngon dở, nhưng chúng ta thấy lỗi của lưỡi
là “tham đủ mọi mùi, thích xét ngon dở”.
“Nếm
hết các thứ, biết rõ béo gầy”: Thức gì cũng ưa nếm,
cũng ăn qua cho biết, nên nhiều người vì nghe quán này nấu
khéo, quán kia nấu ngon liền rủ nay đi ăn quán này, mai đi
ăn quán kia để cho biết hết các thứ và “biết rõ béo
gầy”. Thức ăn có mỡ thì biết đó là con vật béo mập,
còn thức ăn không mỡ thì biết đó là gầy nên những bệnh
của lưỡi kể ra cũng nhiều.
“Sát
hại sanh vật, nuôi dưỡng thân mình.” Một con vật chết
là nuôi cho mình được một bữa ăn. Đó là nói những con
vật khá lớn, còn những con vật nhỏ thì một bữa ăn sát
hại không biết bao nhiêu con.
“Quay
rán cá chim, nấu hầm cầm thú.” Cá hay chim thì đem quay,
đem rán, cầm thú thì đem nấu hầm. Tất cả những thứ đó
là cái ngon miệng, cái sở thích của người đời.
“Thịt
tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông.” Có thứ thịt nào chưa
xào nấu mà không tanh đâu. Nhưng xào nấu rồi thì ăn béo
miệng. Lại muốn cho nó được thơm thì thêm hành tỏi. Tanh
thì ngon miệng, thơm thì xông trong ruột, khi vô thì thơm đến
khi ra thì hôi chịu không nổi.
“Ăn
rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.” Món gì ngon thì để dành
lại, nếu trưa chiều mà không dọn lên thì hỏi: Món hồi
sáng đâu rồi? Đó là diễn tả sở thích ăn thịt cá hoặc
các loài vật, chim chóc v.v... Đến hoàn cảnh bắt buộc phải
đi chùa ăn chay thì:
Hoặc
đến đàn chay, cầu thần lễ Phật;
Cố
cam bụng đói, đợi lúc việc xong.
Phải
đi chùa để cầu cúng theo lệnh của cha mẹ, ông bà thì ráng
tới, tới thì cam bụng đói để đợi xong việc đặng về
nhà ăn cho ngon chớ ở chùa ăn không được.
Sáng
sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều;
Giống
hệt người đau gắng nuốt thuốc cháo.
Ăn
chay thì gượng ăn thôi, nuốt cơm không trôi, chỉ húp một
chút canh cho đỡ dạ, nên cơm ít nước nhiều. Ăn chay giống
như là uống thuốc không có gì ngon, vì vậy mà ăn lếu láo
để về nhà ăn lại.
Mắt
đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan,
Rượu
chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.
Bữa
nào thấy những thức ăn có thịt cá tươi ngon đầy bàn thì
cười nói hân hoan, cho nên đến bàn ăn mà vui vẻ là nhờ
những thức ăn vừa ý đầy bàn. Nếu đến bàn ăn thấy toàn
là những thứ không thích hẳn là không vui chút nào. Trong
các bữa tiệc luôn luôn là mời ăn mời uống, đem món nóng
lên, đổi món nguội xuống v.v...
Bày
tiệc đãi khách, cưới gả cho con,
Giết
hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.
Nghĩa
là giết lợn bò, gà vịt để làm tiệc, đều gốc từ cái
lưỡi ba tấc này (nói theo tấc ta ngày xưa). Đó là diễn
tả lỗi thích ăn ngon, không ưa dở của lưỡi.
Tiếp
đến là lỗi hay nói của lưỡi:
Nói
dối bày điều, thêu dệt bịa thêm,
Hai
lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.
Hoặc
nói dối bày điều tức là nói không có lẽ thật, hoặc chuyện
như thế này mà thêu dệt tô điểm thành thế khác, hoặc
nói hai lưỡi, tới người này thì chê gièm người kia, tới
người kia thì chê gièm người này làm cho người hờn giận
nhau, hoặc nói những lời dữ, lời hung ác. Từ lưỡi sanh
ra bốn tội nói dối, nói thêu dệt, nói hai lưỡi, nói ác
khẩu.
Chửi
mắng Tam Bảo, nguyền rủa mẹ cha;
Khinh
khi Hiền Thánh, lừa dối mọi người.
Đây
là chỉ những đứa con bất tiếu không kể gì cha mẹ, không
kể gì Phật pháp nên có những lời nói dữ, khinh chê Hiền
Thánh, lừa dối mọi người.
Chê
bai người khác, che giấu lỗi mình;
Bàn
luận cổ kim, khen chê này nọ.
Bệnh
của chúng ta là bệnh chê người khen mình, hoặc giấu lỗi
mình, bươi móc lỗi mình. Dù ai hay mấy mà người ta khen trước
mặt mình, mình cũng khó chịu, nên có lần tôi nói một câu
mà tôi còn nhớ: Nghe người khen bạn mình trước mặt mình
mà không đổi sắc mặt, đó là người can đảm. Thí dụ
hai người bạn cùng làm một việc mà người xa lạ lại khen
bạn mình nức nở, mà không nói đến mình, mình phải can
đảm lắm mới giữ được sắc mặt bình tĩnh. Trái lại
nếu họ khen mình, chê bạn mình thì chắc mình dễ chịu hơn!
Giấu cái dở của mình và bươi móc lỗi người thì người
tức bươi lại lỗi mình rốt cuộc cả hai đều xấu. Con
người mê muội dễ có hai bệnh này.
Khoe
khoang giàu có, lăng nhục người nghèo;
Xua
đuổi Tăng Ni, chửi mắng tôi tớ.
Nếu
mình khá giả thì tới đâu cũng khoe, thấy ai nghèo hèn hơn
thì khinh chê, lăng nhục họ. Đối với Tăng Ni thấy chỉ
có ăn hại, không có lợi gì, nên tới nhà là đuổi đi. Tôi
tớ làm gì không vừa ý thì chửi mắng.
Lời
gièm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn;
Tô
vẽ điều sai, nói không thành có.
Lời
gièm pha là một thứ thuốc độc. Còn lời nói khéo nói xảo,
vuốt ve nghe như đàn êm tai. Những điều đúng phải mà tô
vẽ thành trái quấy, việc không mà nói thành có, đó là lối
nói tạo cho người hiểu lầm lẽ thật.
“Oán
hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông.” Trời nóng quá cũng tức,
lạnh quá cũng không ưa, không biết chuyện thời tiết nóng
lạnh là lẽ thường. Phỉ nhổ non sông là có khi mình cũng
bực bội tức tối cả núi sông.
“Tán
dóc Tăng phòng, ba hoa Phật điện.” Lẽ ra tối đến về
liêu phòng im lặng ngủ, nhưng hai ba người dụm lại tán dóc
đủ chuyện. Điện Phật là chỗ cung kính trang nghiêm, mà
lên đó còn ba hoa nói chuyện ồn náo.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên;
Ví
như cát bụi, đếm không thể cùng.
Tội
của lưỡi quá nhiều! Từ ăn uống đến nói năng, lưỡi
tạo đủ các tội nhiều như cát bụi đếm không thể hết.
Thế nên mỗi ngày đêm chúng ta phải ráng tu hành cho bớt
tội lỗi của nghiệp lưỡi.
Sau
khi mạng chung, vào ngục bạt thiệt;
Cày
sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.
Sau
khi chết rơi xuống địa ngục tên bạt thiệt, nơi đó lưỡi
bị kéo dài ra, rồi bị cày bằng sắt cháy đỏ cày lên trên,
lại bị nước đồng sôi rót vào trong miệng. Ăn uống như
vậy để bù lại vị ngon và lời nói sai quấy ở thế gian.
Quả
báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh;
Dù
được làm người, lại bị câm bặt.
Quả
báo ở địa ngục hết rồi, phải trải qua bao nhiêu kiếp
mới được sanh trở lại làm người. Dù được làm người,
do dư báo vẫn bị bệnh câm ngọng. Vì lỗi của lưỡi mà
phải chịu khổ trong địa ngục, đến khi trở lại làm người
vẫn còn bị khổ ở thế gian.
Nếu
không sám hối, khó được tiêu trừ;
Nay
trước Phật đài, thảy đều sám hối.
Hôm
nay thành tâm sám hối những lỗi lầm do lưỡi tạo ra cho
được sạch hết, và phải luôn nhớ không còn nói những
lời tổn phước, tổn đức, gây đau khổ cho nguời và vật.
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật,
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia.
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm
thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
Những
bài này đã giảng.
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện ăn no vị vô thượng,
Hai
nguyện nhả hết vị trần tanh,
Ba
nguyện biện tài trừ các hoặc,
Bốn
nguyện thích nói độ quần sanh.
Năm
nguyện đọc hết kho vô tận,
Sáu
nguyện sông pháp uống cạn khô,
Bảy
nguyện sớm nhận Đại Ngu thổ,
Tám
nguyện nhanh đồng Lâm Tế thanh.
Chín
nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ,
Mười
nguyện trong sạch như trời xanh,
Mười
một nguyện thế gian không câm ngọng,
Mười
hai nguyện địa ngục hết trâu cày.
“Một
nguyện ăn no vị vô thượng.” Vị vô thượng là pháp vị.
Nghe kinh học đạo đầy đủ gọi là ăn no vị vô thượng.
“Hai
nguyện nhả hết vị trần tanh”, nghĩa là phải nhả sạch
những vị hôi hám của trần tục. Đó là nói dối, nói hai
lưỡi, nói thêu dệt, nói hung ác, khinh chê cha mẹ, khinh chê
Tam Bảo, nói những lời lỗi lầm v.v..., tất cả những vị
trần tanh đó phải nhả ra hết.
“Ba
nguyện biện tài trừ các hoặc”, nguyện được biện tài
vô ngại để trừ các mê lầm cho chúng sanh.
“Bốn
nguyện thích nói độ quần sanh.” Nguyện thích nói pháp để
độ quần sanh, chớ không phải được biện tài vô ngại
rồi vào núi ở một mình, vì như vậy là tiêu nha bại chủng.
“Năm
nguyện đọc hết kho vô tận”, là nguyện đọc hết Tam tạng
giáo điển không thiếu sót.
“Sáu
nguyện sông pháp uống cạn khô”, giáo pháp Phật như con
sông lớn, nguyện uống cạn hết giáo pháp.
“Bảy
nguyện sớm nhận Đại Ngu thổ.” Thổ là thổ thiệt, tức
là le lưỡi. Đây là chỗ tôi nghi vì đọc trong sử không
thấy ngài Đại Ngu le lưỡi, mà chỉ có ngài Hoàng Bá le lưỡi
thôi, để sau sẽ khảo lại. Ngài Hoàng Bá le lưỡi lúc nào?
Khi Ngài định đến Giang Tây thì nghe tin Mã Tổ đã tịch,
Ngài mới tìm đến ngài Bá Trượng. Ngài hỏi: Khi ở chỗ
Mã Tổ Hòa thượng nhân cái gì mà thấy được đạo? Ngài
Bá Trượng thuật lại sau khi bị một tiếng hét đến ba ngày
tai còn điếc, từ đó đến nay Ngài không quên. Nghe nói như
thế ngài Hoàng Bá le lưỡi. Ngài Bá Trượng nói: Ông nhận
như vậy là nhận ở Mã Tổ hay nhận nơi ta? Ngài Hoàng Bá
thưa: Nếu con là đệ tử Mã Tổ thì sau này không có con cháu
nữa. Như vậy do Tổ Bá Trượng kể lại mà Ngài nhận hiểu
nên Ngài là đệ tử của Tổ Bá Trượng. Vậy cái le luỡi
là nói lên nhân nghe một câu mà nhận được chỗ đại cơ
đại dụng của người xưa.
“Tám
nguyện nhanh đồng Lâm Tế thanh”, ngài Lâm Tế hét một tiếng
mà ngộ được là căn cơ nhanh chóng, nên nguyện mình được
nhanh như tiếng hét của Lâm Tế, vừa hét là ngộ.
“Chín
nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ.” Trong kinh Di-đà kể đức
Phật le lưỡi phủ hết mặt. Tại sao? Theo tinh thần trong
kinh dạy: Người không nói dối thì được tướng lưỡi rộng
dài. Sở dĩ lưỡi đức Phật le ra phủ tới mí tóc tức là
phủ hết mặt vì ba đời Ngài chưa từng nói dối. Lưỡi
chúng ta ngắn quá chắc là ít có nói thật. Chín nguyện được
như Phật lưỡi rộng dài phủ trùm tới mí tóc.
“Mười
nguyện trong sạch như trời xanh”, nguyện tâm hồn mình trong
sạch như bầu trời trong xanh không gợn mây.
“Mười
một nguyện thế gian không câm ngọng.” Đây là lợi tha.
Biết tu về lưỡi rồi thì nguyện cho tất cả mọi người
thế gian cùng biết tu để hết nghiệp nói gian dối, đời
sau không mang bệnh câm ngọng.
“Mười
hai nguyện địa ngục hết trâu cày”, tức là nguyện không
còn ai nói dối nói ác độc để phải đọa vào địa ngục
bạt thiệt bị trâu cày trên lưỡi.
Điểm
đặc biệt của ngài Trần Thái Tông là nói về căn nào thì
có nguyện của căn ấy. Nói về tai có nguyện của tai, nói
về mũi có nguyện của mũi, nói về lưỡi thì cũng nguyện
cho mình và mọi người được lưỡi như thế nào, khỏi những
cái khổ về lưỡi v.v...
KỆ
VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
Ngày
sáng mất rồi đêm tối đến,
Đường
đêm mờ mịt lại mịt mờ.
Uổng
công đốt đuốc cho người khác,
Chẳng
chịu mồi đèn chính nhà mình.
Chầm
chậm vầng ô vừa khuất núi,
Từ
từ bóng thỏ biển đông lên.
Chết
sống xoay vần đều như thế,
Sao
chẳng qui y Phật Pháp Tăng.
Qua
bốn câu đầu bài kệ Ngài nhắc:
Hết
sáng đến tối, trên đường mờ mịt lại thêm trời tối
mịt mờ. Hai lớp mờ tối, lại lo đốt đuốc cho người
mà không chịu mồi đèn nhà mình cho sáng. Kinh Tam Bảo Giám
có câu nói tương tự: “Nhân nhân tự tảo môn tiền tuyết,
Bất vị tha nhân ốc thượng sương.” Mỗi người tự quét
tuyết trên cổng của mình, đừng nghĩ tới sương đóng trên
nhà người. Chúng ta có bệnh ngược lại, muốn quét sương
trên nhà người mà không chịu quét tuyết trên cổng nhà mình.
Thế nên ngài Trần Thái Tông bảo mỗi người hãy ráng đốt
đèn nhà mình cho sáng đừng lo đốt đuốc nhà người. Chúng
ta không thấy rõ được cái hay dở, tốt xấu của chính mình,
nhưng lại có thói quen nhìn người khác để phê bình. Tại
sao không chịu khó nhìn lại mình? Biết được cái hay dở
tốt xấu của mình có lợi là để chúng ta tu tập. Còn chuyện
của người dù thấy nhưng chưa chắc chúng ta làm được gì
cho họ. Vậy từ nay chúng ta chịu khó mồi đèn nhà mình,
đừng thắp đuốc nhà người nữa.
Chầm
chậm vầng ô vừa khuất núi,
Từ
từ bóng thỏ biển đông lên.
Chết
sống xoay vần đều như thế,
Sao
chẳng qui y Phật Pháp Tăng.
Mặt
trời từ từ khuất núi, bóng thỏ từ từ lên, tức là sáng
rồi chiều, chiều rồi tối. Như vậy ngày qua đêm lại, hết
tháng hết năm. Ngày tháng xoay vần đều đều thì sự vô
thường già chết đuổi gấp tới một bên, còn gì nữa mà
chần chờ, sao không hướng về Phật Pháp Tăng qui y để tu
hành? Đó là lời nhắc nhở của Ngài.