DÂNG
HƯƠNG BUỔI MẶT TRỜI LẶN
“Cúi
mong, chân trời ráng hiện, khói tụ non xa. Thân đến đàn
tràng thanh tịnh, đầu lễ Hiền Thánh từ bi. Mong thấu lòng
thành, kính đốt hương báu. Hương này danh cao ở Bồng đảo,
phẩm lạ ở Lục dương. Nào phải trầm thủy dâng từ Lâm
Ấp, chẳng như tô du cống hiến của Đại Tần. Mùi
hơn xạ hương ở Phong huyện, vị quá Ô Trành long não. Riêng
chiếm giá cao bậc nhất, mùi thơm vượt hẳn các hương. Hương
báu vừa bay, chiếu phạm huân thành đàn thế giới. Lò vàng
mới đốt, xoay vần kết tụ thận lầu đài. Tìm đến Càn
thành tan ảo hóa, ngửi mùi địa ngục hết chua cay. Nay mặt
trời lặn, thắp hương cúng dường.”
Thắp
hương cúng dường mà cũng rất nên thơ.
“Cúi
mong, chân trời ráng hiện”, khi mặt trời lặn, chân trời
hiện ráng vàng và khói tụ ở non xa.
“Thân
đến đàn tràng thanh tịnh, đầu lễ Hiền Thánh từ bi”,
đến trước Phật điện đảnh lễ Phật, Bồ-tát, mong các
ngài thấu tấm lòng thành, nên đốt hương báu này cúng dường.
“Hương
này danh cao ở Bồng đảo” tức là ở đảo Bồng lai, hương
này rất quí.
“Phẩm
lạ ở Lục dương.” Lục dương là biển xanh, chỉ một đảo
ở ngoài biển như đảo Bồng lai, có người nghi đảo này
ở biển Thái Bình Dương.
“Nào
phải trầm thủy dâng từ Lâm Ấp.” Lâm Ấp chỉ cho miền
Trung nước Việt Nam khoảng tỉnh Thừa Thiên, Quảng Ngãi trở
vào trong. Thời Hán xâm chiếm Nam Việt thì đây là vùng đất
gọi là huyện Tượng Lâm.
“Chẳng
như tô du cống hiến của Đại Tần”, tô du là một thứ
dầu thơm từ Đại Tần đem qua. Đại Tần là chỉ các nước
Ba Tư, Ai Cập, La Mã.
“Mùi
hơn xạ hương ở Phong huyện.” Xạ hương là mùi thơm của
con xạ, tức là một con thú rừng giống như con hươu nhỏ,
không có sừng, lông đen, dưới bụng có một bọng da lớn
bằng quả trứng gà, mùi rất thơm gọi là xạ hương. Phong
huyện là tên một huyện ở phía Tây Bắc huyện An Hương
tỉnh Hồ Nam, thuộc Trung Quốc.
“Vị
quá Ô Trành long não.” Ô Trành là nước Ô Trành, tên một
nước ở phía Bắc Ấn Độ.
“Riêng
chiếm giá cao bậc nhất, mùi thơm vượt hẳn các hương.”
Hương này là hạng nhất, hơn tất cả loại hương.
“Hương
báu vừa bay, chiếu phạm huân thành đàn thế giới.” Hương
báu này bay tới đâu, những nơi đó đều trải chiếu thanh
tịnh huân tập thành đàn tràng khắp cả thế giới.
“Lò
vàng mới đốt, xoay vần kết tụ thận lầu đài.” Thận
lầu đài là dịch chữ thận khí lâu, lâu là lầu, thận là
con sò, trong kinh thường hay dụ lầu sò. Khi khí trời tạnh
trong, ngoài hải đảo có những ảnh giả do ánh sáng soi mặt
biển rọi lên trên không thành muôn hình vạn trạng, ngày
xưa cho là con sò thần hóa ra nên gọi là thận lâu thị, còn
gọi là Càn-thát-bà thành, tức thành Càn-thát-bà, mắt nhìn
thấy mà không có thật, đó là ảo ảnh. Thế nên:
“Tìm
đến Càn thành tan ảo hóa”, Càn thành là thành Càn-thát-bà,
biến tan như ảo hóa.
“Ngửi
mùi địa ngục hết chua cay”, ai ngửi được mùi thơm của
hương báu này thì những khổ đau ở địa ngục đều dứt.
“Nay
mặt trời lặn, thắp hương cúng dường.”
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy, rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn,
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ
DÂNG HOA
Tâm
địa mở ra, hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa, vẫn kém thơm.
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
HIẾN
DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH
“Nguyện
mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường
tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh
văn và tất cả Thánh Hiền; vừa rời đài Quang minh, qua cõi
nước vô biên trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật
sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.
Cúng
dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng
Tam Bảo.”
Những
bài này đã giảng.
TÂU
BẠCH
(Niêm hương quì bạch)
“Kính
bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư. Vung kiếm
tuệ ở rừng tà, quạt gió từ vào nhà lửa.”
“Mười
phương Đại Giác” tức là chư Phật khắp mười phương.
“Ba đời Hùng Sư” là ba đời chư Phật. Nguyện Ngài “vung
kiếm tuệ ở rừng tà”, tất cả rừng tà Ngài dùng kiếm
bén chặt đứt hết. “Quạt gió từ vào nhà lửa”, Ngài
quạt gió từ bi làm mát nhà lửa tam giới.
“Trộm
nghe: Ráng đỏ phủ đầu non, mặt trời vừa gác núi. Đầu
thành giọng ốc thổi buồn thiu, chày nện ngoài rèm nghe ảm
đạm. Thuyền chài quay lại bến, cất tiếng hát chiều, chim
bay trở về rừng nhẹ nhàng vỗ cánh. Phờ phạc đàn cò đậu
bãi cát; tiêu sơ bờ liễu dế ngâm sầu. Đồng rộng lập
lòe vài đóm lửa, trời cao lơ lửng trăng lưỡi liềm. Cửa
phên hờ khép gà vào chuồng; đèn lửa chưa lên trâu lại
ngõ. Lữ khách thúc ngựa chạy như tên bắn; thuyền về chèo
gấp nhanh tợ thoi đưa. Thương thay kẻ mê lại vào đường
tối. Ngày sáng trưng còn chẳng biết lối đi, đêm càng tối
lối về nhà quên bẵng. Nhóm kia như người không đủ mắt,
cảnh này quyết hẳn kẻ quên đường.
Các
Phật tử! Phải nhớ vô thường nhanh chóng, chớ tham phù thế
xa hoa. Cần kíp kéo mũi xoay đầu, chớ để buông tâm phóng
chạy. Mỗi người soi sáng bên trong, không cho theo cảnh tìm
ngoài. Nếu là tri âm, hãy mau tiến bước.
Đệ
tử chúng con kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ mặt
trời lặn.”
Đoạn
này Ngài diễn tả cảnh mặt trời lặn. “Ráng đỏ phủ
đầu non, mặt trời vừa gác núi.” Khi mặt trời lặn nhìn
đầu non thấy ráng đỏ sáng rực.
“Đầu
thành giọng ốc thổi buồn thiu, chày nện ngoài rèm nghe ảm
đạm.” Ốc là tù và. Thuở xưa là tiếng ốc, nay là kèn,
đầu thành giọng ốc thổi buồn thiu. Tiếng chày giã gạo
hoặc nện vải ngoài rèm nghe ảm đạm.
“Thuyền
chài quay lại bến, cất tiếng hát chiều, chim bay trở về
rừng nhẹ nhàng vỗ cánh.” Chiều đến những ngư phủ quay
thuyền chèo vào bến, cất tiếng hát buổi chiều. Khi mặt
trời lặn, những đàn chim cùng nhau nhè nhẹ vỗ cánh bay về
rừng.
“Phờ
phạc đàn cò đậu bãi cát; tiêu sơ bờ liễu dế ngâm sầu.”
Những con cò đi kiếm ăn đến chiều mệt mỏi đậu trên
bãi cát; nơi bờ liễu cây cối lưa thưa xơ xác, bầy dế
đang ngâm sầu. Dế ngâm sầu hay người sầu? Nghe dế ngâm
chúng ta tưởng nó cũng sầu!
“Đồng
rộng lập lòe vài đóm lửa, trời cao lơ lửng trăng lưỡi
liềm.” Ngoài đồng mênh mông vài đóm lửa đom đóm lập
lòe, trên trời mặt trăng lưỡi liềm vừa hiện.
“Cửa
phên hờ khép gà vào chuồng, đèn lửa chưa lên trâu lại
ngõ.” Cửa trong nhà khép hờ chưa kín hẳn, gà túc túc gọi
nhau dẫn về chuồng. Trong nhà đèn chưa đốt mà ngoài cổng
trâu đã kéo nhau về. Đây là diễn tả cảnh vật chung quanh
vào buổi đầu hôm.
“Lữ
khách thúc ngựa chạy như tên bắn. Thuyền chèo về gấp nhanh
tợ thoi đưa.” Thấy trời sắp tối khách tha phương thúc
ngựa chạy nhanh như tên bắn. Người chèo thuyền vội vã
chèo để kịp về tới bến.
“Thương
thay kẻ mê lại vào đường tối. Ngày sáng trưng còn chẳng
biết lối đi. Đêm càng tối lối về nhà quên bẵng.” Thương
cho người mê gặp ban đêm nên vào đường tối. Ngày sáng
trưng còn mờ mịt không biết lối đi, huống nữa là đêm
tối làm sao biết được đường về nhà? Đó là Ngài muốn
nhắc cho chúng ta biết người thế gian lúc ban ngày còn không
biết đường lối tiến tu, huống nữa là đêm tối thì làm
sao nhớ?
“Nhóm
kia như người không đủ mắt. Cảnh này quyết hẳn kẻ quên
đường.” Người không đủ mắt là người mù. Nhóm không
biết đường giống như kẻ mù, dù ban ngày vẫn không thấy
lối đi. Người thế gian không biết tu, chỉ mê say theo ngoại
cảnh, đối với con đường Niết-bàn hẳn họ là kẻ quên
đường. Đây là Ngài muốn nhắc cho mọi người thức tỉnh
tu hành.
“Các
Phật tử! Phải nhớ vô thường nhanh chóng, chớ tham phù thế
xa hoa”, vô thường hay cái chết rất là mau gấp, phải nhớ
nó luôn chực sẵn bên mình, chỉ một phút sẩy tay sơ ý là
có thể mất mạng. Thế nên đừng tham cảnh xa hoa ở thế
gian tạm bợ này. Phù là tạm bợ như bong bóng nổi, không
có gì đáng ưa thích.
“Cần
kíp kéo mũi xoay đầu, chớ để buông tâm phóng chạy.” Cần
gấp kéo mũi con trâu của mình xoay trở lại chớ để nó
phóng chạy ra ngoài. “Kéo mũi” từ chuyên môn gọi là phản
quan tức là xoay chiếu lại nơi mình. Thế nên phải sám hối
sáu căn. Mắt tai mũi lưỡi thân ý của chúng ta đang phóng
ra ngoài, giống như con trâu đang chạy hung hăng ngoài đồng
ruộng. Nay muốn cho sáu căn quay trở lại soi sáng nơi mình,
giống như kéo mũi trâu trở về chuồng, vì trâu nào cũng
đang ngó cỏ ngoài đồng ruộng. Thế nên tu là phải kéo mũi
nó xoay trở lại đừng để nó tha hồ phóng chạy.
“Mỗi
người soi sáng bên trong, không cho theo cảnh tìm ngoài.” Mỗi
người chúng ta đều phải soi sáng lại bên trong, đừng tìm
theo cảnh bên ngoài. Nhưng hiện nay chúng ta đang làm gì? Trăm
người như một đều đang chạy theo cảnh bên ngoài. Ngài
Toàn Khoát có nói: “khước vật là thượng, trục vật là
hạ”, nghĩa là từ chối không theo cảnh là người bậc thượng,
theo cảnh là bậc hạ. Như vậy soi sáng bên trong là thượng,
theo cảnh tìm ngoài là hạ. Nếu tất cả ai cũng biết soi
sáng bên trong thì trên đường tu chúng ta không có chuyện
gì phải dao động, phải luận bàn. Tới lui qua lại đều
nhìn từng niệm, không cho theo cảnh mà phải soi sáng lại
nội tâm, đó là chúng ta tu thiền.
“Nếu
là tri âm hãy mau tiến bước.” Nếu là người tri âm thông
cảm được với Ngài thì hãy nhanh chân tiến bước, nghĩa
là phải mau soi sáng lại mình, đừng chạy theo cảnh bên ngoài.
Đây là lời nhắc nhở rất thiết yếu, khuyên chúng ta phải
ráng vận dụng sáu căn soi sáng nội tâm, mỗi người nên
tiến bước đừng chậm trễ, đừng chần chờ.
“Đệ
tử chúng con kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ mặt
trời lặn.”
SÁM
HỐI TỘI CĂN MŨI
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm, không theo chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
Chúng
ta từ thuở nào đến nay vì quên mất bản tâm, không theo
đường chánh nên phải rơi trong ba đường khổ địa ngục,
ngạ quỉ, súc sanh. Gốc từ sáu căn sai lầm phóng ra ngoài
đuổi theo sáu trần, nay muốn hết sai lầm phải quay sáu căn
trở lại soi sáng nội tâm, đó là trở về cố hương, nếu
phóng ra ngoài thì rơi trong lục đạo. Nhưng đa số chúng ta
sáu căn đều phóng ra nên mới tạo những tội lỗi, vì vậy
nếu không sám hối những lỗi trước thì những tội sau sẽ
khó tránh được.
NGHIỆP
CĂN MŨI LÀ:
Thường
tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào;
Chẳng
thích chân hương, năm phần thanh tịnh.
Có
mũi ai không thích mùi lạ? Mùi lạ này là mùi thơm chớ không
phải mùi hôi. Vật gì thơm như hoa thơm hơi nhẹ là kề mũi
sát hoa để ngửi, đó là bệnh của chúng ta.
“Chẳng
thích chân hương, năm phần thanh tịnh.” Chân hương là hương
chân thật. Đó là hương giới, hương định, hương tuệ,
hương giải thoát và giải thoát tri kiến. Trong kinh Pháp Cú
Phật dạy mùi hương của hoa, của trầm v.v... ở thế gian
chỉ thơm theo chiều gió, gió phía nào, mùi hương bay về hướng
đó. Còn mùi hương của giới đức thì tỏa khắp nơi. Thí
dụ có một người hiền lành đức hạnh ở Đà Lạt, dù
gió thổi về hướng Campuchia nhưng ở thành phố Hồ Chí Minh
hay ở ngoài Trung... người người đều nghe được tiếng
thơm. Như vậy mùi thơm của giới đức không phải ngửi bằng
mũi, mà nghe bằng tai. Giới đức hay định tuệ của người
hiền được mọi người hay biết và quí kính thì gọi là
ngửi được mùi thơm. Thế nên đạo đức không bị gió,
đất, nước, lửa làm mất mà luôn còn lâu dài. Đó là chân
hương năm phần thanh tịnh, không thơm ngào ngạt mà thơm trong
sự thanh tịnh. Hương thế gian ngạt ngào có vẻ hấp dẫn
hơn nên người đời ưa thích, vì thế Ngài nói “thường
tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào; chẳng thích chân hương,
năm phần thanh tịnh”. Hai câu này nói lên sự mê lầm của
con người, cứ chạy theo mùi thơm tạm bợ mà không biết
được điều quí báu thanh tịnh lâu bền. Chính vì lâu bền
nên gọi là chân hương.
Lan
xông xạ ướp, chỉ thích tìm tòi;
Giới
định hương huân, chưa từng để mũi.
Chỉ
thích tìm tòi mùi thơm của hoa lan, của xạ mà không huân
tập hương giới, hương định. Đối với giới định chưa
bao giờ để ý lưu tâm, nên nói chưa từng để mũi.
Trầm
đàn thiêu đốt, đặt trước Phật đài;
Nghển
cổ hít hơi, trộm hương phẩy khói.
Nếu
đốt hương trầm hoặc hương chiên-đàn cúng Phật, thì nghển
cổ hít khói xông lên khen là hương thơm quá. Hương cúng Phật,
đâu phải cho mình mà ngửi, như vậy là trộm hương.
Theo
dõi hương trần, Long thần chẳng nể;
Chỉ
thích mùi xằng, trọn không chán mỏi.
Những
mùi hương trần tục, dầu thơm thế mấy cũng là trần tục,
có rồi mất, mà chúng ta lại thích ngửi trộm không sợ Long
thần Hộ pháp quở. Chúng ta ưa thích, đuổi theo những mùi
thơm xằng đó, không bao giờ biết chán, biết mỏi.
Mặt
đào má hạnh, lôi kéo chẳng lìa;
Cây
giác hoa tâm, xây đi không đoái.
Thấy
những người mặt đào má hạnh thì mắt đuổi theo dính chặt
không rời. Cây giác hoa tâm là sự giác ngộ, là tâm thanh
tịnh của con người, chúng ta xây mặt làm ngơ không màng,
không để ý đến, lại đuổi theo những hình bóng tạm bợ
bên ngoài.
Hoặc
ra phố chợ, hoặc vào bếp sau;
Thấy
bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.
Người
đời đến chợ thấy thịt heo thịt bò để ngổn ngang trên
thớt biết là nhớp, là tanh nhưng vì thích ăn nên lựa miếng
này, miếng kia khen ngon chê dở. Những thứ nhơ như ruột,
gan v.v... người ta hay dùng nấu cháo, lại cắt cổ các con
vật, lấy máu làm thức ăn thành ra ăn thịt uống máu mà
nhiều người thích lắm, nên ngài Trần Thái Tông chê: “Thấy
bẩn thèm ăn, ưa nhơ kiếm nuốt.”
Chẳng
ngại tanh hôi, không kiêng hành tỏi;
Mê
mãi không thôi, như lợn nằm ổ.
Chữ
nằm ổ là tạm dịch chữ thỉ xí tức là hầm phân, như
con lợn đi tới hầm phân, nghe bẩn quá nên phải dịch nhẹ
đi.
Hoặc
chảy nước mũi, hoặc hỉ đàm vàng;
Bôi
cột quẹt thềm, làm nhơ đất sạch.
Chúng
ta nghĩ mũi là quí nhưng khi mũi chảy nước hoặc ra đàm mà
không có phương tiện để lau thì quẹt bừa vào cột làm
nhơ nhớp.
Hoặc
say nằm ngủ, điện Phật phòng Tăng;
Hai
mũi thở hơi, xông kinh nhơ tượng.
Ngủ
thì thở hơi hôi hám làm nhơ kinh, tượng.
Ngửi
sen thành trộm, nghe mùi thành dâm;
Không
biết không hay, đều do nghiệp mũi.
Ngửi
sen thành trộm là do sự tích trong Sa-di Luật giải: Thuở xưa
có một Tỳ-kheo đi dạo quanh bờ hồ sen, nghe mùi thơm hoa
sen liền hít ngửi. Ngay khi ấy có một vị thần hiện ra quở:
Tại sao ông trộm hương hoa sen của tôi? Vị Tỳ-kheo không
biết nói sao. Khi đó có người lội xuống hồ bẻ hoa nhổ
ngó làm cho sen ngã rạp, vị Tỳ-kheo hỏi: Tôi chỉ ngửi hương
sen mà ông nói tôi trộm hương, nay người kia nhổ ngó bẻ
hoa sao ông không quở họ? Vị thần bảo: Đó là kẻ thế
tục không biết tội lỗi, ví dụ như chiếc áo đen dù cho
có năm, mười vết mực lấm vào cũng không thấy, còn ông
tu hành giống như chiếc áo trắng, chỉ một vết mực nhỏ
cũng thấy rõ, nên tôi trách ông. Như vậy có những việc
người thế gian làm được nhưng người tu không được làm.
Người tu chỉ nhiễm mùi thơm là đã bị quở rồi trong khi
người đời nhổ ngó, bẻ hoa mà không bị trách, đó là vì
muốn cho người tu chúng ta hoàn toàn thanh tịnh. Thế nên người
tu phải ráng dè dặt đừng so bì với người thế gian.
Nghe
mùi thành dâm là do chuyện một Sa-di ở trong phòng, có vài
cô thiếu nữ đi qua trước phòng, ông ngửi mùi dầu thơm
nên sanh tâm dâm.
“Không
biết không hay, đều do nghiệp mũi.” Những điều đó chúng
ta không biết, không hiểu nhưng sự thật là do nghiệp của
mũi.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên;
Sau
khi mạng chung, đọa ba đường khổ.
Mũi
tạo vô lượng vô biên tội, khi chết rồi thì rơi trong ba
đường khổ.
Trải
nghìn muôn kiếp, mới được làm người;
Dù
được làm người, quả báo bệnh mũi.
Tuy
được làm người nhưng do dư báo nên mũi hay bệnh.
Nếu
không sám hối, khó được tiêu trừ;
Nay
trước Phật đài, thảy đều sám hối.
Đây
là sám hối về căn mũi. Sáu căn là nhân tạo nghiệp thọ
khổ, vì chúng hay phóng chạy ra ngoài đuổi theo sáu trần.
Nay biết tu thì chúng ta phải kềm chế sáu căn đừng cho chúng
chạy theo sáu trần nữa, đó là chúng ta biết sám hối, mới
được hết tội lỗi.
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia.
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm
thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
Những
bài này đã giảng.
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện ra hết tà khí loạn,
Hai
nguyện nhận vào tuệ hương huân,
Ba
nguyện đóng thành cửa vô lậu,
Bốn
nguyện ho tan trần hữu duyên.
Năm
nguyện lôi về đường Tam Bảo,
Sáu
nguyện ngáp nát xóm tứ sanh,
Bảy
nguyện thở trừ chướng phiền não,
Tám
nguyện ngửi được hoa giác tươi.
Chín
nguyện thường thông giống các pháp,
Mười
nguyện hằng lấp nhân ngũ tân,
Mười
một nguyện kéo về dạo biển tánh,
Mười
hai nguyện lôi ra khỏi bến mê.
Những
nguyện mạnh này nhắm vào căn mũi.
“Một
nguyện ra hết tà khí loạn”, tức là thở ra tưởng như
hơi loạn hơi tà đều ra ngoài.
“Hai
nguyện nhận vào tuệ hương huân”, nguyện khi hít vào thì
huân được hương trí tuệ.
“Ba
nguyện đóng thành cửa vô lậu”, tức là đóng cửa vô lậu,
không cho rơi trong tam giới nữa.
“Bốn
nguyện ho tan trần hữu duyên.” Chữ ho dùng cho hợp vận,
đúng nghĩa phải là chữ ách xì. Một cái nhảy mũi, tất
cả hữu duyên ở thế gian tan hết, vì khi hắt hơi thì hơi
ra nên tưởng như các hữu duyên thế gian tan hết không còn
dính với mình.
“Năm
nguyện lôi về đường Tam Bảo”, tức là lôi mọi thấy,
nghe, ngửi, nếm, trở về đường Tam Bảo.
“Sáu
nguyện ngáp nát xóm tứ sanh”, tứ sanh là bốn loài: thai
sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh, nghĩa là ngáp tan hết không
còn dính trong tứ sanh nữa, tức là không rơi vào loài người,
loài vật sanh bằng thai, không rơi vào loài sanh bằng trứng,
loài sanh chỗ ẩm ướt, loài do hóa sanh hiện ra.
“Bảy
nguyện thở trừ chướng phiền não”, nghĩa là khi thở tất
cả chướng phiền não đều trừ hết.
“Tám
nguyện ngửi được hoa giác tươi”, luôn luôn mũi ngửi được
hoa giác ngộ xinh tươi.
“Chín
nguyện thường thông giống các pháp”, nghĩa là nguyện mũi
ngửi biết tất cả pháp không lầm, biết nhân của nó rõ
ràng.
“Mười
nguyện hằng lấp nhân ngũ tân.” Ngũ tân là ngũ vị tân,
nghĩa là không ưa mùi ngũ vị tân.
“Mười
một nguyện kéo về dạo biển tánh”, tức là kéo về dạo
biển thể tánh hay biển giác.
“Mười
hai nguyện lôi ra khỏi bến mê”, nghĩa là nguyện không còn
kẹt trong bến mê nữa.
KỆ
VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
Cảnh
giục trời gác núi,
Tấc
bóng có tiếc chăng?
Chỉ
chạy theo ý ngựa,
Tâm
khỉ chịu dừng đâu?
Mặt
trời mọc rồi lặn,
Thân
nổi trở lại chìm.
Già
đến ngu cùng trí,
Chết
đi xưa và nay.
Chẳng
khỏi vô thường đến,
Hạn
lớn tránh được nào?
Mỗi
nên đi đường chánh,
Chớ
để vào nẻo tà.
Ngài
nhắc chúng ta:
Cảnh
giục trời gác núi,
Tấc
bóng có tiếc chăng?
Cảnh
thúc đẩy mặt trời gác núi tức đã lặn. Vậy chúng ta có
tiếc từng tấc bóng, hay có tiếc từng giờ, từng phút không?
Nhiều khi còn mong mau tối để xem ngày mai có đẹp hơn không.
Ai cũng tưởng tượng hão huyền là ngày mai thế nào cũng
đẹp hơn nên hôm nay chưa hết lại mong đến mai, tháng này
chưa hết lại mong tháng sau, năm này chưa hết lại mong năm
tới. Mong để làm gì? Để mà chết, nghĩa là mong hết ngày,
hết tháng, hết năm rồi chết!
Chúng
ta không tiếc từng ngày, từng phút, không nghĩ một ngày qua
đã làm được gì. Thiền sư Y Am mỗi chiều qua, ôn lại thấy
chưa được gì, Ngài nhìn mặt trời lặn mà sa nước mắt.
Chúng ta hiện nay như thế nào? Ngày giờ thật là quí báu
để nó qua mất rất đáng tiếc. Từ sớm đến chiều kiểm
lại xem chúng ta mê nhiều hay tỉnh nhiều? Nếu cảm thấy
mê thì tủi thân, buồn trách mình sao quá dở, chớ không phải
ngắm mặt trời lặn rồi vui chơi, không tiếc thời gian đã
trôi qua.
Chỉ
chạy theo ý ngựa,
Tâm
khỉ chịu dừng đâu?
Tâm
khỉ ý ngựa dịch chữ tâm viên ý mã. Ý giống như ngựa
chạy sải, tâm như vượn khỉ chuyền cây. Chúng ta chạy theo
tâm ý lăng xăng không biết dừng.
Mặt
trời mọc rồi lặn,
Thân
nổi trở lại chìm.
Buổi
sáng mặt trời mọc, chiều đến mặt trời lặn, mặt trời
có mọc thì có lặn, thân người cũng vậy, có sanh phải có
tử. Nó hiện có rồi sẽ mất đi. Tại sao chúng ta không biết
quí tiếc, để dùng nó vào chỗ lợi ích cho mình, cho chúng
sanh mà thả trôi thì giờ quí báu?
Già
đến ngu cùng trí,
Chết
đi xưa và nay.
Cái
già bình đẳng đến với tất cả mọi người, dù ngu hay
trí chớ không phải dành riêng cho ai. Cái chết cũng vậy.
Người xưa chết người nay cũng phải chết. Khi cái chết
đến dù già dù trẻ dù muốn dù không cũng phải chịu, ai
ai cũng phải đến chỗ đó. Thế nên ngày còn sống là ngày
quí báu để làm được chút gì cho đạo, cho mình chớ không
phải sống để chờ chết.
Chẳng
khỏi vô thường đến,
Hạn
lớn tránh được nào?
Không
ai tránh khỏi vô thường, không ai tránh được cái chết.
Hạn lớn là chỉ cho khi chết.
Mỗi
nên đi đường chánh,
Chớ
để vào nẻo tà.
Tức
là mỗi người phải ráng tu hành, đừng để bị lôi cuốn
vào đường tà quấy. Đây là lời khuyên về vô thường vào
buổi mặt trời lặn. Ngài cảm hứng nên khuyên thêm hai bài
kệ.
KỆ
KHUYÊN CHÚNG BUỔI HOÀNG HÔN
Cảnh
giục nương dâu tối,
Non
tây ô lặn rồi.
Ngày
giờ đâu dừng mãi,
Già
bệnh dễ kề người.
Chết
đến ai hay giữ,
Hạn
lại sao cấm ngăn.
Mọi
người nên để mắt,
Hôn
tán chớ vương tâm.
Cảnh
giục nương dâu tối,
Non
tây ô lặn rồi.
Cảnh
thúc đẩy, nhìn lại bờ dâu đã tối, vầng ô đã chìm xuống
núi phía tây.
Ngày
giờ đâu dừng mãi,
Già
bệnh dễ kề người.
Ngày
giờ không dừng lại một chỗ thì già, bệnh sớm muộn gì
cũng đến với chúng ta, không ai tránh được.
Chết
đến ai hay giữ,
Hạn
lại sao cấm ngăn.
Không
ai giữ được cái chết chẳng đến với mình; hạn là chết,
cũng là nạn. Khi những chuyện không tốt xảy đến, không
ai ngăn cản được. Thế nên:
Mọi
người nên để mắt,
Hôn
tán chớ vương tâm.
Hôn
tán là hôn trầm và tán loạn. Chúng ta nên nhớ cảnh vô thường
dồn dập đến không tha mình, vậy khi tu phải làm sao đuổi
được con ma hôn trầm và chận được con quỉ tán loạn,
không cho chúng quấy nhiễu, thì đường tu mới xứng đáng.
Vậy chúng ta tu là phải thắng ma quân đó. Nếu người nào
ngồi thiền bị hôn trầm mãi sanh chán, nghĩ thà ngủ một
giấc còn hơn liền xả thiền nằm xuống ngủ, đó là rất
dở. Tại sao? Ngồi gục còn tha thứ được vì thua mà vẫn
cố gắng tranh đấu, nếu chuồi xuống ngủ là kéo cờ đầu
hàng, nên không tha thứ được. Hiểu như vậy nên ai duỗi
ra nằm ngủ là tôi không chấp nhận. Có nhiều giám thiền
cũng từ bi, thấy gục tội quá liền bảo thôi nằm xuống
ngủ đi. Như vậy là nguy hiểm, vì như thế cả thiền đường
sẽ ngủ hết. Chúng ta phải nghịch hạnh từ bi, bằng cách
đánh một trượng cho họ giựt mình, đuổi được con ma hôn
trầm, đó là cứu họ. Nhìn người đi giám thiền cầm cây
trượng, thấy hơi bất nhẫn, nhưng thật ra cây trượng là
đuổi ma chớ không phải đánh người. Đừng quan niệm người
giám thiền tàn nhẫn rồi nổi sân, đó là chưa biết tu. Đánh
là đuổi ma hôn trầm chạy, lẽ ra mình phải chấp tay cám
ơn vì lúc đó mình say rồi, không tự chủ nên phải nhờ
đánh mạnh mình mới tỉnh, ma hôn trầm mới chạy xa, đánh
nhẹ quá, người giám thiền đi qua khỏi nó trở lại nữa.
Hiểu như thế mới biết ý nghĩa của việc giám thiền.
KỆ
TÁM KHỔ
Sanh
đến thành người thân khổ nhọc,
Già
sang lụ khụ ý mê mờ,
Bệnh
xâm thân thể đau khôn nhẫn,
Chết
đọa ba đường nghiệp dễ thôi.
Ân
ái xa lìa buồn khó tả,
Oán
thù gặp lại giận không cùng.
Ngàn
cầu chẳng được thêm phiền não,
Năm
ấm tranh nhau đấu sức hùng.
Chỉ
có tám câu, Ngài diễn tả được tám khổ (bát khổ): sanh,
lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc
và ngũ ấm xí thạnh khổ.
“Sanh
đến thành người thân khổ nhọc”, từ khi sanh đến lúc
thành người thân phải trải qua nhiều khổ nhọc. Đọc sử
đức Phật chúng ta thấy Thái tử Tất-đạt-đa theo vua cha
ra đồng dự lễ hạ điền, tức là lễ cho dân bắt đầu
cày ruộng. Khi vua cha xem người cày, Thái tử đến ngồi bên
gốc cây, Ngài nhìn thấy trên luống cày những con trùng bị
đứt trồi lên giẫy giụa, các con cưỡng, con sáo liền sà
xuống mổ nuốt. Thấy cảnh đó Ngài nói: Chúng sanh sanh trong
đau khổ. Nghe như thế, chúng ta không quan tâm, nhưng nay xét
kỹ lại, sanh quả là khổ, không ai chối cãi được. Tại
sao? Nếu để ý chúng ta sẽ thấy những con chim sâu nhảy
chuyền trên các cành cây để tìm mồi, khi thấy con sâu, nó
dùng mỏ nhọn gắp nhanh, quật qua quật lại con sâu run bây
bẩy rồi chim nuốt. Một ngày sống nó phải nuốt bao nhiêu
sâu, mà mỗi con sâu bị nuốt đau khổ vô cùng. Đến con người,
ngày xưa tôm cá nhiều, mỗi bữa ăn đem vài con cá ra đập
đầu, chúng giẫy giụa run run. Như thế cuộc sống của chúng
ta do những con vật nhỏ yếu cung cấp. Một ngày chúng ta sống
là một ngày khổ của chúng sanh. Lại như muốn được sung
túc, kẻ khôn hiếp kẻ dại, người mạnh hiếp người yếu.
Tất cả cuộc sống đều là tranh giành lấn áp làm khổ cho
nhau chớ đâu có an vui. Sống trong đau khổ mà chúng ta không
thấy, có khi thấy cũng làm ngơ. Như những người cắt cổ
gà vịt, khi bị giết, chúng kêu la giẫy giụa, người giết
tỏ ra từ bi, tụng chú vãng sanh cho đời sau chúng đừng làm
gà vịt nữa. Đó thật là đạo đức giả. Giả sử có ai
cầm gươm kề cổ chúng ta nói: anh sống khổ quá để tôi
đâm anh chết, rồi tụng chú vãng sanh cầu cho anh hết khổ,
chúng ta bằng lòng không? Hay vừa lạy vừa van xin cho tôi sống,
đừng cầu vãng sanh làm chi! Nếu thật tình thương, chúng
ta không nỡ làm khổ chúng sanh để ngon miệng mình. Thế nên
cuộc sống là đau khổ, có mấy người đem lại an lạc cho
nhau.
“Già
sang lụ khụ ý mê mờ”, già đến thì lưng còng chân yếu
thân thể mỏi mệt, ý cũng mù mịt mờ tối.
“Bệnh
xâm thân thể đau khôn nhẫn”, khi cơn bệnh xâm nhập, thân
đau đớn nhẫn chịu không nổi.
“Chết
đọa ba đường nghiệp dễ thôi”, chết đọa trong địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh là chuyện dễ. Tại sao? Phật dạy
nếu chúng ta giữ tròn năm giới (không giết hại, không trộm
cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu), bảo
đảm người đó được trở lại làm người. Nếu trong năm
giới mà phạm một, hai điều thì không bảo đảm. Kiểm lại
ở thế gian, bao nhiêu người giữ đủ năm giới? Vậy trở
lại làm người là việc khó, rơi trong ba đường ác là việc
dễ. Vì thế người ta thường nói lên núi khó xuống núi
dễ. Chúng ta ráng giữ đủ tư cách một con người tốt thì
khó, buông lung tạo nghiệp xấu ác thì rất dễ.
“Ân
ái xa lìa buồn khó tả”, người thương mến mà phải xa
lìa thì buồn khôn kể xiết, nhưng đâu có ai tránh khỏi điều
đó. Một là vì đi nơi này, nơi khác làm ăn nên phải xa nhau.
Hai là vì kẻ còn người mất. Sống xa lìa gọi là sanh ly,
chết xa lìa gọi là tử biệt, cả hai trường hợp đều buồn
khổ. Khổ vì chết phải lìa nhau, theo thời gian cũng khuây
khỏa, khổ vì sống mà lâu lâu mới biết tin tức nhau thì
khổ này dài hơn.
“Oán
thù gặp lại giận không cùng”, người mình oán ghét mà
cứ ở trước mắt làm sao chịu nổi! Ở thế gian chưa bao
giờ chúng ta thương tất cả mọi người. Trong trăm người,
thân lắm chỉ độ vài ba mươi, ghét chắc cũng vài ba mươi.
Như vậy người ghét cũng tương đương với người thương.
Xa lìa người thương đã khổ, gặp mãi người ghét cũng khổ,
vậy lúc nào hết khổ? Chỉ khi hết thương hết ghét. Thế
nên Phật dạy tu là dứt tâm thương ghét. Làm sao ai cũng là
người mình quí kính, không ghét thù ai cũng không trói buộc
với ai, thế mới là hết khổ.
“Ngàn
cầu chẳng được thêm phiền não.” Đây là cầu bất đắc
khổ. Vì sao lại nói ngàn cầu? Vì sự mong cầu của chúng
ta quá nhiều. Tỉ dụ chưa có tiền, muốn có tiền, có tiền
rồi muốn có xe, có nhà v.v... sự ham muốn không cùng. Mong
cầu cả ngàn thứ mà chỉ được hai, ba thì chưa vừa ý nên
lúc nào cũng phiền não.
“Năm
ấm tranh nhau đấu sức hùng.” Năm ấm là sắc, thọ, tưởng,
hành, thức. Sắc ấm là chỉ cho thân, bốn ấm sau là chỉ
cho tâm. Nay chúng ta nhìn từng ấm một thử xem chúng tranh
nhau như thế nào? Thứ nhất là sắc ấm. Sắc ấm là do sự
tụ họp của đất, nước, gió, lửa. Bốn thứ họp lại
có hòa thuận nhau không? Lửa đương cháy phừng lấy nước
dội liền tắt, nước để trong nồi đốt lửa một lúc bốc
hơi khô hết. Như vậy lửa nước chống đối nhau. Nhưng trong
người chúng ta thiếu thứ nào cũng không được. Nếu thiếu
nước thì thân khô khan, thiếu lửa thì thân bị lạnh. Lửa
nước thù địch nhau, nay điều hòa chúng là việc không phải
dễ. Khi nghe nóng phải tìm thức ăn cho mát, khi lạnh lại
tìm thức uống cho ấm, cứ như thế mà phải tìm kiếm thức
ăn thức uống để bồi bổ cho quân bình thì thân mới an
ổn. Đến đất với gió, khi gió thổi mạnh bụi đất bay
tung mù mịt. Trong thân chúng ta cũng vậy, lâu lâu có một
trận gió xuông vào cả mình đau nhức. Vậy gió thổi thì
đất rung rinh không nghi ngờ. Như thế tứ đại lúc nào cũng
tranh hùng, chúng ta phải ráng điều hòa chúng, thì thân mới
được bình an.
Đến
phần thọ, tưởng, hành, thức lại càng lăng xăng hơn nữa.
Thọ là những cảm giác, tưởng là những tưởng tượng,
hành là suy tư, thức là phân biệt. Cảm giác thích được
vừa ý, tưởng tượng thức này ngon món kia dở... suy tư phân
biệt lăng xăng trong nội tâm, bốn thứ đó lúc nào cũng dao
động bất an.
Tóm
lại sắc uẩn là tứ đại, chúng tranh giành nhau không dừng,
tâm là thọ tưởng hành thức cũng lăng xăng dao động. Thân
và tâm đều giả hợp mà chúng ta lại bảo vệ nó. Đó là
giả hợp có lúc phải tan, đủ duyên thì còn, thiếu duyên
thì mất, không bền chắc lâu dài. Thế nên ai nghĩ gìn giữ
thân này còn mãi là si mê. Biết như vậy phải lợi dụng
nó để tinh tấn tu hành, đó mới là người sáng suốt khôn
ngoan.