DÂNG
HƯƠNG BUỔI TRƯA
“Cúi
mong, ánh dương rực rỡ, bầu trời chói chang. Nhìn lại ngày
cứ trôi qua, đến Phật khấn cầu. Lòng tin tỏ bày dưới
tòa báu, thắp nén hương trầm cắm lò châu. Hương này hun
đúc bởi tiên thiên, chẳng phải Bồng Đảo châu sản xuất;
ngát thơm quả đất, nào do chiên-đàn sanh ra. Danh phẩm hơn
cả trầm tiên, mùi vị vượt xa lan xạ. Chỗ tỏa khói lành,
bởi lửa tam-muội đốt; mây hương bủa khắp, vốn từ khí
nhất nguyên tan. Mỗi mỗi trên đảnh đều thấu triệt, người
người trong mũi thảy ngửi mùi.
Đây
do Nghi sám hối, làm lễ dâng hương. Nay giờ ngọ thắp hương
cúng dường.”
“Ánh
dương rực rỡ bầu trời chói chang.” Dâng hương vào buổi
trưa đúng ngọ, ánh nắng chói chang cả bầu trời.
“Nhìn
lại ngày cứ trôi qua, đến Phật khấn cầu.” Nhìn lại
những ngày đã qua, ngày qua không dừng một chỗ. Ngày qua,
tháng qua, năm qua, tuổi chúng ta theo thời gian không dừng lại.
Cái chết gần kề nên đến Phật khấn cầu.
“Lòng
tin tỏ bày dưới tòa báu.” Đem lòng tin sám hối tỏ bày
dưới tòa báu, tức là tòa đức Phật ngồi.
“Thắp
nén hương trầm cắm lò châu”, đem nén hương trầm cắm
trong lư hương châu ngọc, vì trên là tòa báu, dưới là lò
châu để đối nhau.
“Hun
đúc bởi tiên thiên, chẳng phải Bồng Đảo châu sản xuất.”
Hương cúng dường Phật hun đúc bởi tiên thiên. Tiên thiên
đối với hậu thiên, tiên thiên là trước, hậu thiên là
sau. Tức là mùi hương này hun đúc sẵn từ thuở nào, không
phải do nơi đảo Bồng lai của các vị tiên sản xuất. Tục
truyền chỗ tiên ở gọi là Bồng đảo hay Bồng lai tiên cảnh.
Theo truyền thuyết, những đảo thần tiên phần nhiều ở
trên biển Bột Hải.
“Ngát
thơm quả đất, nào do chiên-đàn sanh ra”, mùi thơm ngát của
hương tỏa khắp quả đất, không phải do cây chiên-đàn tạo.
Hương cúng dường Phật, là hương từ tâm chúng ta, do giới,
định, tuệ phát sanh, không phải hương từ đảo tiên đem
lại, cũng không phải từ cây chiên-đàn ra.
“Danh
phẩm hơn cả trầm tiên, mùi vị vượt xa lan xạ”, giá trị
của hương này hơn cả hương trầm tiên ở nước ta có tiếng
là rất thơm.
“Mùi
vị vượt xa lan xạ”, nó vượt hơn mùi thơm của hoa lan,
hay xạ của loài chồn.
“Chỗ
tỏa khói lành, bởi lửa tam-muội đốt”, hương giới, định,
tuệ phát ra khói thơm tỏa khắp là do ngọn lửa tam-muội
đốt. Tam-muội là chữ Phạn, Trung Hoa dịch là chánh định.
“Mây
hương bủa khắp, vốn từ khí nhất nguyên tan”, nghĩa là
mùi hương này bủa khắp cả trời đất, nhưng không phải
từ đâu đến mà chính từ tâm thể nhất chân bủa ra, phủ
khắp.
“Mỗi
mỗi trên đảnh đều thấu triệt.” Ngài nói tất cả chúng
ta trên đảnh đầu đều thấu triệt mùi hương đó, tức
là phải nhìn tường tận, tột cùng thể nhất nguyên hay khí
nhất nguyên đó. “Người người trong mũi thảy ngửi mùi”,
ai ai ở trong mũi đều ngửi được mùi hương, đó là hương
giới, định, tuệ từ thể nhất tâm ra. Ngài mượn hình tướng
thắp hương cúng dường Tam Bảo để nói lên tâm chúng ta
là gốc phát ra giới, định, tuệ; giới định tuệ tức là
mùi hương bủa khắp tất cả, không do các thứ cây cối hoặc
loài vật sanh ra.
“Đây
do Nghi sám hối, làm lễ dâng hương”, là do nghi lễ sám hối
nên làm lễ dâng hương. “Nay giờ ngọ thắp hương cúng dường.”
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ
DÂNG HOA
Tâm
địa mở ra, hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa, vẫn kém thơm,
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
HIẾN
DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH
“Nguyện
mây hương hoa này, qua đầy mười phương cõi, cúng dường
tất cả Phật, tôn Pháp, chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh
văn và tất cả Thánh Hiền; từ đài Quang minh dậy, qua vô
biên thế giới, trong vô biên cõi Phật, thọ dụng làm Phật
sự; khắp huân các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.
Cúng
dường rồi, chí tâm qui mạng lễ, mười phương Vô thượng
Tam Bảo.”
Các
bài này đã giảng trong bài trước.
TÂU
BẠCH
(Lại
niêm hương quì bạch)
Quì
niệm hương
“Kính
bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, chuyển sáu
đạo thành sáu thần thông, nhiếp chín loài về chín phẩm.”
Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư đã giảng trong bài
trước.
“Chuyển
sáu đạo thành sáu thần thông.” Sáu đạo là lục đạo
luân hồi. Chuyển lục đạo luân hồi thành lục thần thông.
Trong nhà Thiền, sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khéo
tu cũng chuyển thành sáu thần thông: Thiên nhãn thông, thiên
nhĩ thông v.v... Như vậy nguyện Phật thương giúp chúng ta
chuyển sáu đường luân hồi sanh tử thành sáu thần thông.
“Nhiếp
chín loài về chín phẩm.” Chín loài là thai sanh, noãn sanh,
thấp sanh, hóa sanh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng,
phi hữu tưởng phi vô tưởng. Hiểu theo tinh thần đạo Phật,
chúng sanh trên thế gian này không phải chỉ có một loài thai
sanh như con người hay các loài thú, mà còn có noãn sanh là
sanh bằng trứng, thấp sanh là sanh chỗ ẩm ướt, hóa sanh
tức không phải do ái dục mà là theo nghiệp hóa sanh, các
loài chúng sanh có hình sắc, loài chúng sanh không hình sắc,
loài chúng sanh có tâm tưởng, loài chúng sanh không tâm tưởng,
rồi cuối cùng có loài chúng sanh không phải có tưởng không
phải không tưởng, tức là loài chúng sanh này có tưởng rất
là vi tế. Hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi
hữu tưởng phi vô tưởng, năm loài này do tu thiền mà được.
Trong kinh Phật thường dạy những chúng sanh nào được định
sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền thì sanh cõi trời
sắc giới, do đó trong cõi trời sắc giới có sơ thiền thiên,
nhị thiền thiên, tam thiền thiên, tứ thiền thiên, tu được
tứ thiền trong nhà Phật gọi là phàm phu thiền, vì thiền
đó còn luân hồi sanh tử. Những người tu quán về không
tưởng, không vô biên xứ, thức vô biên xứ thì sanh cõi trời
vô sắc. Những chúng sanh tu thiền mà còn tư tưởng thì sanh
cõi trời hữu tưởng. Cõi trời đó không có hình tướng,
chỉ còn tư tưởng. Còn những chúng sanh nào không còn tư
tưởng thì gọi là sanh cõi vô tưởng rồi tới phi hữu tưởng
phi vô tưởng là cao nhất. Qua khỏi chín loài này mới tới
Diệt thọ tưởng định, chứng A-la-hán, đó là siêu xuất
sanh tử.
Như
vậy trên thế gian, theo con mắt nhà Phật, không phải chúng
sanh nào cũng có thân nặng nề mấy mươi ký như chúng ta,
chúng sanh ở cõi vô sắc làm sao có tướng, hữu tưởng vô
tưởng cũng không có tướng, phi hữu tưởng phi vô tưởng
cũng vậy. Thế nên những hành tinh không thích hợp với con
người, biết đâu lại thích hợp với những loài khác, chớ
không phải chúng sanh nào cũng giống hệt chúng ta, nên không
thể lấy con người làm tiêu chuẩn nghiên cứu. Nếu hiểu
theo nhà Phật thì chắc rằng trên thế giới có nhiều cõi
có những chúng sanh khác như vô sắc thì mắt chúng ta đâu
có thấy, hay là hữu tưởng, chỉ có tâm tưởng, chúng ta
cũng không thấy... Nếu chúng ta muốn tìm biết hết trong vũ
trụ này không biết chừng nào mới xong, chỉ mắt Phật mới
thấy tường tận.
Chín
phẩm tức chín phẩm Liên Hoa (cửu phẩm Liên Hoa) là nói theo
tinh thần Tịnh độ. Sanh về Cực lạc có Thượng phẩm, Trung
phẩm, Hạ phẩm. Mỗi phẩm chia làm ba. Thượng phẩm có Thượng
phẩm thượng sanh, Thượng phẩm trung sanh, Thượng phẩm hạ
sanh. Trung phẩm có Trung phẩm thượng sanh, Trung phẩm trung
sanh, Trung phẩm hạ sanh. Hạ phẩm cũng vậy, có thượng, trung,
hạ sanh. Chung tất cả là chín phẩm.
“Trộm
nghe: Gà xóm gáy trưa, mặt trời đứng bóng. Vòm trời cao
ánh dương vừa đến giữa, khắp nơi dương liễu bóng đứng
ngay.” Ngài diễn tả rất cụ thể, “gà xóm gáy trưa”
là mười hai giờ trưa nghe gà gáy. “Mặt trời đứng bóng,
vòm trời cao ánh dương vừa đến giữa, khắp nơi dương liễu
bóng đứng ngay”, dương liễu rọi bóng thẳng xuống không
có nghiêng lệch.
“Nắng
rọi sân hoa vờn ngọc, gió đưa rặng liễu lay vàng.” Cảnh
rất nên thơ, nắng rọi xuống sân hoa rung rinh như vờn ngọc;
gió đưa rặng liễu lung lay trong ánh nắng như lay vàng.
“Long
lanh rực rỡ chiếu dao đài, lấp lánh chập chờn soi thềm
ngọc.” Dao đài là chỗ ở của thần tiên, nghĩa là ánh
nắng long lanh rực rỡ soi chiếu như chỗ ở của thần tiên,
chập chờn lấp lánh rọi trên thềm giống như thềm ngọc.
“Lò
nghê hương quyện, trời xanh vầng nhật chói chang.” Có hai
loại nghê: một loại là loài thú giống như sư tử, một
loại là cá kình (có bộ ngư ở bên). Thường các lư hương
hay chạm hình sư tử hoặc hình cá kình. Lò nghê hương quyện
tức là lò hương chạm hình sư tử quyện khói. Trong bầu
trời xanh mặt trời soi sáng, ánh nắng chói chang.
“Gối
tiên giấc nồng, trên gác tía ngày dài đêm ngắn”: Những
vị thảnh thơi trưa nằm trên gác tía kê đầu trên gối ngủ
một giấc say, đêm ngủ chưa đủ nên trưa ngủ tiếp. Đó
là chỉ người thích ngủ trưa nhiều.
“Hè
cao độ thì chảy vàng nứt đá. Đông cực hàn thì sương
phủ tuyết rơi”: Đây là tả cảnh ở ngoài Bắc với Trung
Hoa hay các nước khác. Còn ở miền Nam hè cao độ chưa đến
chảy vàng, nứt đá, đông chỉ có sương chớ không có tuyết.
Đây là Ngài tả sức nóng và lạnh của mùa hè và mùa đông.
“Nắng
trưa bụi mù trong sạch, bóng xế mây tối quét tan”, trưa
nắng nên tất cả những mây mù đều không còn, bóng hơi
xế thì mây tối đều tan hết.
“Đối
cảnh tánh thiên rỗng suốt, đương thời tâm địa sáng ngời.”
Đối với sáu trần hay ngoại cảnh, tánh thiên là tánh sẵn
có của chúng ta rỗng suốt, chính ngay lúc đó, tâm địa mình
được sáng ngời. Người tu khi đối cảnh phải có tánh sáng
suốt, không bị ngoại cảnh ngăn trở, nghĩa là không dính
mắc ngoại cảnh. Chúng ta hiện nay đối cảnh thì phàm tình
dính mắc, đương thời thì vọng tưởng lăng xăng. Chúng ta
phải tu như thế nào để được đối cảnh tánh thiên rỗng
suốt, đương thời tâm địa sáng ngời.
“Nơi
nơi thảy có quang minh, bước bước trọn không hắc ám”,
nơi nào cũng thấy rõ ràng sáng suốt, mỗi bước đều không
mờ mịt tối tăm, thế mới thật là người ngộ đạo.
Tóm
lại người thâm nhập được lý đạo thì đối cảnh tâm
tánh rỗng suốt không bị dính kẹt, ngay khi đó tâm địa
sáng ngời không bị phủ che, nơi nơi đều sáng rỡ, bước
bước không mịt mờ. Trái lại chúng sanh đối cảnh tâm luôn
dính mắc, đương thời niệm khởi lăng xăng, nơi nơi đều
mù tối, bước bước thảy rộn ràng. Mê và giác khác nhau
như vậy. Nay thử nghiệm xem những người giác chút ít có
được như thế này chưa? Nếu chưa được là điều đáng
hổ thẹn, phải nên cố gắng. Chúng ta thường nói hành thiền,
nghĩa là đi thiền, mỗi bước phải ở trong tỉnh giác. Nếu
đi trong mê lầm đó là hắc ám chẳng phải hành thiền. Thế
nên người tu phải luôn nhớ đi trong sáng suốt.
“Chư
Phật tử! Mặt trời đúng ngọ rồi phải xế, con người
có thạnh ắt có suy”, đó là Ngài cảnh giác chúng ta, nhìn
mặt trời thấy đúng ngọ, một lát sau đã xế. Như vậy
mặt trời lên cao rồi xuống thấp, có giữa trưa phải có
xế chiều. Sự sống của chúng ta cũng vậy, thạnh rồi phải
suy. Như hiện giờ quí vị hai mươi, ba mươi tuổi, là lúc
cơ thể thạnh nhưng rồi sẽ bốn mươi, năm mươi, không dừng
một chỗ mà luôn thay đổi. Biết rõ mặt trời có trưa có
xế, thân người có thạnh có suy thì khi thạnh phải nghĩ
đến lúc suy. Vậy chúng ta phải làm gì? Lo tranh cãi hơn thua
hay là cố gắng tu hành không để thì giờ uổng phí?
“Thân
thể chẳng bền lâu, giàu sang khó giữ mãi.” Thân chúng ta
không bền lâu, rồi cũng sẽ mất; sự giàu sang ở thế gian
cũng khó giữ mãi, duyên tốt thì giàu, duyên suy thì nghèo
khó.
“Nhanh
chóng như nước chảy trên sông, lẹ làng tợ mây qua đỉnh
núi”, sự đổi thay nhanh chóng như dòng nước chảy trên
sông, lẹ làng như mây qua đỉnh núi. Chúng ta thấy mọi sự
vật chuyển biến không dừng, thân chúng ta cũng vậy, chuyển
từ trẻ lần đến già không dừng lại một phút giây nào,
vậy chúng ta phải khéo lo liệu. Ngài khuyên:
“Bình
sanh chẳng tạo nhân lành, ngày khác ắt về đường khổ.”
Khi còn sống chúng ta bon chen giành giật không chịu tạo nhân
lành nên đến lúc nhắm mắt, bảo đảm sẽ đi trong đường
khổ không nghi.
“Quyết
khởi tin sâu, trừ sạch nghi ngờ”, vậy chúng ta phải quyết
tâm khởi lòng tin sâu về lý vô thường của Phật dạy, trừ
sạch hết nghi ngờ để cố gắng tu hành đến nơi đến chốn.
“Sớm
nở tâm chân chư Phật, chiếu phá thùng sơn chúng sanh”, hai
câu này mang tính cách thiền. Sớm nở tâm chân tức là phải
khai thác cho tâm chân thật chư Phật nơi mình được nở ra,
đừng để bị tàn lụi. Chiếu phá thùng sơn chúng sanh, thùng
sơn là cái gì đen kịt và dẻo dai, chùi không ra, rửa không
sạch. Quí vị có mang thùng sơn đó không? Có nhiều người
than là cố gắng tu nhưng sao bỏ thói cũ không được, thói
cũ là sơn đã dính chùi không ra. Thế thì ai cũng mang một
thùng sơn đen kịt. Nay phải làm sao cho cái thùng thủng đi,
sơn chảy hết ra, nhà thiền gọi là đập bể thùng sơn. Muốn
cho thùng sơn bể chỉ có tâm chân thật chư Phật của mình
nở ra, thùng sơn mới bể. Trái lại nếu tâm chân thật nơi
mình không nở thì thùng sơn không thể nào lủng đáy được.
Do đó khi tu chúng ta phải cố gắng thâm nhập được tâm
chân thật của chính mình. Tâm ấy còn gọi là Tri kiến Phật,
nếu được phát triển thì thùng sơn phiền não tối tăm sẽ
tan nát.
“Đệ
tử chúng con kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ buổi
trưa.
Tâu
bạch rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương ba đời Vô
thượng Tam Bảo.”
Khải
bạch xong bắt đầu sám hối.
SÁM
HỐI TỘI CĂN TAI
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
Những
câu này đã giảng trong bài trước.
NGHIỆP
CĂN TAI LÀ:
Ghét
nghe chánh pháp, thích lắng lời tà;
Mê
mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng.
“Ghét
nghe chánh pháp”: ngồi nghe kinh một chút là muốn ngủ gục
và nói: Cứ đem mấy điều luân lý nói hoài chán quá! Trái
lại nếu ai ca hát hoặc nói đùa chơi v.v... thì chú tâm nghe
không biết chán, lại còn nhớ nữa. Đó là bệnh của tai.
Thế nên “mê mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng”. Vì
thích lời tà nên quên mất gốc chân. Mê đây là quên cái
chân thật của chính mình. Đuổi theo ngoại vọng là đuổi
theo những vọng tưởng điên đảo bên ngoài. Chỉ bốn câu
đã thấy bệnh chúng ta cũng trầm trọng.
Sáo
đàn inh ỏi, bảo khúc long ngâm;
Văng
vẳng mõ chuông, coi như ếch nhái.
Nghe
tiếng sáo tiếng đàn thì khen ngợi là hay như những khúc
long ngâm. Long ngâm là tên một khúc nhạc hay thời cổ Trung
Quốc. Theo Trịnh Thuật Tổ truyện trong bộ Bắc Tề Thư thì
Trịnh Thuật giỏi đàn, tự chế ra mười bài long ngâm nên
được xem là Tổ về long ngâm, vì thế người ta gọi là
Tổ Thuật. Nói đến long ngâm là nói đến những bản nhạc
hay. Còn nghe chuông nghe mõ thì cho là inh ỏi giống như nhái
ếch kêu chớ không quan tâm. Đó là hai hình ảnh mà tai chúng
ta hay lầm lẫn.
Câu
ví bài vè, bỗng nhiên để dạ;
Lời
kinh câu kệ, không chút lắng tai.
Bài
vè, câu ví là những bài có vẻ chế nhạo kẻ này người
kia. Câu ví bài vè nghe qua liền thuộc nhớ, còn lời kinh câu
kệ nghe thì buồn, bỏ đi không chút lắng tai.
Thoảng
nghe khen hão, khấp khởi mong cầu;
Biết
rõ lời lành đâu từng ưng nhận.
Khen
hão tức là khen để được lòng. Mình không tốt nhưng muốn
được lòng mình thì người khen đủ điều tốt. Thoảng nghe
khen hão liền thích, khấp khởi mong cầu, chờ xem còn khen
thêm gì nữa. Nếu bị chê thì không thích nghe. Đó là bệnh
của đa số chúng ta. “Biết rõ lời lành đâu từng ưng nhận”,
những lời lành người ta khuyên thí dụ chúng ta đang buồn
giận một người nào, huynh đệ tới khuyên thôi đừng buồn
giận e chướng đạo v.v... thì không ưng thuận. Chúng ta phải
kiểm lại bệnh của mình, nếu có, phải tha thiết sám hối.
Vài
ba bạn rượu, năm bảy khách chơi;
Tán
ngắn bàn dài, châu đầu nghe thích.
Những
người uống rượu nói việc say sưa hoặc những kẻ kể chuyện
ăn chơi, khen chê v.v... nghe những điều đó mình lại lắng
tai, chuyện không nên nghe mà tai cứ thích. Đó là rất dở.
Hoặc
gặp thầy bạn, dạy bảo đinh ninh;
Những
điều hiếu trung che tai bỏ mặc.
Thầy
bạn dạy nhắc hết lời khô cổ mà che tai không chú ý.
Hoặc
nghe tiếng xuyến, bỗng nẩy lòng dâm;
Nghe
nửa câu kinh, liền như tai ngựa.
Trong
Luật kể chuyện một Sa-di ở trong phòng, một cô thiếu nữ
đi bên ngoài, tiếng xuyến chạm khua, ông liền động tâm.
“Nghe
nửa câu kinh liền như tai ngựa”, nghĩa là nghe nửa câu kinh
rồi nghễnh tai không biết gì, không chú ý. Thường người
ta hay nói đàn khảy tai trâu hay nước xao đầu vịt là nghe
mà không dính dáng. Lẽ ra người tu nghe kinh thì phải lắng
tai chăm chú nhưng trái lại nửa câu kinh cũng không chịu nghe,
nếu có nghe thì không lọt vào tai, không dính vào tâm. Đó
là để chỉ bệnh xem thường đạo lý chỉ thích những điều
tầm thường ở thế gian.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên,
Đầy
ắp bụi trần, kể sao cho xiết.
Những
tội như vậy nhiều vô lượng vô biên, như bụi đầy cả
không gian không sao kể hết.
Sau
khi mạng chung, rơi ba đường ác,
Hết
nghiệp thọ sanh, lại làm người điếc.
Bởi
tai tạo tội như thế nên sau khi chết phải đọa ba đường
ác: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Khi nghiệp ác trong địa
ngục đã hết, còn dư báo nên sanh làm người điếc.
Nếu
không sám hối, khó được tiêu trừ,
Nay
trước Phật đài, thảy đều sám hối.
Đây
là ngài Trần Thái Tông nhắc lại cho chúng ta nhớ những bệnh
của mình để chừa sửa, nếu không thì do thói quen cứ chạy
theo điều dở, không biết quí những điều hay, nên phải
trầm luân nhiều đời nhiều kiếp. Nay thức tỉnh phải bỏ
những điều dở, lắng nghe những điều hay thì khả dĩ mới
tiến được.
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia (Bờ giác).
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm
thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
Những
bài này đã giảng trong bài trước.
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện nghe tiếng liền ngộ đạo,
Hai
nguyện nghe khổ sớm tu hành,
Ba
nguyện nghe suốt khắp bốn phương,
Bốn
nguyện nghe vui vô sanh tột.
Năm
nguyện lời tà tai chẳng dính,
Sáu
nguyện chánh ngữ chóng nghe rành,
Bảy
nguyện tiếng pháp thường gần gũi,
Tám
nguyện trống pháp cần lắng nghe.
Chín
nguyện Quán Âm cùng tay nắm,
Mười
nguyện Khánh Hỷ đồng nổi danh,
Mười
một nguyện nhóm điếc thường phá chướng,
Mười
hai nguyện hai tai hằng suốt thông.
“Một
nguyện nghe tiếng liền ngộ đạo”, nghĩa là nguyện nghe
một câu, một lời liền ngộ đạo.
“Hai
nguyện nghe khổ sớm tu hành” là nghe kể lại cảnh khổ
liền thức tỉnh, lo tu hành sớm.
“Ba
nguyện nghe suốt khắp bốn phương”, nghĩa là tiếng khắp
bốn phương hay mười phương, tai đều nghe suốt không trở
ngại.
“Bốn
nguyện nghe vui vô sanh tột.” Nghe những điều vui liền tột
cùng được lý vô sanh, không phải nghe vui rồi nhiễm theo
điều vui.
“Năm
nguyện lời tà tai chẳng dính”, tức là nghe lời nói sai,
lời vô nghĩa đều không dính mắc.
“Sáu
nguyện chánh ngữ chóng nghe rành.” Những lời chân chánh
nghe được rõ ràng không nghi ngờ, không khó hiểu.
“Bảy
nguyện tiếng pháp thường gần gũi”, nơi nào có giảng kinh
thuyết pháp mình thường gần gũi để được nghe.
“Tám
nguyện trống pháp cần lắng nghe”, thường lắng nghe trống
pháp cho được thâm nhập.
“Chín
nguyện Quán Âm cùng tay nắm”, nguyện nắm tay Bồ-tát Quán
Thế Âm tức là nguyện làm bạn đồng tu hành với Bồ-tát
Quán Thế Âm. Bồ-tát Quán Thế Âm tu pháp phản văn văn tự
tánh, nên nguyện mình cũng được như Ngài.
“Mười
nguyện Khánh Hỷ đồng nổi danh.” Khánh Hỷ là tên ngài
A-nan, khi Ngài sanh ra trong triều đình được tin Phật thành
đạo dưới cội bồ-đề, cả vua quan đều vui mừng nên đặt
tên Ngài là Khánh Hỷ. Ngài Khánh Hỷ nổi danh đa văn đệ
nhất. Như vậy trên nguyện học được hạnh phản văn tự
tánh của Bồ-tát Quán Thế Âm, dưới nguyện đồng với ngài
A-nan được nổi danh đa văn đệ nhất.
“Mười
một nguyện nhóm điếc thường phá chướng”, phá hết chướng
là hết ngăn che, nguyện cho tất cả người điếc đều nghe
được thông suốt.
“Mười
hai nguyện hai tai hằng suốt thông”, nguyện cho hai tai mình
được suốt thông luôn luôn không trở ngại.
KỆ
VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
Chớp
mắt vầng ô vừa mới mọc,
Quay
đầu bóng nhật giữa vòm trời.
Trọn
tham gỗ mục say mê ngủ,
Nào
tỉnh bóng hòe đã đổi dời.
Phút
chốc hoa tươi lần rơi rụng,
Dần
dà mạng nấm thạnh rồi suy.
Mọi
người sớm tỉnh xoay soi lại,
Tự
khổ ruổi rong khắp nẻo đường.
Đây
là lời nhắc nhở lý vô thường để chúng ta thức tỉnh.
Chớp
mắt vầng ô vừa mới mọc,
Quay
đầu bóng nhật giữa vòm trời.
Buổi
sáng mặt trời mới mọc, bận việc lăng xăng một chút nhìn
lên là đúng ngọ. Mặt trời đổi dời rất nhanh chóng, ngồi
gẫm lại thật tức cười cho con người. Trái đất quay đều
đều con người lại đặt từng chặng là một giờ, hai giờ
v.v... nhưng trái đất đâu có dừng lúc nào. Nó chỉ quay đều,
phía mặt trời thấy sáng, khuất mặt trời thấy tối, con
người lại đặt ra ngày đêm, tháng năm để tính toán; như
vậy tất cả chúng ta có mặt trên cõi đời này, dù nói năm,
bảy mươi năm thật ra có nghĩa lý gì đâu, trái đất cứ
quay đều, con người có mặt rồi mòn chết. Thế mà ngồi
thiền cứ tính giờ tính khắc! Nên nghiêm chỉnh ngồi đến
giờ kiểng đánh, đừng trông đợi làm chi, vì trông hay không
thời gian vẫn cứ trôi. Khi ngồi nói chuyện đùa chơi, bàn
lý này lẽ kia, không trông mà giờ qua mau quá, còn ngồi thiền
nghiêm chỉnh lại thấy lâu, nghe mỏi lưng, nhức tay chân mà
vẫn chưa hết giờ. Đó là do chúng ta đặt thời gian là quan
trọng. Nay đừng nghĩ tới thời gian, chỉ biết tâm yên là
vui, chớ muốn thời gian đi mau cũng không được.
Trọn
tham gỗ mục say mê ngủ,
Nào
tỉnh bóng hòe đã đổi dời.
Thân
này như khúc gỗ mục, mà cứ ráng lo bảo vệ nó. Ví như
chúng ta đi ngoài biển, thuyền bị đắm chợt gặp khúc gỗ
mục chúng ta đeo nó nên không bị chết chìm. Nhưng đeo khúc
gỗ mục rồi tự mãn, hay điều tốt thiết yếu là phải
ráng bơi vào bờ vì khúc gỗ mục rồi cũng nát, không thể
bảo vệ nó mãi. Nói không bảo vệ không có nghĩa là mình
bẻ nó nát ra từng mảnh, vì nếu nát mà chưa tới bờ thì
chết chìm. Vậy tuy biết thân này như khúc gỗ mục nhưng
chưa được giác ngộ, phải lợi dụng nó để làm phương
tiện tiến tu. Nếu chưa giác ngộ mà liều chết chẳng những
không đạt được kết quả tu hành mà cũng uổng đi một
kiếp!
Tóm
lại tuy thân này tạm bợ như khúc gỗ mục, nhưng chúng ta
đã có mặt nơi đây, phải lợi dụng nó để tiến đến
giác ngộ chớ không ôm khúc gỗ mục và bảo vệ nó, ở mãi
ngoài biển thì sẽ chết chìm. Cũng không phá đập nó cho
nát, vì đó cũng là chết chìm. Hai quan niệm này đều cực
đoan, trong nhà Phật gọi một bên là hành lạc, một bên là
khổ hạnh. Vậy chúng ta phải xử thế nào? Không bảo vệ
tối đa, cũng không hủy hoại, phải tạm nhờ nó đưa chúng
ta đến bờ. Khi chưa đến bờ, chỗ nào mục chúng ta kết
lại để còn chỗ tựa, đến bờ rồi nó là vô nghĩa. Đó
là quan niệm của người tu chân chánh. Thế nên ở đây chúng
ta tu không bắt buộc phải thức suốt ngày đêm vì như thế
khúc gỗ dễ bể dễ nát. Nhưng cũng không phải ăn nhiều
ngủ nhiều cho khỏe mạnh lâu dài, chỉ cần vừa đủ sống
và cố gắng tiến tu, thế mới đúng ý nghĩa nương khúc gỗ
mục này.
“Nào
tỉnh bóng hòe đã đổi dời.” Mải vùi đầu ngủ, bóng
hòe đã đổi dời tức đã xế rồi. Cho nên buổi trưa ngủ
một tiếng là đủ, đừng ngủ mãi tới chiều.
Phút
chốc hoa tươi lần rơi rụng,
Dần
dà mạng nấm thạnh rồi suy.
Cuộc
đời chúng ta như một đóa hoa buổi sáng nở, xế chiều héo
tàn. Đang tươi thắm đẹp đẽ, phút chốc từ từ rơi rụng.
Những tai nấm mọc, vươn lên khỏi đất thấy tròn trịa,
đến chiều tàn dần. Qua hai câu trên, Ngài ví thân chúng ta
như một đóa hoa, như một tai nấm, tươi tốt đó rồi tàn
úa đó. Biết thân tạm bợ không lâu bền, phải khéo lợi
dụng nó để tiến tu, đừng chần chờ.
Mọi
người sớm tỉnh xoay soi lại,
Tự
khổ ruổi rong khắp nẻo đường.
Xoay
là quay lại, soi là soi sáng. Chúng ta phải sớm thức tỉnh
đừng hướng ra ngoài, phải quay lại soi sáng chính mình, một
ngày nào chúng ta liền thấy được cái chân thật của mình.
Như vậy là Ngài khuyên chúng ta phải tỉnh tu. Tu không phải
chỉ trong giờ ngồi thiền mà cả khi đi đứng nằm ngồi,
đều phải biết mình từng phút từng giây.
“Tự
khổ ruổi rong khắp nẻo đường”, tức là chúng ta tự đày
ải mình, chạy nơi này nơi kia, đuổi theo tài sắc, danh lợi,
theo những ảo ảnh bên ngoài, không biết dừng lại để được
an lành. Thí dụ như được một chức phận gì, khi chết nó
có cứu được mình không? Hoặc đuổi theo tài sắc, muốn
được thỏa mãn, nên suốt đời chỉ là chuốc khổ thôi.
Để kết thúc Ngài khuyên chúng ta phải thức tỉnh quay về
soi lại mình, những kẻ chỉ biết rong ruổi ra ngoài, sẽ
chuốc khổ trong đời này kể cả đời sau. Lời khuyên này
rất quí báu, mỗi khi đọc lại, chúng ta thức tỉnh, nhớ
tu hành.