DÂNG
HƯƠNG BUỔI SÁNG
“Cúi
mong, phương tây mặt trăng vừa lặn, hướng đông vầng nhật
hiện dần. Chiếu phạn họp dòng thanh tịnh, cõi không lễ
bậc Thánh Hiền. Mong thấu lòng thành, kính dâng hương báu.
Hương
này trồng từ rừng giới, tưới bằng nước định, chặt
từ vườn tuệ, vót bằng đao giải thoát. Chẳng do sức người
rìu búa, hình thế xuất tự thiên nhiên. Đốt lên từ lò
báu tri kiến, kết đài mây sáng rỡ. Khi bay khắp chốn ngạt
ngào, tan ra đầy trời thơm phức. Vừa lúc rạng đông, thắp
hương cúng dường.”
“Cúi
mong, phương tây mặt trăng vừa lặn, hướng đông vầng nhật
hiện dần” tức là mặt trăng vừa lặn, hướng đông mặt
trời từ từ lên.
“Chiếu
phạn họp dòng thanh tịnh.” Phạn, chữ Hán là phạn nhưng
thường đọc là phạm. Phạm là thanh tịnh. Chư Thiên do tu
hạnh thanh tịnh được gọi là Phạm Thiên, nên phạm là chỉ
hạnh thanh tịnh. Chiếu phạn họp dòng thanh tịnh tức là
trên chùa, trước bàn Phật trải chiếu, những người tu trong
sạch họp lại, quì trên chiếu bắt đầu lễ Phật dâng hương.
“Cõi
không lễ bậc Thánh Hiền, mong thấu lòng thành, kính dâng
hương báu”: Trong cõi hư không, kính lễ tất cả bậc Thánh
Hiền ở mười phương, mong thấu suốt được lòng chân thành
của mình kính dâng hương quí báu này. Hương báu này là hương
gì?
“Hương
này trồng từ rừng giới, tưới bằng nước định, chặt
từ vườn tuệ, vót bằng đao giải thoát”: Hương cúng dường
Phật là giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát
hương. Vậy hương này không phải là hương thế tục mà là
hương do giới, định, tuệ, giải thoát tạo thành.
“Chẳng
do sức người rìu búa, hình thế xuất tự thiên nhiên, đốt
lên từ lò báu tri kiến”: Hương này không phải do rìu búa
chặt đem về xay ra rồi kết lại thành hương, hương này
là hương sẵn có tự thiên nhiên, thắp lên từ lò báu tri
kiến của chính mình.
“Kết
đài mây sáng rỡ, khi bay khắp chốn ngạt ngào, tan ra đầy
trời thơm phức”: Kết những đài mây sáng rỡ bủa khắp
các nơi, hương bay đến đâu, mùi thơm đều ngạt ngào, lúc
tan ra khắp cả trời đều thơm phức.
“Vừa
lúc rạng đông thắp hương cúng dường.” Chư Tăng Ni hay
Phật tử đốt hương cúng Phật không phải chỉ nặng về
hương thế gian, như hương trầm hay các mùi hương khác mà
đây là hương giới, định, tuệ, giải thoát, đó là hương
quí nhất, không gì sánh được. Hương thế gian thuận theo
gió, còn hương giới, định, tuệ, giải thoát, nơi nào cũng
đến được nên dâng hương quí báu này cúng Phật.
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
“Trầm
thủy rừng thiền hương sực nức” là hương trầm thủy
trồng trong rừng thiền, mùi thơm sực nức. Rừng thiền chỉ
cho định.
“Chiên-đàn
vườn tuệ đã vun trồng” là mùi thơm chiên-đàn trồng trong
vườn trí tuệ. Vườn tuệ là chỉ cho tuệ.
“Đao
giới vót thành hình non thẳm”: dùng giới làm đao vót hương
này thành giống như một hình núi cao.
“Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng”: hương này là hương định,
hương tuệ, hương giới từ tâm phát ra nên cúng dâng Phật
mãi mãi không cùng.
Trong
Khoa Nghi Sám Hối chúng ta dùng bài dâng hương này.
KỆ
DÂNG HOA
Đất
tâm mở ra, hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa vẫn kém thơm.
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
“Đất
tâm mở ra, hoa nở rộn” tức là đất tâm vừa mở thì thấy
hoa nở rộn rã bên ngoài, hoa rộn rã nở từ đất tâm của
mình so với trời mưa hoa thì hoa trời thơm không bằng nên
nói: “trời có mưa hoa vẫn kém thơm”. Hoa cúng Phật từ
nơi tâm quí hơn là hoa trời rải xuống, vì hoa trời vẫn
còn là hoa phàm tục nên thơm không bằng hoa từ đất tâm
của chúng ta.
“Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật”: từng cành hoa, từng đóa
hoa dâng cúng Phật.
“Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi”: hoa của đất tâm dầu
gió nghiệp muôn đời thổi cũng không lay động, không rơi
rụng, còn hoa thế gian chỉ vài hôm là rụng hết, đó là
điểm đặc biệt.
PHÁT
NGUYỆN
Nguyện
mây hương hoa này,
Khắp
cả mười phương cõi,
Cúng
dường tất cả Phật,
Tôn
Pháp, chư Bồ-tát,
Vô
lượng chúng Thanh văn
Và
tất cả Thánh Hiền.
Vừa
rời đài Quang minh,
Qua
cõi nước vô biên,
Trong
vô biên cõi Phật,
Nhận
dùng làm Phật sự.
Xông
khắp các chúng sanh,
Đều
phát tâm Bồ-đề.
Bài
phát nguyện này nguyện mây hương hoa của mình dâng cúng sẽ
bay khắp cả mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật,
tất cả Pháp, tất cả Bồ-tát, tất cả chúng Thanh văn và
những vị Thánh Hiền. Các ngài vừa rời đài Quang minh qua
vô biên cõi nước trong vô biên cõi Phật, nhận dùng hương
hoa này để làm Phật sự. Hương hoa này xông khắp các chúng
sanh đều phát tâm Bồ-đề. Như vậy hương hoa này nguyện
cúng dường tất cả chư Phật, chư Bồ-tát, cả pháp của
Phật cho đến hàng Thanh văn Hiền Thánh, nói gọn là cúng
dường tất cả Tam Bảo. Lại cũng cúng dường các vị Bồ-tát,
từ đài Quang minh của các ngài, hóa thân làm Phật sự khắp
vô biên cõi, các ngài nhận hương hoa này để làm Phật sự
lợi ích cho chúng sanh. Lại nguyện hương hoa này xông khắp
tất cả, chúng sanh nào nghe mùi hương hoa này đều phát tâm
Bồ-đề.
Tóm
lại chúng ta thấy bài nguyện chia làm ba phần: Phần thứ
nhất là nguyện cúng dường Tam Bảo.
Phần
thứ hai là nguyện cúng dường tất cả những vị đi làm
Phật sự.
Phần
thứ ba là nguyện hương hoa này xông ướp cho mọi người
đều phát tâm Bồ-đề.
TÂU
BẠCH
“Kính
bạch mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, soi đuốc
tuệ nơi đường tối, thả thuyền từ trong biển khổ.
Trộm
nghe canh gà vừa qua, bóng thỏ mới lặn. Khói mù nơi sông
núi chớm tan, xe ngựa xa gần đều chuyển động, tiếng mai
hoa trên lầu vừa tàn, chén trúc diệp trước song mới tỉnh.
Mày liễu thập thò bày nắng sớm, mặt hoa e thẹn đọng sương
mai. Gặp khi bừng sáng thương kẻ ngu mê. Trong đêm giấc mộng
đã lờ mờ, sáng đến tâm hồn còn rộn rịp. Mắt tai đuổi
theo thanh sắc, mũi lưỡi dính mắc vị hương. Nhà lửa hằng
cam thiêu đốt, sông ái mải chịu đắm chìm. Mặc dù sáng
nay ông thức giấc cũng như người đang ngủ đêm qua. Chẳng
lo sanh già bệnh chết đuổi gấp, chỉ chăm vợ con tiền của
buộc ràng.”
Ngài
tâu bạch: “Kính bạch mười phương Đại Giác...” Đại
Giác là chỉ đức Phật. Hùng Sư là thầy hùng, cũng là Phật.
Trước điện thờ Phật thường khắc chữ Đại Hùng bảo
điện, tức là điện thờ bậc Đại Hùng. Đức Phật đã
thắng bao nhiêu trận giặc mà gọi Ngài là Đại Hùng? Hùng
là anh hùng là người thắng giặc ngoài biên cương, còn Phật
ngồi im lìm dưới cội bồ-đề sao lại gọi là anh hùng?
Đó là một ý nghĩa chúng ta phải hiểu cho tường tận. Trong
kinh Pháp Cú đức Phật dạy: “Thắng một vạn quân không
bằng thắng chính mình, thắng mình mới là chiến công oanh
liệt.” Ngoài mặt trận người thắng một vạn quân đáng
gọi là anh hùng chưa? - Là anh hùng.
Song
đức Phật bảo: Không bằng thắng mình, thắng được mình
mới là chiến công oanh liệt nhất. Như vậy thắng người
ngoài chưa phải thật anh hùng. Người yếu, chúng ta mạnh
thì chúng ta thắng họ, nhưng thắng được chính mình mới
thật là anh hùng. Tại sao? Từ xưa biết bao vị anh hùng phải
chịu thua nữ sắc hay sự nóng giận của chính họ v.v... Ví
dụ như Lữ Bố, một võ tướng ở Trung Hoa, được xem là
anh hùng nhưng phải chịu thua sắc đẹp của Điêu Thuyền...
nghĩa là không tự thắng được trước sự cám dỗ của nữ
sắc. Chỉ có đức Phật, trước bao nhiêu cám dỗ nào tài
sắc, nào danh lợi v.v..., Ngài đều thắng hết, đó mới thật
là anh hùng. Thế nên đối với người tu, anh hùng là phải
thắng mình. Tự thắng mình thiên hạ có thấy không? Hẳn
là khó thấy nên không được người đời kể công, không
được ghi trong lịch sử, chỉ tự mình biết thôi. Thắng
mình, nghe dường như dễ nhưng thật không phải dễ. Vì những
ma quân ẩn núp khó thấy, gặp cơ hội liền hiện ra nên chiến
thắng rất khó. Bao nhiêu người tu hành đã nghĩ rằng: Từ
đây về sau giữ gìn đừng nóng giận, đừng tham lam v.v...
nhưng bất chợt có ai nói khích một câu, niệm giận ở đâu
đùng đùng kéo đến kềm chế không kịp, thế là thua. Làm
kẻ bại trận thì dễ, làm kẻ thắng trận thật gian nan!
Lại như bình thường chúng ta tự nhủ phải giữ không để
lòng tham dấy động, nhưng khi gặp sự quyến rũ của tài
sắc danh lợi, bất chợt lòng tham dấy khởi, thế nên thắng
được nó không phải là việc giản đơn.
Đối
với người tu được đến nơi đến chốn rồi, trong kinh
có câu: “xuất gia giả phi tướng tướng chi sở năng vi”,
nghĩa là người xuất gia không phải là tướng võ tướng
văn có thể làm được. Tại sao? Tướng võ đánh thắng trận
về thì được phong chức lại được người tán thưởng
v.v... còn thắng ma quân không ai tán thưởng, thắng trong im
lìm nên khó khuyến khích chúng ta mạnh mẽ được. Viên tướng
cố gắng thành công, khi về được thưởng, được lên chức,
như vậy sự cố gắng đó do động cơ tham danh lợi thúc đẩy
nên dễ làm. Lại nhiều người thắng người khác là do họ
tức giận, họ hận thù nên họ hành động mạnh mẽ. Đó
là tham, sân thúc đẩy họ. Người xuất gia thành công là
do động cơ thức tỉnh giác ngộ không phải do tham sân. Người
tu chỉ do trí tuệ mà thắng giặc ma quân nên việc làm hết
sức khó. Tuy quan văn quan võ làm được nhiều điều hay giúp
nước an dân, nhưng đối với người học đạo thì chưa bằng.
Vì người học đạo phải dùng hết khả năng, trí tuệ để
chiến thắng mình, chiến thắng trong âm thầm, chỉ khi thành
Phật mới được mọi người hoan hô, chớ còn là phàm Tăng
phàm Ni thì chưa được. Vì hôm nay thắng chưa chắc ngày mai
lại thắng, thắng trận nào mừng trận ấy chớ chưa phải
là toàn thắng, nên không ai hoan hô mà cũng không dám khoe,
vì e rằng hôm sau lại thua người ta sẽ cười cho. Như thế
Tăng, Ni là chiến sĩ trong âm thầm, không ai biết, nhưng nếu
làm được điều đó mới gọi là bậc Hùng Sư. Tóm lại
lời tâu bạch này mong đức Phật đem đuốc trí tuệ của
Ngài soi cho các chúng sanh đang trong đường tối tăm được
biết lối ra và cũng cầu xin Ngài thả chiếc thuyền từ bi
vào biển khổ cứu độ muôn loài.
“Trộm
nghe: Canh gà vừa qua, bóng thỏ mới lặn.” Canh gà tức là
canh tư. Canh tư vừa qua, mặt trăng mới lặn.
“Khói
mù nơi sông núi chớm tan, xe ngựa xa gần đều chuyển động”:
Khuya khoảng ba giờ sương mù lần lần tan, thức giấc thì
nghe xe ngựa ở các nơi bắt đầu chuyển động.
“Tiếng
mai hoa trên lầu vừa tàn, chén trúc diệp trước song mới
tỉnh”: Đây là dùng điển tích. Mai hoa nói đủ là mai hoa
thanh lấy từ chữ “Mai hoa dẫn” là tên một ca khúc cổ
điển do ống sáo biểu diễn trong khi vui mừng chúc tụng.
Ca khúc này nói đủ là “Giang thành mai hoa dẫn”.
Trúc
diệp là tên một thứ rượu khi nấu có thêm gia vị của
lá trúc nên gọi là “trúc diệp tửu”. Nói cho dễ hiểu
là tiếng sáo, tiếng nhạc trên lầu vừa tàn, chén rượu
trước song mới tỉnh, tức là tiệc tùng vui ca nhạc vừa
dứt.
“Mày
liễu thập thò bày nắng sớm” là chỉ những cây liễu ở
trước chùa thập thò bày nắng sớm.
“Mặt
hoa e thẹn đọng sương mai.” Ngài diễn tả rất nên thơ,
các đóa hoa trước sân chùa còn đọng lại những hạt sương
buổi sớm.
“Gặp
khi bừng sáng thương kẻ ngu mê”: Khi mình thức tỉnh mới
thương những người còn đang ngu mê.
“Trong
đêm giấc mộng đã lờ mờ, sáng đến tâm hồn còn rộn
rịp”: Trong đêm khuya ngủ mê nằm mộng, những cảnh mộng
lờ mờ không rõ, sáng dậy thì tâm hồn còn nhớ, còn hiện
ra những cảnh mộng đêm hôm nên tâm hồn còn rộn rịp. Đêm
đã mê mà sáng cũng còn đeo đẳng cái mê đó!
“Mắt
tai đuổi theo thanh sắc, mũi lưỡi dính mắc vị hương.”
Khi sáng ra, chúng ta mắt đuổi theo sắc, tai đuổi theo thanh,
mũi lưỡi dính mắc hương vị... Như sáng mắt nhìn trước
chùa thấy hoa nở thì khen hoa đẹp, thấy hoa tàn thì chê hoa
rụng; lại nghe người chung quanh nói chuyện thì đuổi theo
thanh; đến chuẩn bị làm bếp thì đuổi theo hương vị. Thế
là sáng ra các căn luôn dính mắc các trần.
“Nhà
lửa hằng cam thiêu đốt”: Chúng ta bị thiêu đốt trong nhà
lửa mà cam chịu chớ không chạy ra. Kinh Pháp Hoa nói: “tam
giới vô an du như hỏa trạch” là ba cõi không an như trong
nhà lửa, nhưng chúng ta không chịu chạy ra, bằng lòng vui
chơi trong nhà lửa, khi nào bị đốt cháy sẽ hay.
“Sông
ái mải chịu đắm chìm”: Thương con rồi đến thương cháu,
thương chắt... hết một đời chìm trong sông ái, không ra
khỏi.
“Mặc
dù sáng nay ông thức giấc, cũng như người đang ngủ đêm
qua”: Hiện giờ đã sáng rồi, thức dậy đi đây đi kia,
làm các việc nhưng vẫn trong mê, không thức tỉnh thì chẳng
khác người ngủ mê trong đêm hôm qua.
“Chẳng
lo sanh già bệnh chết đuổi gấp, chỉ chăm vợ con tiền của
buộc ràng.” Sanh già bệnh chết đuổi gấp tới mà cứ lo
làm sao có tiền của nhiều, vợ con no ấm không nghĩ gì đến
việc tu hành.
“Các
Phật tử, gốc thân chẳng bền, cành mạng khó yên. Mọi người
trên đầu đội trời, khó khỏi mắt sáng rơi đất. Một
sớm chợt sẩy tay, muôn kiếp thân khó được. Cần phải
mau mau gieo giống lành, chớ có khư khư cầu quả ác. Người
người sớm tỉnh, mỗi mỗi siêng tu. Chuyên tâm lễ Vô thượng
Từ Dung, chạm mắt thấy Đại quang minh tạng.”
“Các
Phật tử, gốc thân chẳng bền, cành mạng khó yên”: Thân
là gốc không bền, mạng sống như cành lá, không yên ổn,
bền lâu.
“Mọi
người trên đầu đội trời, khó khỏi mắt sáng rơi đất.”
Ai đi đứng đầu cũng đội trời. Mắt sáng rơi đất chữ
Hán gọi là nhãn quang lạc địa, chỉ cho cái chết. Toàn câu
có nghĩa là đầu đội trời rồi cũng phải chôn dưới đất,
không ai tránh khỏi.
“Một
sớm chợt sẩy tay, muôn kiếp thân người khó được.” Thí
dụ một người sáng trèo lên cây cao, lỡ trợt tay rớt xuống
thì xong một đời, một phen sẩy tay là đã mất thân mạng
rồi, không biết khi nào được thân người nữa.
“Cần
phải mau mau gieo giống lành, chớ có khư khư cầu quả ác”:
Chúng ta cần phải gấp tạo nhân lành, đừng ôm ấp giữ
chặt quả ác.
“Người
người sớm tỉnh, mỗi mỗi siêng tu.” Khuyên mỗi người
phải sớm tỉnh để siêng tu hành.
“Chuyên
tâm lễ Vô thượng Từ Dung”: Từ Dung là hình dáng hiền
lành của đức Từ PHụ. Từ bi của Phật không ai bì nổi,
không ai hơn được nên gọi là Vô thượng. Vô thượng Từ
Dung là chỉ đức Phật.
“Chạm
mắt thấy Đại quang minh tạng”: Lễ Phật rồi trước Phật
mình thấy được kho Đại quang minh tức là tâm thể sáng
suốt sẵn có của chính mình. Ngoài thì chúng ta lễ Phật,
nơi mình thì thấy được nguồn gốc sáng suốt muôn đời
của mình.
“Đệ
tử chúng con kính tưởng thời này lấy làm khóa lễ buổi
sáng.” Tâu bạch rồi bắt đầu sám hối.
Ngài
Trần Thái Tông chia sáu căn, mỗi căn sám hối một thời.
Thời sáng là sám hối về mắt.
SÁM
HỐI TỘI CĂN MẮT
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
“Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay.” Danh từ vô thủy trong nhà
Phật thường dùng, nghe rất khó hiểu. Vô là không, thủy
là trước. Kiếp không trước là kiếp nào? Vì trong nhà Phật
không chấp nhận có ban đầu, nhân duyên trùng trùng điệp
điệp kết hợp nhau không có mối đầu, nên nói là vô thủy.
Như vậy tất cả chúng ta từ vô thủy kiếp tức là không
biết bao lâu rồi đến ngày nay.
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo,
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm.
Bỏ
quên tâm chân thật của mình nên không biết đạo chân chánh.
Ai ai cũng có bản tâm chân thật nhưng quên đi không biết
nên mới chạy theo đường ác tạo nghiệp luân hồi. Tất
cả chúng ta hiện nay đang sống theo bản tâm hay là sống theo
vọng tâm? Chúng ta chỉ sống theo vọng tâm suy tưởng mà quên
mất bản tâm. Vọng tâm suy tưởng theo nghiệp hơn thua, được
mất, phải quấy v.v... do đó không đi được con đường chánh
mà rơi vào ba đường khổ địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.
Sở dĩ rơi ba đường khổ là do sáu căn lầm lẫn.
“Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau”: Nếu không sám hối
lỗi trước thì khó tránh khỏi hối hận về sau nên phải
thành tâm sám hối.
“Nghiệp
căn mắt là: Nhân ác xem kỹ, nghiệp thiện coi khinh”: Nhân
ác chúng ta xem kỹ mà nghiệp thiện lại coi khinh. Thí dụ
một người lân cận chúng ta có điều xấu, chúng ta nhớ
rất kỹ từng chi tiết, có khi còn tô đậm nét thêm, còn
điều tốt của họ chúng ta lảng qua không để ý, đó là
bệnh của con người đối với điều lành điều tốt thì
xem thường, dễ quên, còn đối với điều dữ điều xấu
lại chăm chú, nhớ dai. Bệnh đó gốc từ mắt.
“Lầm
nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật.” Hoa giả là tất cả
những gì có hình có sắc trên thế gian, đó đều là những
tướng vô thường tạm bợ, có rồi mất, không lâu bền,
nhưng chúng ta mê đắm trong giả tướng nên lầm nhận hoa
giả, chạy theo giả tướng nên quên ngắm trăng thật. Trăng
thật là chỉ cho thể chân thật sẵn có nơi con người cũng
như ở ngoại cảnh. Nếu thấy rõ muôn pháp đều là duyên
hợp, không có pháp nào thật thì chúng ta không đắm mê theo
cảnh tức là không nhận lầm hoa giả mà dễ thấy được
cái thật của chính mình hay cái thật của ngoại cảnh.
Yêu
ghét nổi dậy, đẹp xấu tranh giành,
Chợt
mắt dối sanh, mờ đường chánh kiến.
Thấy
đẹp thì yêu, thấy xấu thì ghét nên tranh cái đẹp, ghét
cái xấu, cứ như thế mà yêu ghét nổi dậy cả ngày. Trong
một thoáng, một chớp, mắt đã sanh ra những mê lầm, nên
cái thấy không còn đúng nữa. Khi đã kẹt trong đẹp xấu,
hẳn không còn thấy được cái chân thật.
“Trắng
qua xanh lại, tía phải vàng sai”: Người nói màu tía đẹp,
màu vàng xấu, người nói màu vàng đẹp, màu tía xấu rồi
sanh ra cãi nhau. Cứ đem màu này sánh với màu kia, thích màu
nào thì khen màu đó đẹp, nếu ai chê thì không bằng lòng.
“Nhìn
lệch các thứ nào khác kẻ mù”: Nhìn không đúng lẽ thật
nên giống như người mù. Quí vị thấy ngoài đường hay trong
chợ nhiều người cãi nhau thật đáng tức cười. Như vào
hàng vải, người nói màu vàng đẹp, người nói màu trắng
đẹp, người nói màu xanh đẹp v.v... mỗi người thấy mỗi
màu đẹp khác nhau nên không ai bằng lòng ai. Vậy màu nào
đẹp thật? Chẳng qua là mê chấp thôi. Vì nhìn lệch theo
thói quen, không thấy đúng lẽ thật, không thấy đúng chân
lý nên chẳng khác kẻ mù.
Gặp
người sắc đẹp liếc trộm nhìn ngang,
Lòa
mắt chưa sanh bản lai diện mục.
Thấy
ai đẹp liền nhìn lén, ngó trộm nên mắt lòa đi, quên mất
bản lai diện mục của mình.
Thấy
ai giàu có, giương mắt mải nhìn,
Gặp
kẻ bần cùng lờ đi chẳng đoái.
Thấy
ai ăn mặc sang trọng thì ngó chăm chỉ, còn ai ăn mặc rách
rưới lôi thôi liền ngó lơ, không để ý.
Người
dưng chết chóc, nước mắt ráo khô,
Thân
quyến qua đời, đầm đìa lệ máu.
Quí
vị thấy người dưng chết cũng là mất một mạng người,
thân thuộc chết cũng là mất một mạng người. Tại sao người
dưng chết lại tỉnh, lại dửng dưng, không một chút tỏ
ra buồn bã thảm sầu? Trái lại khi thân nhân chết thì đau
khổ, khóc rũ rượi? Cả hai đều là người mà một bên xem
trọng, một bên xem thường, như thế để thấy chúng ta bị
buộc ràng trong chỗ dòng họ thân quyến, mà không có tình
thương nhân loại.
Hoặc
đến Tam Bảo, hoặc vào chùa chiền,
Gần
tượng thấy kinh, mắt không thèm ngó.
Nhiều
người vào chùa thấy tượng thấy kinh không để ý đến.
Phòng
Tăng điện Phật, gặp gỡ gái trai,
Mắt
liếc mày đưa, đam mê sắc dục.
Nghĩa
là Phật, tượng, kinh đều không để ý, chỉ để ý đến
người thôi.
Không
ngại Hộ pháp, chẳng sợ Long thần,
Trố
mắt ham vui, đầu chưa từng cúi.
Đối
với Long thần Hộ pháp, không sợ các ngài quở, cứ mê vui
thôi.
Những
tội như thế vô lượng vô biên,
Đều
từ mắt sanh phải sa địa ngục.
Tội
do mắt nhiều vô lượng vô biên, kể không hết, do mắt mê
lầm nên sau khi chết phải rơi vào địa ngục.
Trải
hằng sa kiếp mới được làm người,
Dù
được làm người lại bị mù chột.
Trong
kinh Phật dạy: Ai tạo nghiệp ác phải đọa địa ngục, nhân
đó trả xong rồi còn dư báo, tức là quả báo thừa của
quá khứ, khi trở lại làm người như nhân mắt tạo nghiệp
thì mắt lại bị mù chột.
Nếu
không sám hối khó được tiêu trừ,
Nay
trước Phật đài thảy đều sám hối.
Mắt
gây tội rất nhiều nên phải thành tâm sám hối thật tha
thiết.
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật,
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia.
Bờ
kia là bờ giác. Phần khuyến thỉnh này là đem hết lòng thành
thỉnh Phật, thỉnh Bồ-tát, thỉnh các vị Tăng Thánh Hiền,
vì lòng thương xót tất cả chúng sanh mà độ họ được
lên bờ giác.
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm
thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
Chúng
ta được niềm vui là do thường gần gũi Tam Bảo, gần gũi
Phật, nên ngày đêm luôn thành kính sám hối. Sám hối để
cầu điều gì? Nguyện sớm bước lên những nấc thang của
hàng Thập địa. Thập địa là chỉ cho Thập địa Bồ-tát,
gồm có:
1.
Hoan hỉ địa
2.
Ly cấu địa
3.
Phát quang địa
4.
Diễm tuệ địa
5.
Cực nan thắng địa
6.
Hiện tiền địa
7.
Viễn hành địa
8.
Bất động địa
9.
Thiện tuệ địa
10.
Pháp vân địa
Nếu
tiến thêm hai bước nữa là Đẳng giác và Diệu giác. Diệu
giác là Phật. Như vậy qua Thập địa thì lên Đẳng giác
rồi đến Diệu giác là thành Phật nên “thềm thang Thập
địa nguyện sớm lên”.
“Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.” Chân tâm là tâm thể không bị sanh
diệt, tâm thể này sáng suốt, giác ngộ gọi là tâm Bồ-đề.
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm nương Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
“Chí
tâm hồi hướng” là lòng chân thành hồi hướng của mình.
“Chúng
con hồi tâm nương Thánh chúng” tức là xoay tâm mình về
nương với Thánh chúng.
“Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn” là chí thành cúi đầu đảnh
lễ đức Phật.
“Nguyện
đem công đức đến quần sanh”: Tất cả công đức tu hành
nguyện đem đến cho tất cả quần sanh.
“Nương
thắng nhân này thành Chánh giác”: Nương nhân thù thắng này,
tức là nhân sám hối mà sau này được thành Chánh giác, nghĩa
là thành Phật.
Trong
bài có những từ ngữ chữ Hán cần giải thích cho quí vị
hiểu. Trong bài Nhật sơ chúc hương, câu “Phục dĩ thiềm
luân tây một, Long chúc đông sanh” có dùng điển tích.
Thiềm
luân là vầng thiềm, chỉ cho mặt trăng. Thiềm nói đủ là
thiềm thừ là con cóc. Ngày xưa người ta nhìn trong mặt trăng
thấy có bóng đen giống con cóc. Truyền thuyết nói rằng:
Thuở xưa có chàng Hậu Nghệ xin được thuốc trường sanh
của bà Tây Vương Mẫu đem về, nhưng bị vợ là Hằng Nga
ăn cắp uống đi rồi trốn lên mặt trăng hóa thành con cóc
ở đó. Thế nên người ta nói Hằng Nga ở trên cung trăng
và gọi mặt trăng là thiềm luân.
Mặt
trăng cũng còn gọi là bạch thố hay ngọc thố. Bạch thố
là thỏ trắng, ngọc thố là thỏ ngọc. Thiên “Nghĩ thiên
vấn” của Phó Hàm có câu: Nguyệt trung hà hữu? Đáp: Bạch
thố đảo dược. Nghĩa là trong mặt trăng có gì? Đáp: Có
con thỏ trắng giã thuốc, hay cũng nói con thỏ ngọc giã thuốc.
Sự
tích này ngày nay đã lạc hậu, hẳn là ít ai dùng rồi.
Long
chúc: chúc là ngọn đuốc, long chúc là ngọn đuốc rồng,
chỉ mặt trời. Theo Sơn Hải Kinh nói: Phương bắc bầu trời
có một nước không có ánh sáng mặt trời, có con rồng ngậm
lửa phun như cây đuốc cháy sáng.
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện rộng mở sáng chánh kiến,
Hai
nguyện lau sạch bụi trần mù,
Ba
nguyện nhìn hình không đắm mến,
Bốn
nguyện thấy sắc chẳng bận lòng.
Năm
nguyện quên đầu cần kíp nhận,
Sáu
nguyện mắt tuệ tự tròn đầy,
Bảy
nguyện hiện nay sớm tỉnh mộng,
Tám
nguyện hằng được sáng xưa nay.
Chín
nguyện khi nhìn trừ che huyễn,
Mười
nguyện chỗ thấy dứt hoa sanh,
Mười
một nguyện trông xa mây chướng cuốn,
Mười
hai nguyện chớp mắt nghiệp băng trong.
Nguyện
thứ nhất là “rộng mở sáng chánh kiến” tức là nguyện
sao cho cái thấy của mình luôn luôn đúng không sai chân lý.
“Hai
nguyện lau sạch bụi trần mù”, nghĩa là tất cả những
bụi trần che mờ nay đều lau sạch.
“Ba
nguyện nhìn hình không đắm mến”: thấy tất cả hình sắc
mình không mê, không đắm.
“Bốn
nguyện thấy sắc chẳng bận lòng”: dầu thấy sắc đẹp
lòng vẫn không vướng bận.
“Năm
nguyện quên đầu cần kíp nhận”, nghĩa là chúng ta đã quên
đầu phải mau nhận lại. Nguyện này có sự tích trong kinh
Lăng Nghiêm. Một buổi sáng chàng Diễn-nhã-đạt-đa cầm gương
soi, nhìn trong gương thấy đầu mặt đẹp đẽ, anh úp gương
xuống, không thấy đầu mặt, anh hốt hoảng ôm đầu chạy
la: Tôi mất đầu, tôi mất đầu rồi! Đó là mê hay tỉnh?
Chúng ta có giống như vậy không? Chúng ta cũng như chàng Diễn-nhã-đạt-đa.
Khi chúng ta khởi nghĩ việc này việc kia lăng xăng thì cho
là tôi đang nghĩ, tôi đang tính, bất chợt lúc nào quên không
nghĩ tính, khi đó nói tôi mất rồi. Nghĩ tính chỉ là cái
bóng duyên theo bóng dáng của sáu trần bên ngoài, không phải
là thật, nhưng khi thấy nó, tưởng là tâm mình, đến khi
mất nó tưởng như mất mình. Như chàng Diễn-nhã-đạt-đa,
anh thành điên là tại sao? Ôm cái thật mà chạy tìm cái giả.
Tìm bóng là tìm cái giả! Chúng ta cũng thế, khi tâm không
khởi niệm lăng xăng thì cái hiện tiền chân thật đầy đủ
mà chúng ta lại quên, cứ cho là tôi đâu mất rồi. Đó là
chúng ta chỉ biết cái bóng, cho cái bóng nghĩ lăng xăng là
tôi, chớ không biết cái hiện tiền chân thật là tôi. Thế
nên nguyện thứ năm này là nguyện từ lâu quên đầu, nay
phải cần kíp nhận lại.
“Sáu
nguyện mắt tuệ tự tròn đầy” là nguyện mắt trí tuệ
của mình càng ngày càng tròn đầy.
“Bảy
nguyện hiện nay sớm tỉnh mộng.” Cuộc sống của chúng
ta hiện nay chỉ là một giấc mộng dài mấy mươi năm, nào
có gì đâu, phải ráng sớm thức tỉnh, đừng nghĩ đó là
thật rồi lầm quên cái chân thật của mình.
“Tám
nguyện hằng được sáng xưa nay”, nghĩa là nguyện hằng
sáng suốt thấy được cái chân thật đã có tự thuở nào
đến nay chưa bao giờ thiếu vắng, không bao giờ mất.
“Chín
nguyện khi nhìn trừ che huyễn”, nghĩa là khi nhìn người,
vật không bị vô minh, không bị những huyễn hóa che lấp
làm cho chúng ta bị mờ đi, không thấy được rõ ràng.
“Mười
nguyện chỗ thấy dứt hoa sanh”: nguyện thấy sự vật đúng
như thật, không bị hoa đốm lăng xăng che mờ. Hoa đốm là
do mắt lòa nên thấy không đúng sự thật.
“Mười
một nguyện trông xa mây chướng cuốn”: nguyện nhìn ra xa
những mây che đều tan mất, mắt mình thấy thông suốt.
“Mười
hai nguyện chớp mắt nghiệp băng trong”: nguyện trong chớp
mắt những nghiệp từ xưa đến nay che đậy đều được
trong sạch như băng như tuyết, không còn chút nhơ bợn.
KỆ
VÔ THƯỜNG BUỔI SỚM
Đêm
tối vừa rạng sáng,
Ánh
dương dần hiện không.
Tóc
bạc thầm tới điểm,
Má
hồng dần đổi thay.
Chẳng
biết tuổi xuân ngắn,
Vẫn
tranh nghiệp quả hùng.
Thân
như băng gặp nắng,
Mạng
tợ đuốc gió đùa.
Chớ
mải mê làm khách,
Quay
về sớm chiếu soi.
“Đêm
tối vừa rạng sáng, ánh dương dần hiện không” là diễn
tả thời gian trôi qua.
“Tóc
bạc thầm tới điểm, má hồng dần đổi thay”: Tóc bạc
len lén điểm trên đầu mỗi ngày một chút, chợt nhớ lại
đầu đã muối tiêu, lâu nữa nhớ lại, đầu đã nhuốm bông
lúc nào không hay. Má hồng cũng dần dần thay đổi, ngày xưa
mặt hồng hào, nay khô lại, hiện những nếp nhăn.
“Chẳng
biết tuổi xuân ngắn, vẫn tranh nghiệp quả hùng”: Không
biết tuổi xuân ngắn ngủi, chỉ mải tranh nghiệp quả để
thành kẻ anh hùng hảo hán, thành kẻ hay người giỏi. Đó
chỉ là tạo nghiệp cho nhau.
“Thân
như băng gặp nắng.” Băng, hay nói dễ hiểu hơn là nước
đá. Nước đá để ngoài trời nắng, chỉ một chốc là tan
hết. Thân này cũng như vậy, ngày nay đi lại lăng xăng, đến
một hôm nào nó cũng tan hoại.
“Mạng
tợ đuốc gió đùa”: Mạng như ngọn đuốc, gió thổi mạnh
một lát sau nó tàn rụi.
“Chớ
mải mê làm khách”: Đừng mải mê làm khách phong trần rong
ruổi trong tam giới lục đạo, lang thang nơi này nơi khác,
không chịu trở về.
“Quay
về sớm chiếu soi”: Quay về chiếu soi lại chính mình. Đó
là tinh thần thiền. Thiền là quay lại chiếu soi nơi mình,
không chạy theo cảnh; đuổi theo cảnh là làm khách. Biết
xoay lại mình tức là tìm ra quê hương, trở về quê hương.
Lời nhắc nhở rất rõ ràng nên mỗi khi đọc tụng chúng
ta phải nhớ để ráng tu.