THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả

c
TRẦN THÁI TÔNG
KHÓA HƯ LỤC GIẢNG GIẢI
Hoà Thượng Thích Thanh Từ
Thường Chiếu Ấn hành - P.L : 2540 - 1996
DÂNG HƯƠNG CUỐI ĐÊM

Cúi mong, sao Bắc Đẩu chuyển về phương bắc, giải Ngân hà nghiêng hẳn về tây. Bên gối giấc mộng còn say, trên lầu tiếng sừng vừa dứt. Chúng Tỳ-kheo họp nơi chiếu phạm, trước đức Phật dâng nén hương tin. Hương này giống từ cung nguyệt đem về, trong non rễ quấn chằng chịt. Dáng hình khác tục, thể chất phi phàm. Vượt xa Tước Đầu ở nước Ngô, cao hơn Qui Giáp ở Quế Lâm. Nơi đốt không dung lửa sân, khói bay bèn nhờ gió từ. Nào phải hương phàm hạ phẩm, hẳn là vị lạ thượng phương. Mỏng mỏng tơ bay kết thành điềm tốt, ngạt ngào khí lạ tụ hội duyên lành. Nghi ngút trước ngôi tòa báu, phảng phất ngoài bức rèm châu. Quay đầu tìm biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh. Thấy mặt ngửi huân, tịch diệt do đây chứng được. Nay lúc cuối đêm, đốt hương cúng dường. 
KỆ DÂNG HƯƠNG
 Trầm thủy, rừng thiền hương sực nức,
 Chiên-đàn, vườn tuệ đã vun trồng,
 Đao giới vót thành hình non thẳm,
 Nguyện đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ DÂNG HOA
 Tâm địa mở ra, hoa nở rộn,
 Trời có mưa hoa, vẫn kém thơm.
 Cành cành đóa đóa dâng cúng Phật,
 Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
HIẾN DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH
Nguyện mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh văn và tất cả Thánh Hiền, vừa rời đài Quang minh, qua cõi nước vô biên, trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.
Cúng dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng Tam Bảo. 
          (một lạy)
TÂU BẠCH
    (Lại niêm hương quì bạch)
Kính bạch, mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư; rót cam lồ cứu đàn đói khát, cầm thần châu gieo chỗ tối tăm. Trộm nghĩ: Trùng thúc năm dạo, gà giục ba hồi. Bóng đuốc tiệc hoa vừa tàn lụi, dải sao Ngân hà sắp lặn chìm. Giấc bướm lại quay về thế mộng, chuông chùa phá vỡ chốn âm u. Đầu non biếc ngậm nửa trăng mờ, mặt biển xanh vầng hồng chưa hiện. Vách cũ dế kêu từng chập, đường quan vó ngựa nhịp đều. Đầu thành làn khói nhạt bao quanh, ngoài trời màn sương sớm che phủ. Chính là lúc đạo sĩ luyện tu, cũng là thời chư Tăng hành đạo. Đường đời mờ mịt, quần sanh rối bời. Tuy sợ đang đêm ôm gối ngủ, chưa tỉnh trọn đời mở mắt mê.
Chư Phật tử! Nếu mặc suốt đêm theo dục lạc, bèn khiến trọn ngày chịu tâm mê. Đến nỗi trói buộc một đời, đều bởi Tán Hôn hai chữ. Vì ngươi mở thẳng một con đường, để lại mai sau Tác gia ngắm. Nên biết, mạng người khó thường, chớ để thời này qua rỗng. Nhìn lấy Tịnh độ trước mắt, nhận ra trong tâm Di-đà. Nếu hay ưa vui gánh vác, liền được trong ấy hiện ra. Đệ tử chúng con, kính tưởng thời này, lấy làm khóa lễ cuối đêm.
Tâu bạch rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng Tam Bảo.
(một lạy)
SÁM HỐI TỘI CĂN Ý
 Chí tâm sám hối,
 Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay,
 Bỏ mất bản tâm, không biết chánh đạo.
 Rơi ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
 Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
NGHIỆP CĂN Ý LÀ:
 Nghĩ vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng;
 Mắc mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
 Như tằm kéo kén, càng buộc càng bền;
 Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
 Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh;
 Não loạn tâm thần, đều do ba độc.
TỘI KEO THAM LÀ:
 Âm mưu ghen ghét, keo cú vét vơ;
 Mười vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ. 
 Của chứa tợ sông, lòng như hũ chảy;
 Rót vào lại hết, nên nói chưa đầy.
 Tiền mục lúa hư, không cứu đói rét;
 Lụa là chất đống, nào có giúp ai.
 Được người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
 Mất mình một đồng, tưởng như hao lớn.
 Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai;
 Kho đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
 Bao nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;
 Khổ tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
TỘI NÓNG GIẬN LÀ:
 Do tham làm gốc, lửa giận tự thiêu;
 Quắc mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
 Không riêng người tục, cả đến thầy tu;
 Kinh, Luận tranh giành, cùng nhau công kích.
 Chê cả Sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha;
 Cỏ nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
 Buông lời hại vật, cất tiếng hại người; 
 Không nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
 Bàn thiền tợ thánh, trước cảnh như ngu;
 Dầu ở cửa không, chưa thành vô ngã.
 Như cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây.
 Những tội trên đây, đều do nghiệp giận.
TỘI NGU SI LÀ:
 Căn tánh đần độn, ý thức tối tăm;
 Chẳng hiểu tôn ti, không phân thiện ác.
 Chặt cây hại mạng, giết gấu gãy tay;
 Mắng Phật chuốc ương, phun trời ướt mặt.
 Quên ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân;
 Không tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
 Những tội như thế, rất nặng rất sâu;
 Đến lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
 Trải ngàn muôn kiếp, mới được thọ sanh;
 Dù được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
 Nếu không sám hối, đâu được tiêu trừ;
 Nay trước Phật đài, thảy đều sám hối.
(Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ TÂM KHUYẾN THỈNH
 Khuyến thỉnh mười phương ba đời Phật
 Và chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng. 
 Mở rộng tâm từ bi vô lượng,
 Đồng độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
    (Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ TÂM TÙY HỈ
 Nay con theo Phật sanh hoan hỉ,
 Hôm sớm kính thành sám lỗi lầm.
 Thềm thang thập địa nguyện sớm lên,
 Bồ-đề chân tâm không lui sụt.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ TÂM HỒI HƯỚNG
 Chúng con hồi tâm về Thánh chúng,
 Chí thành đầu lễ đức Từ Tôn.
 Nguyện đem công đức đến quần sanh,
 Nương thắng nhân này thành Chánh giác.
    (Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ TÂM PHÁT NGUYỆN
 Một nguyện nguồn linh thường trong lặng,
 Hai nguyện tạng thức dứt lăng xăng,
 Ba nguyện khối nghi đều tan nát,
 Bốn nguyện trăng định mãi tròn đầy.
 Năm nguyện pháp trần không khởi diệt,
 Sáu nguyện lưới ái lìa buộc ràng,
 Bảy nguyện suy nghĩ hành Thập địa,
 Tám nguyện nghe suốt bỏ tam thiên.
 Chín nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót,
 Mười nguyện ý ngựa dứt cương yên,
 Mười một nguyện mở lòng nghe Phật dạy,
 Mười hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền.

KỆ VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
 Tiếng pháp khua tan mộng thế trần,
 Chuông chùa phá vỡ điếc ngu mông,
 Còn ưa gối đầu trong tối ngủ,
 Chẳng quản trời đông đã rạng ngời.
 Mù mịt đêm dài thì có sáng,
 Mờ mờ đường tối lại khó thông.
 Ngày nay nếu chẳng siêng hành đạo,
 Khi khác làm sao gặp Thế Tôn.
Giảng

KỆ CẢNH SÁCH CHÚNG GIỜ DẦN
(3g - 5g)
 Phương đông tờ mờ sáng,
 Mặt đất tối tan dần.
 Tâm chạm trần cảnh dấy,
 Mắt lòa sắc tưng bừng.
 Thôi tham ôm xác thúi,
 Đầu vùi sớm ngưỡng lên.
 Ân cần chuyên sáu niệm,
 Hầu mong hợp cơ chân.
 Đây là bài cảnh sách buổi khuya thức dậy.
“Phương đông tờ mờ sáng” tức là khoảng bốn, năm giờ sáng, phương đông hơi ửng một chút sáng.
“Mặt đất tối tan dần”: trên mặt đất bóng tối tan dần.
“Tâm chạm trần cảnh dấy”: tâm xúc chạm với cảnh, cảnh liền dấy khởi. Đúng ra cảnh là cảnh, tâm là tâm, tại sao cảnh dấy khởi theo tâm? Như cây thông trước chùa, nếu khuya chúng ta không trỗi dậy nhìn thấy gió thổi rung rinh cành lá thì tự nó không có gì, nhưng khi nhìn gió thổi cành lá thông, chúng ta lại có ý niệm dấy lên theo cảnh, vậy cây không có niệm khởi, khi tâm mình duyên nó bỗng dưng mình thấy cảnh có dấy động, cảnh dấy động là do tâm không phải tại cảnh. Thế nên nhiều người nhìn cảnh đêm trăng, ánh trăng bạc rọi xuống rặng thông xanh, cho là cảnh nên thơ. Cảnh là cảnh, nên thơ là tại tâm mình dấy động.
“Mắt lòa sắc tưng bừng”: mắt lòa vì bị che mờ nên thấy cảnh loạn tưng bừng. Cảnh loạn là tại mắt lòa, chớ cảnh là cảnh không có gì tưng bừng cả. Chữ lòa là nói mắt mê muội nên thấy cảnh có đẹp có xấu, có thích có chán. Hai câu trên cảnh tỉnh chúng ta, cảnh là cảnh, không có động, động là tại tâm, cảnh không đẹp xấu, đẹp xấu cũng do lòng người và con mắt lòa chấp.
Đến bốn câu sau Ngài khuyên: “Thôi tham ôm xác thúi” nghĩa là thôi thức dậy đi, đừng ôm xác thúi ngủ nữa. Tại sao Ngài nói xác thúi? Lúc chúng ta ngủ mê, tất cả đều không sạch, thế mà chúng ta cứ thương xác thúi, đến giờ thức dậy, kiểng đánh rồi mà còn nấn ná ôm nó để ngủ thêm chút nữa.
“Đầu vùi sớm ngưỡng lên”: đầu vùi dưới gối ráng ngẩng lên một chút. Ngài khuyên ráng ngẩng đầu trỗi dậy, đừng ôm xác thúi đắm chìm trong giấc ngủ say.
 Ân cần chuyên sáu niệm,
 Hầu mong hợp cơ chân.
Nên ân cần chuyên tu sáu niệm mới mong hợp với cơ chân thật. Chữ sáu niệm có hai ý:
1. Trong kinh A-hàm lục niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên. Niệm Thiên nghĩa là nhớ tất cả công đức của người sanh lên cõi trời như là tu Thập thiện v.v...
2. Đây cũng có thể là Ngài khuyên những người tu Tịnh độ niệm lục tự Di-đà. Nhưng thường lục tự Di-đà người ta gọi là lục tự chớ ít khi nói lục niệm.
Vậy lục niệm là nhớ đến Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), nhớ đến trì giới, bố thí và công đức của chư Thiên. Có thế mới hợp với cơ chân thật. Tóm lại đây là lời khuyên trong giờ thức dậy, tức là giờ đánh kiểng thức chúng buổi sáng. Vậy người nào nghe đánh kiểng mà còn nằm thêm thì người chung quanh nhắc giùm “thôi ôm xác thúi” cho người đó tỉnh.
 

Tvhs
c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap