DÂNG
HƯƠNG CUỐI ĐÊM
Cúi
mong, sao Bắc Đẩu chuyển về phương bắc, giải Ngân hà nghiêng
hẳn về tây. Bên gối giấc mộng còn say, trên lầu tiếng
sừng vừa dứt. Chúng Tỳ-kheo họp nơi chiếu phạm, trước
đức Phật dâng nén hương tin. Hương này giống từ cung nguyệt
đem về, trong non rễ quấn chằng chịt. Dáng hình khác tục,
thể chất phi phàm. Vượt xa Tước Đầu ở nước Ngô, cao
hơn Qui Giáp ở Quế Lâm. Nơi đốt không dung lửa sân, khói
bay bèn nhờ gió từ. Nào phải hương phàm hạ phẩm, hẳn
là vị lạ thượng phương. Mỏng mỏng tơ bay kết thành điềm
tốt, ngạt ngào khí lạ tụ hội duyên lành. Nghi ngút trước
ngôi tòa báu, phảng phất ngoài bức rèm châu. Quay đầu tìm
biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh. Thấy mặt ngửi huân,
tịch diệt do đây chứng được. Nay lúc cuối đêm, đốt
hương cúng dường.
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy, rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn,
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ
DÂNG HOA
Tâm
địa mở ra, hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa, vẫn kém thơm.
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
HIẾN
DÂNG HƯƠNG HOA RỒI BẠCH
Nguyện
mây hương hoa này, khắp cả mười phương cõi, cúng dường
tất cả Phật, tôn Pháp chư Bồ-tát, vô lượng chúng Thanh
văn và tất cả Thánh Hiền, vừa rời đài Quang minh, qua cõi
nước vô biên, trong vô biên cõi Phật, nhận dùng làm Phật
sự, xông khắp các chúng sanh, đều phát tâm Bồ-đề.
Cúng
dường rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng
Tam Bảo.
(một lạy)
TÂU
BẠCH
(Lại niêm hương quì bạch)
Kính
bạch, mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư; rót cam lồ
cứu đàn đói khát, cầm thần châu gieo chỗ tối tăm. Trộm
nghĩ: Trùng thúc năm dạo, gà giục ba hồi. Bóng đuốc tiệc
hoa vừa tàn lụi, dải sao Ngân hà sắp lặn chìm. Giấc bướm
lại quay về thế mộng, chuông chùa phá vỡ chốn âm u. Đầu
non biếc ngậm nửa trăng mờ, mặt biển xanh vầng hồng chưa
hiện. Vách cũ dế kêu từng chập, đường quan vó ngựa nhịp
đều. Đầu thành làn khói nhạt bao quanh, ngoài trời màn sương
sớm che phủ. Chính là lúc đạo sĩ luyện tu, cũng là thời
chư Tăng hành đạo. Đường đời mờ mịt, quần sanh rối
bời. Tuy sợ đang đêm ôm gối ngủ, chưa tỉnh trọn đời
mở mắt mê.
Chư
Phật tử! Nếu mặc suốt đêm theo dục lạc, bèn khiến trọn
ngày chịu tâm mê. Đến nỗi trói buộc một đời, đều bởi
Tán Hôn hai chữ. Vì ngươi mở thẳng một con đường, để
lại mai sau Tác gia ngắm. Nên biết, mạng người khó thường,
chớ để thời này qua rỗng. Nhìn lấy Tịnh độ trước mắt,
nhận ra trong tâm Di-đà. Nếu hay ưa vui gánh vác, liền được
trong ấy hiện ra. Đệ tử chúng con, kính tưởng thời này,
lấy làm khóa lễ cuối đêm.
Tâu
bạch rồi, chí tâm qui mạng lễ mười phương Vô thượng
Tam Bảo.
(một
lạy)
SÁM
HỐI TỘI CĂN Ý
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
NGHIỆP
CĂN Ý LÀ:
Nghĩ
vơ nghĩ vẩn, không lúc nào dừng;
Mắc
mứu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.
Như
tằm kéo kén, càng buộc càng bền;
Như
bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.
Hôn
mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sanh;
Não
loạn tâm thần, đều do ba độc.
TỘI
KEO THAM LÀ:
Âm
mưu ghen ghét, keo cú vét vơ;
Mười
vốn ngàn lời, còn cho chưa đủ.
Của
chứa tợ sông, lòng như hũ chảy;
Rót
vào lại hết, nên nói chưa đầy.
Tiền
mục lúa hư, không cứu đói rét;
Lụa
là chất đống, nào có giúp ai.
Được
người mấy trăm, chưa cho là nhiều;
Mất
mình một đồng, tưởng như hao lớn.
Trên
từ châu báu, dưới đến tơ gai;
Kho
đụn chất đầy, chưa từng bố thí.
Bao
nhiêu sự việc, ngày tính đêm lo;
Khổ
tứ lao thần, đều từ tham nghiệp.
TỘI
NÓNG GIẬN LÀ:
Do
tham làm gốc, lửa giận tự thiêu;
Quắc
mắt quát to, tiêu tan hòa khí.
Không
riêng người tục, cả đến thầy tu;
Kinh,
Luận tranh giành, cùng nhau công kích.
Chê
cả Sư trưởng, nhiếc đến mẹ cha;
Cỏ
nhẫn héo vàng, lửa độc rực cháy.
Buông
lời hại vật, cất tiếng hại người;
Không
nhớ từ bi, chẳng theo luật cấm.
Bàn
thiền tợ thánh, trước cảnh như ngu;
Dầu
ở cửa không, chưa thành vô ngã.
Như
cây sanh lửa, lửa cháy đốt cây.
Những
tội trên đây, đều do nghiệp giận.
TỘI
NGU SI LÀ:
Căn
tánh đần độn, ý thức tối tăm;
Chẳng
hiểu tôn ti, không phân thiện ác.
Chặt
cây hại mạng, giết gấu gãy tay;
Mắng
Phật chuốc ương, phun trời ướt mặt.
Quên
ơn quên đức, bội nghĩa bội nhân;
Không
tỉnh không xét, đều do si nghiệp.
Những
tội như thế, rất nặng rất sâu;
Đến
lúc mạng chung, rơi vào địa ngục.
Trải
ngàn muôn kiếp, mới được thọ sanh;
Dù
được thọ sanh, lại mắc ngu báo.
Nếu
không sám hối, đâu được tiêu trừ;
Nay
trước Phật đài, thảy đều sám hối.
(Lễ
Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng,
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
(Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm.
Thềm
thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
(Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
(Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện nguồn linh thường trong lặng,
Hai
nguyện tạng thức dứt lăng xăng,
Ba
nguyện khối nghi đều tan nát,
Bốn
nguyện trăng định mãi tròn đầy.
Năm
nguyện pháp trần không khởi diệt,
Sáu
nguyện lưới ái lìa buộc ràng,
Bảy
nguyện suy nghĩ hành Thập địa,
Tám
nguyện nghe suốt bỏ tam thiên.
Chín
nguyện tâm vượn thôi nhảy nhót,
Mười
nguyện ý ngựa dứt cương yên,
Mười
một nguyện mở lòng nghe Phật dạy,
Mười
hai nguyện mến thích Tổ sư Thiền.
KỆ
VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
Tiếng
pháp khua tan mộng thế trần,
Chuông
chùa phá vỡ điếc ngu mông,
Còn
ưa gối đầu trong tối ngủ,
Chẳng
quản trời đông đã rạng ngời.
Mù
mịt đêm dài thì có sáng,
Mờ
mờ đường tối lại khó thông.
Ngày
nay nếu chẳng siêng hành đạo,
Khi
khác làm sao gặp Thế Tôn.
Giảng
KỆ
CẢNH SÁCH CHÚNG GIỜ DẦN
(3g
- 5g)
Phương
đông tờ mờ sáng,
Mặt
đất tối tan dần.
Tâm
chạm trần cảnh dấy,
Mắt
lòa sắc tưng bừng.
Thôi
tham ôm xác thúi,
Đầu
vùi sớm ngưỡng lên.
Ân
cần chuyên sáu niệm,
Hầu
mong hợp cơ chân.
Đây
là bài cảnh sách buổi khuya thức dậy.
“Phương
đông tờ mờ sáng” tức là khoảng bốn, năm giờ sáng, phương
đông hơi ửng một chút sáng.
“Mặt
đất tối tan dần”: trên mặt đất bóng tối tan dần.
“Tâm
chạm trần cảnh dấy”: tâm xúc chạm với cảnh, cảnh liền
dấy khởi. Đúng ra cảnh là cảnh, tâm là tâm, tại sao cảnh
dấy khởi theo tâm? Như cây thông trước chùa, nếu khuya chúng
ta không trỗi dậy nhìn thấy gió thổi rung rinh cành lá thì
tự nó không có gì, nhưng khi nhìn gió thổi cành lá thông,
chúng ta lại có ý niệm dấy lên theo cảnh, vậy cây không
có niệm khởi, khi tâm mình duyên nó bỗng dưng mình thấy
cảnh có dấy động, cảnh dấy động là do tâm không phải
tại cảnh. Thế nên nhiều người nhìn cảnh đêm trăng, ánh
trăng bạc rọi xuống rặng thông xanh, cho là cảnh nên thơ.
Cảnh là cảnh, nên thơ là tại tâm mình dấy động.
“Mắt
lòa sắc tưng bừng”: mắt lòa vì bị che mờ nên thấy cảnh
loạn tưng bừng. Cảnh loạn là tại mắt lòa, chớ cảnh là
cảnh không có gì tưng bừng cả. Chữ lòa là nói mắt mê
muội nên thấy cảnh có đẹp có xấu, có thích có chán. Hai
câu trên cảnh tỉnh chúng ta, cảnh là cảnh, không có động,
động là tại tâm, cảnh không đẹp xấu, đẹp xấu cũng
do lòng người và con mắt lòa chấp.
Đến
bốn câu sau Ngài khuyên: “Thôi tham ôm xác thúi” nghĩa là
thôi thức dậy đi, đừng ôm xác thúi ngủ nữa. Tại sao Ngài
nói xác thúi? Lúc chúng ta ngủ mê, tất cả đều không sạch,
thế mà chúng ta cứ thương xác thúi, đến giờ thức dậy,
kiểng đánh rồi mà còn nấn ná ôm nó để ngủ thêm chút
nữa.
“Đầu
vùi sớm ngưỡng lên”: đầu vùi dưới gối ráng ngẩng lên
một chút. Ngài khuyên ráng ngẩng đầu trỗi dậy, đừng ôm
xác thúi đắm chìm trong giấc ngủ say.
Ân
cần chuyên sáu niệm,
Hầu
mong hợp cơ chân.
Nên
ân cần chuyên tu sáu niệm mới mong hợp với cơ chân thật.
Chữ sáu niệm có hai ý:
1.
Trong kinh A-hàm lục niệm là niệm Phật, niệm Pháp, niệm
Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên. Niệm Thiên nghĩa
là nhớ tất cả công đức của người sanh lên cõi trời
như là tu Thập thiện v.v...
2.
Đây cũng có thể là Ngài khuyên những người tu Tịnh độ
niệm lục tự Di-đà. Nhưng thường lục tự Di-đà người
ta gọi là lục tự chớ ít khi nói lục niệm.
Vậy
lục niệm là nhớ đến Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), nhớ đến
trì giới, bố thí và công đức của chư Thiên. Có thế mới
hợp với cơ chân thật. Tóm lại đây là lời khuyên trong
giờ thức dậy, tức là giờ đánh kiểng thức chúng buổi
sáng. Vậy người nào nghe đánh kiểng mà còn nằm thêm thì
người chung quanh nhắc giùm “thôi ôm xác thúi” cho người
đó tỉnh.