DÂNG
HƯƠNG BUỔI ĐẦU HÔM
Cúi
mong, lửa đom đóm điểm không, đèn thuyền chài rọi nước.
Bạn tịnh trên đàn đều tới, trong lò mới thắp tín hương.
Hương này, sản phẩm chẳng ở Lạc Sơn, chủng loại không
phải trầm thủy. Đâu bởi Thần Long dâng cúng, chính do Bồ-tát
cất dành. Trong rừng Ngưu đầu khó so bì, nơi vườn Kê thiệt
suy tôn bậc nhất. Gươm tuệ chặt, vót bằng đao giới rất
mực thanh kỳ; nước định rửa, lửa tam-muội đốt mùi thơm
ngào ngạt. Đâu chỉ đàn tràng ngửi được, mọi nơi khắp
chốn đều thơm. Một nén hương xông nhiều đời nghiệp sạch.
Nay buổi đầu hôm, đốt hương cúng dường.
KỆ
DÂNG HƯƠNG
Trầm
thủy rừng thiền hương sực nức,
Chiên-đàn
vườn tuệ đã vun trồng,
Đao
giới vót thành hình non thẳm,
Nguyện
đốt lò tâm mãi cúng dâng.
KỆ
DÂNG HOA
Đất
tâm mở ra, hoa nở rộn,
Trời
có mưa hoa, vẫn kém thơm.
Cành
cành đóa đóa dâng cúng Phật,
Gió
nghiệp muôn đời thổi chẳng rơi.
PHÁT
NGUYỆN
Nguyện
mây hương hoa này
Khắp
cả mười phương cõi
Cúng
dường tất cả Phật,
Tôn
Pháp, chư Bồ-tát,
Vô
lượng chúng Thanh văn
Và
tất cả Thánh Hiền.
Vừa
rời đài Quang minh
Qua
cõi nước vô biên
Trong
vô biên cõi Phật
Nhận
dùng làm Phật sự.
Xông
khắp các chúng sanh
Đều
phát tâm Bồ-đề.
TÂU
BẠCH
Kính
bạch: Mười phương Đại Giác, ba đời Hùng Sư, mở rộng
đèn tuệ chư Phật, soi khắp nhà tối quần sanh. Trộm nghe:
kèn lầu vừa thổi, trống cấm mới truyền, nhà nhà đèn
sáp sáng trưng, chốn chốn mỡ rồng cháy rực. Ngựa báu thôi
hí ngoài ngõ tía, cá vàng ngưng nhảy dưới ao trong. Lưa thưa
mặt nước đom đóm bay, lấp ló đầu non ngậm vầng nguyệt.
Bên đài Phượng HOÀNG SAY SƯA TIệC RƯợU LIÊN HOAN, TRƯớC
LầU ANH VŨ THAM ĐắM MÊ HOA THủ LạC. HOặC VịNH trăng cợt
gió, hoặc thổi sáo đánh đàn. Người người chăm chăm duyên
trước mắt, kẻ kẻ đâu quên việc sau thân.
Các
Phật tử! Phải tỉnh đường trước khó tiến tới, chớ
tham gối cao mặc ngủ say. Lên giường khó bảo đảm xuống
giường, đêm nay đâu thể biết đêm mai. Cửa đệ nhất nghĩa
nên thẳng vào, nơi ba đường ác chớ tiến bước. Quay đầu
nhận về gia hương mình, mở mắt chớ ham mộng phù thế.
Đệ tử chúng con, chỉ tưởng giờ này, lấy làm khóa lễ
đầu hôm.
(Lễ Tam Bảo một lạy)
SÁM
HỐI TỘI CĂN LƯỠI
Chí
tâm sám hối,
Chúng
con từ vô thủy kiếp đến nay,
Bỏ
mất bản tâm, không biết chánh đạo.
Rơi
ba đường khổ, bởi sáu căn lầm,
Không
sám lỗi trước, khó tránh hối sau.
NGHIỆP
CĂN LƯỠI LÀ:
Tham
đủ mọi mùi, thích xét ngon dở;
Nếm
hết các thứ, biết rõ béo gầy.
Sát
hại sanh vật, nuôi dưỡng thân mình;
Quay
rán cá chim, nấu hầm cầm thú.
Thịt
tanh béo miệng, hành tỏi ruột xông;
Ăn
rồi đòi nữa, nào thấy no lâu.
Hoặc
đến đàn chay, cầu thần lễ Phật;
Cố
cam bụng đói, đợi lúc việc xong.
Sáng
sớm ăn chay, cơm ít nước nhiều;
Giống
hệt người đau, gắng nuốt thuốc cháo.
Mắt
đầy mỡ thịt, cười nói hân hoan;
Rượu
chuốc cơm mời, nóng thay nguội đổi.
Bày
tiệc đãi khách, cưới gả cho con;
Giết
hại chúng sanh, vì ba tấc lưỡi.
Nói
dối bày điều, thêu dệt bịa thêm;
Hai
lưỡi bỗng sanh, ác khẩu dấy khởi.
Chửi
mắng Tam Bảo, nguyền rủa mẹ cha;
Khinh
khi Hiền Thánh, lừa dối mọi người.
Che
bai người khác, che giấu lỗi mình;
Bàn
luận cổ kim, khen chê này nọ.
Khoe
khoang giàu có, lăng nhục người nghèo;
Xua
đuổi Tăng, Ni, chửi mắng tôi tớ.
Lời
gièm thuốc độc, nói khéo tiếng đàn;
Tô
vẽ điều sai, nói không thành có.
Oán
hờn nóng lạnh, phỉ nhổ non sông;
Tán
dóc Tăng phòng, ba hoa Phật điện.
Những
tội như thế, vô lượng vô biên;
Ví
như cát bụi, đếm không thể cùng.
Sau
khi mạng chung, vào ngục bạt thiệt;
Cày
sắt kéo dài, nước đồng rót mãi.
Quả
báo hết rồi, muôn kiếp mới sanh;
Dù
được làm người, lại bị câm bặt.
Nếu
không sám hối, khó được tiêu trừ;
Nay
trước Phật đài, thảy đều sám hối.
(Lễ Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM KHUYẾN THỈNH
Khuyến
thỉnh mười phương ba đời Phật
Và
chư Bồ-tát Thánh Hiền Tăng.
Mở
rộng tâm từ bi vô lượng
Đồng
độ chúng sanh lên bờ kia (giác).
(Lễ
Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM TÙY HỈ
Nay
con theo Phật sanh hoan hỉ,
Hôm
sớm kính thành sám lỗi lầm,
Thềm
thang thập địa nguyện sớm lên,
Bồ-đề
chân tâm không lui sụt.
(Lễ
Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM HỒI HƯỚNG
Chúng
con hồi tâm về Thánh chúng,
Chí
thành đầu lễ đức Từ Tôn.
Nguyện
đem công đức đến quần sanh,
Nương
thắng nhân này thành Chánh giác.
(Lễ
Tam Bảo một lạy)
CHÍ
TÂM PHÁT NGUYỆN
Một
nguyện ăn no vị vô thượng,
Hai
nguyện nhả hết vị trần tanh,
Ba
nguyện biện tài trừ các hoặc,
Bốn
nguyện thích nói độ quần sanh.
Năm
nguyện đọc hết kho vô tận,
Sáu
nguyện sông pháp uống cạn khô,
Bảy
nguyện sớm nhận Đại Ngu thổ,
(thổ thiệt: le lưỡi)
Tám
nguyện nhanh đồng Lâm Tế thanh
(tiếng hét).
Chín
nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ,
Mười
nguyện trong sạch như trời xanh,
Mười
một nguyện thế gian không câm ngọng,
Mười
hai nguyện địa ngục hết trâu cày
(cày lưỡi).
(Lễ
Tam Bảo một lạy)
KỆ
VÔ THƯỜNG THỜI NÀY
Ngày
sáng mất rồi đêm tối đến,
Đường
đêm mờ mịt lại mịt mờ,
Uổng
công đốt đuốc cho người khác,
Chẳng
chịu mồi đèn chính nhà mình.
Chầm
chậm vầng ô vừa khuất núi,
Từ
từ bóng thỏ biển đông lên,
Chết
sống xoay vần đều như thế,
Sao
chẳng qui y Phật Pháp Tăng.