Tựa
KHOA
NGHI SÁU THỜI SÁM HỐI
Dịch
Tiện
lợi việc đi lại dưới sông trên bộ, là nhờ xe, thuyền;
tẩy sạch bụi nhơ nơi thân, tâm, là do sám hối. Muốn tẩy
sạch thân tâm mà không dùng sám hối, khác nào muốn tiện
lợi qua lại mà chẳng dùng xe, thuyền. Thế mới biết công
dụng sám hối rất là to. Cho nên kinh Đại Tập nói: “Như
áo nhơ hằng trăm năm, có thể trong một ngày giặt được
sạch sẽ. Như thế, trong trăm ngàn kiếp đã tích tập các
nghiệp chẳng lành, do nhờ lực Phật, khéo thuận tư duy, có
thể trong một ngày hay một giờ, trọn hay tiêu diệt.”
Vả
lại, chúng sanh từ trước đến nay tánh giác thanh tịnh tròn
sáng, trong trẻo như hư không chẳng có mảy bụi. Do bọt vọng
chợt dấy, cõi uế hiện thành, năng và sở nương nhau, Phật
với chúng sanh thấy hai. Căn tánh sai biệt, ngu trí phân chia,
chỉ cho một cửa, khó được ngộ nhập. Vì thế, đức Phật
chúng ta trí nguyện rộng lớn, mở cửa phương tiện, tùy
lối chỉ đường về, đúng bệnh cho thuốc. Biết huyễn cấu
của chúng sanh từ vọng mà sanh, khuyên họ một niệm kính
thành qui y sám hối. Khiến thân tâm thanh tịnh, trong sạch
như xưa. Gió yên thì sóng lặng, bụi sạch thì gương sáng.
Sao thế? Vì trước khởi tâm ác, như mây che mặt trăng, sau
sanh tâm thiện, như đuốc sáng tan bóng tối. Ôi! công dụng
sám hối lớn lao há chẳng vậy sao?
Trẫm
nhờ quyến thuộc nhà Trời, ở ngôi chí tôn, nên việc dân
gian, quốc chính phiền rộn. Phồn hoa dụ dỗ bên ngoài, thị
dục mê hoặc ở trong. Miệng thì chán ngán vị ngon, thân phải
đeo mang vàng ngọc. Thấy nghe đuổi theo thanh sắc, ở ăn toàn
chốn gác đài. Lại nữa, thói đời khinh bạc, nhân pháp suy
vi, học giả mù độn, căn lành kém mỏng. Ngày thì căn, trần
va chạm, lưới nghiệp kéo lôi; đêm thì mê ngủ che đậy,
dây lười trói buộc. Ngày đêm dính mắc, đâu không phải
là lỗi chuốc họa gây thù. Trẫm vì lẽ đó, ôm ấp trong
lòng, thương cảm xen lẫn, quên ăn mất ngủ. Nhân khi việc
triều rảnh rỗi, xem khắp Kinh, Luận và các văn nghi lễ,
tuyển chọn pháp có được tự lợi lợi tha, dùng để chỉ
dạy cho người. Trăn trở suy đi nghĩ lại, xưa tạo nghiệp
trọn do sáu căn. Vì thế đức Phật Thích-ca khi chưa thành
đạo, trước vào núi Tuyết sáu năm tu khổ hạnh, là do sáu
căn đó vậy. Phỏng theo ý ấy, lấy sáu căn phân làm sáu
thời, mỗi thời lễ sám một căn. Chính trẫm chế nghi văn
sám hối này, gọi là “Khoa nghi sáu thời lễ Phật sám hối”.
Văn
thì rườm rà, nói thì lời xa xôi. Nếu văn rườm rà thì
người lười sám hối, lời xa xôi thì dễ sanh nghi. Cho
nên không dùng lời phù phiếm dồn cho đầy quyển, cốt khiến
người đọc tụng vui vẻ, người nghe thấy dễ ngộ. Mới
mong những kẻ có lòng tin, ngày đêm phát tâm chí thành, theo
khoa nghi này làm lễ sám hối. Đây là chẳng phụ chí nguyện
tự lợi lợi tha của trẫm.
Người
sáng mắt thời sau, chớ xem nghi văn này mà phát cười. Tuy
nhiên như thế:
Không
nhân ngõ tía hoa cười sớm,
Đâu
có hoàng oanh đậu liễu xanh.
Giảng
Vua
Trần Thái Tông soạn Khoa nghi sáu thời sám hối rất là đầy
đủ, thích hợp với giáo lý, với Thiền tông, nhưng chúng
ta lại bỏ quên, không ai ngó ngàng đến. Ngài chia sám hối
mắt một thời, tai một thời... đến ý một thời. Ngài muốn
dành cho người rảnh rỗi chưa tu thiền được, mỗi ngày
đêm chia ra sáu thời để sám hối thì sáu căn cũng được
thanh tịnh. Tại Thiền viện Trúc Lâm, vì có những giờ ngồi
thiền nên chúng ta chỉ dùng một thời sám hối để gỡ những
dính mắc của sáu căn cho khi ngồi tu được an ổn, chớ không
dùng sám hối làm trọng tâm tu, ngồi thiền mới là trọng
tâm. Thế nên chúng tôi tóm tắt sáu thời chung thành một
thời. Đây là lời tựa sáu thời sám hối nói lên sở nguyện
của Ngài.
“Tiện
lợi việc đi lại dưới sông trên bộ là nhờ xe thuyền,
tẩy sạch bụi nhơ nơi thân tâm là do sám hối. Muốn tẩy
sạch thân tâm mà không dùng sám hối khác nào muốn tiện
lợi qua lại mà chẳng dùng xe thuyền. Thế mới biết công
dụng sám hối rất là to. Cho nên kinh Đại Tập nói: ‘Như
áo nhơ hằng trăm năm, có thể trong một ngày giặt được
sạch sẽ. Như thế trong trăm ngàn kiếp đã tích tập các
nghiệp chẳng lành, do nhờ lực Phật, khéo thuận tư duy, có
thể trong một ngày hay một giờ, trọn hay tiêu diệt.”
Đây
là đoạn mở đầu nói về công dụng của sám hối. Phật
dạy ai ai cũng có thể lầm lỗi nhưng biết sám hối thì lầm
lỗi đó sẽ hết. Trái lại nếu che giấu thì lỗi càng tăng,
nên sám hối có công dụng giúp chúng ta tiêu ma những nghiệp
cũ và sạch những nghiệp mới. Có như thế sự tu hành của
chúng ta mới tiến mau, chớ nghiệp cũ còn tràn đầy, nghiệp
mới lại tiếp tục tạo thì việc tu hành sẽ càng ngày càng
lui sụt. Vì thế sám hối là một điều rất thiết yếu.
Tuy nhiên tôi cũng nói rõ, sám hối là kể lại những lỗi
lầm, những sai sót chúng ta đã gây ra, những tội lỗi chúng
ta thường vấp phải, để chúng ta nhớ rồi sửa và tránh.
Nếu sám hối mà không biết mình nói gì, không hiểu mình
làm gì thì lời sám hối không có giá trị. Điều đáng buồn
là lâu nay, ở các chùa, Phật tử chúng ta mỗi nửa tháng
đều sám hối, thật là đúng tinh thần Phật dạy, nhưng khi
quì xuống đọc những lời sám hối, thí dụ như sám hối
Hồng Danh quí vị đọc: Như thị đẳng nhất thiết thế giới
chư Phật Thế Tôn v.v..., đọc một mạch xong rồi không biết
nói gì, vậy sám hối là sám điều gì? Đó là điều rất
đáng tiếc. Đúng ra sám hối là chúng ta phải biết mình có
lỗi gì, nay xin chừa cải những lỗi lầm đó... ôn đi ôn
lại cho tâm trí ghi nhớ để mỗi khi gặp những việc đó,
sực nhớ mới tránh được, chớ nói mà không biết rõ nói
gì thì buổi sám hối làm sao có tác dụng? Đó là điều tôi
thường hay buồn vì thấy dường như chúng ta làm cho có lệ
chớ không phải để có một công dụng thật sự.
Khi
nói về công dụng của sám hối, vua Trần Thái Tông dẫn kinh
Đại Tập. Một ông vua bận rộn việc nước, việc dân lại
có giờ nghiên cứu kinh điển như kinh Đại Tập, chưa hẳn
các vị ở chùa có đọc đến nữa. Ngài thấy trong kinh Đại
Tập dạy, như chiếc áo nhơ hằng trăm năm không giặt nay
đem ra giặt thì có thể trong một ngày được sạch liền.
Cũng như vậy, trong trăm ngàn kiếp đã chứa nhóm các nghiệp
chẳng lành nay nhờ sức thần của chư Phật, khéo thuận tư
duy, có thể trong một ngày hay một giờ trọn hay tiêu diệt.
“Khéo thuận tư duy”, thuận là thuận theo giáo lý, tư duy
là suy nghĩ, thường trong nhà Phật hay dùng từ ngữ Chánh
tư duy. Nhờ oai lực của Phật, nhờ suy nghĩ đúng chánh pháp,
đúng theo lời Phật dạy nên có thể trong một ngày hay một
giờ tất cả nghiệp sẽ tiêu diệt rất nhanh. Như vậy sám
hối là phải có tư duy về lỗi lầm để chừa cải.
“Vả
lại chúng sanh từ trước đến nay, tánh giác thanh tịnh tròn
sáng, trong trẻo như hư không chẳng có mảy bụi. Do bọt vọng
chợt dấy, cõi uế hiện thành, năng và sở nương nhau, Phật
với chúng sanh thấy hai. Căn tánh sai biệt, ngu trí phân chia,
chỉ cho một cửa, khó được ngộ nhập. Vì thế đức Phật
chúng ta trí nguyện rộng lớn, mở cửa phương tiện, tùy
lối chỉ đường về, đúng bệnh cho thuốc. Biết huyễn cấu
của chúng sanh từ vọng mà sanh, khuyên họ một niệm kính
thành qui y sám hối, khiến thân tâm thanh tịnh, trong sạch
như xưa. Gió yên thì sóng lặng, bụi sạch thì gương sáng.
Sao thế? Vì trước khởi tâm ác, như mây che mặt trăng, sau
sanh tâm thiện, như đuốc sáng tan bóng tối. Ôi công dụng
sám hối lớn lao há chẳng vậy sao?”
Đoạn
này Ngài đi từ lý đến sự. Lý là nói từ trước đến
nay tất cả chúng sanh đều có tánh giác, thanh tịnh tròn sáng,
trong trẻo như hư không chẳng có mảy bụi, thế nên Lục
Tổ bảo: “Bản lai vô nhất vật.” Tánh giác đó không dính
một mảy bụi nhưng nay “do bọt vọng chợt dấy”, vọng
tưởng như hòn bọt, chợt dấy lên thì cõi uế hiện thành.
Ta-bà là uế độ tức là cõi uế, cõi nhơ nhớp. Do bọt vọng
tưởng dấy lên đưa đẩy chúng ta sanh vào những cõi khổ
đau ô uế, rồi từ đó có năng sở đối đãi, có Phật có
chúng sanh, thành thấy có hai bên. Như vậy sở dĩ có cõi,
có người, có Phật, có chúng sanh đều do vọng tưởng. Rồi
“căn tánh sai biệt, ngu trí phân chia, chỉ cho một cửa khó
được ngộ nhập”: Căn tánh có kẻ khôn, người khờ, nếu
Phật chỉ dạy một môn thì mọi người khó tu được vì
người thông minh mau hiểu mau nhận, người trì độn lại
khó nhận hiểu.
“Vì
thế đức Phật chúng ta trí nguyện rộng lớn, mở cửa phương
tiện, tùy lối chỉ đường về, đúng bệnh cho thuốc”:
Bởi vậy nên đức Phật mới dùng trí nguyện rộng lớn của
Ngài mở nhiều cửa, lập nhiều phương tiện để hướng
dẫn họ, tùy theo lối mà chỉ đường, người thấp chỉ
đường thấp, người cao chỉ đường cao v.v..., đúng các
bệnh mà cho thuốc để mọi người đều hết bệnh, hết
khổ.
“Biết
huyễn cấu của chúng sanh từ vọng mà sanh, khuyên họ một
niệm kính thành qui y sám hối.” Cấu là nhơ nhớp, huyễn
là giả dối. Cái nhơ nhớp giả dối của chúng ta chỉ từ
vọng tưởng sanh ra, nay khuyên nên một niệm thành kính qui
y sám hối thì lần lần huyễn cấu hết, nhờ đó thân tâm
được thanh tịnh, trong sạch như buổi ban đầu, tức là trở
về tánh giác thanh tịnh tròn sáng.
Ngài
giải thích: “Gió yên thì sóng lặng, bụi sạch thì gương
sáng.” Hai hình ảnh: mặt biển khi gió dừng sóng lặng, mặt
biển thênh thang; mặt gương khi sạch bụi thì gương trong
sáng. Như vậy có gió mới dậy sóng, gió là dụ cho vọng
tưởng, sóng dụ cho những huyễn cấu làm cho tâm mất thanh
tịnh; bụi dụ cho vọng tưởng, bụi sạch gương sáng là
chỉ tâm trong sáng như cũ. Tại sao? “Vì trước khởi tâm
ác như mây che mặt trăng”, chúng ta khởi tâm ác giống như
mây đen che mặt trăng. “Sau sanh tâm thiện như đuốc sáng
tan bóng tối”, sau khởi tâm lành như cầm đuốc sáng, bóng
tối liền mất. “Sau” là chỉ khi sám hối và chánh tư duy.
“Ôi công dụng sám hối lớn lao há chẳng vậy sao”, tức
là công dụng sám hối rất là to lớn vậy.
Tiếp
đến Ngài nói: “Trẫm nhờ quyến thuộc nhà Trời, ở ngôi
chí tôn, nên việc dân gian quốc chính phiền rộn.” Thuở
xưa, vua được gọi là Thiên tử tức là con Trời, vì thế
gọi là quyến thuộc nhà Trời. Trong nước vua là trên hết
nên nói là chí tôn. Vì được trên hết nên việc dân gian
quốc chính phiền rộn quá nhiều.
“Phồn
hoa dụ dỗ bên ngoài, thị dục mê hoặc ở trong”: Ở ngoài
bao nhiêu thứ phồn hoa dụ dỗ, ở trong thị dục mê hoặc.
Làm vua đâu có thiếu vật gì, cái gì cũng tốt đẹp, cũng
cám dỗ. “Miệng thì chán ngán vị ngon, thân phải đeo mang
vàng ngọc”: Ăn đủ thức ngon, ăn mãi thành ngán. Đeo còng
bằng sắt với còng bằng vàng có khác nhau không? Khác là
khác sắt với vàng, nhưng đều là còng. Bị trói, bị xiềng
bằng sắt, bằng đồng hay đeo mang vàng ngọc cũng tương tự
nhau thôi nên Ngài cảm thấy thân bị đeo mang vàng ngọc.
“Thấy
nghe đuổi theo thanh sắc, ở ăn toàn chốn gác đài.” Thấy
nghe đều toàn là sắc là thanh, lúc nào cũng sắc đẹp tiếng
hay, tiếng khen ngợi, tôn xưng...
“Lại
nữa thói đời khinh bạc nhân pháp suy vi, học giả mù độn,
căn lành kém mỏng”: Hoàn cảnh quá dư làm cho Ngài khổ,
nhìn lại tình đời khinh bạc, pháp luật trong đời không
có ai theo, người học giả ngu ngơ không sáng, căn lành lại
kém mỏng.
“Ngày
thì căn trần va chạm, lưới nghiệp kéo lôi, đêm thì mê
ngủ che đậy, dây lười trói buộc.” Những câu này rõ ràng
là bệnh của chúng ta. Ngày thì mắt chạy theo sắc, tai chạy
theo tiếng v.v... cứ như thế mà bị lưới nghiệp trói, lôi
kéo không thoát khỏi. Đêm thì mê ngủ che đậy, từ mê ngủ
bị dây lười trói buộc. Tất cả chúng ta thích tỉnh hay
thích mê? Đúng lý ai cũng thích tỉnh nên mới tu. Nhưng ngủ
mê tức là không tỉnh, nếu có người đến gọi cho tỉnh,
chúng ta có buồn không? Lẽ ra phải mang ơn người gọi vì
đang mê được tỉnh là mừng, trái lại đang ngủ ngon bị
gọi dậy mà nổi giận là thích mê. Muốn tỉnh mà thích mê,
thật là một vòng lẩn quẩn! Giả sử ba giờ rưỡi mới
thức mà có người gọi trước mười lăm phút, mình cũng
hoan hỉ vì huynh đệ tốt, gọi mình tỉnh sớm, nếu gọi
trễ lẽ ra phải buồn giận vì để mình mê dài. Nhưng hình
như chúng ta thích dậy trễ hơn là dậy sớm, nên chúng ta
là kẻ thích mê, bị dây lười trói buộc.
Tóm
lại ban ngày bị lưới ngũ dục hay lưới nghiệp sáu trần
kéo lôi, ban đêm sợi dây của ma lười trói cột không lúc
nào được thảnh thơi, được tự do. Người tu là người
muốn tự do, muốn giải thoát tức nhiên phải gỡ lưới nghiệp
và cắt sợi dây lười. Muốn ban ngày không dính sáu trần,
phải chịu khó sám hối mỗi đêm để nhớ không cho sáu trần
dính mắc. Ban đêm nên dậy sớm để tỉnh nhiều hơn, nghĩa
là càng tỉnh càng hay.
“Ngày
đêm dính mắc, đâu không phải là lỗi chuốc họa gây thù?”
Ngày đêm đều dính mắc là nhân để chuốc họa gây thù,
cột trói mãi không thể thoát khỏi.
“Trẫm
vì lẽ đó ôm ấp trong lòng, thương cảm xen lẫn, quên ăn
mất ngủ.” Một vị vua mà nói: Trẫm vì lẽ đó, tức là
vì nghĩ đến sự mê muội và nỗi khổ đau của con người,
ôm ấp trong lòng, cảm xúc thương xót họ đến quên ăn mất
ngủ. Trong khi đó có người xuất gia dường như chưa nhớ
như vậy, chỉ biết ăn ngon ngủ kỹ, ai khổ mặc ai, thật
là thiếu lòng từ bi.
“Nhân
khi việc triều rảnh rỗi, xem khắp Kinh Luận và các văn nghi
lễ, tuyển chọn pháp có được tự lợi lợi tha, dùng để
chỉ dạy cho người”: Khi việc triều đình rảnh rỗi Ngài
xem Kinh Luận, các khoa nghi lễ để tìm chọn những gì lợi
ích cho mình, cho người để chỉ dạy người.
“Trăn
trở suy đi nghĩ lại, xưa tạo nghiệp trọn do sáu căn”:
Ngài suy nghĩ ngày trước chúng ta tạo nghiệp đều do sáu
căn.
“Vì
thế đức Phật Thích-ca khi chưa thành đạo, trước vào núi
Tuyết, sáu năm tu khổ hạnh là do sáu căn đó vậy”: Đức
Phật hành khổ hạnh sáu năm là để tượng trưng cho sáu
căn.
“Phỏng
theo ý ấy, lấy sáu căn phân làm sáu thời, mỗi thời lễ
sám một căn, chính Trẫm chế nghi văn sám hối này, gọi là
‘Khoa nghi sáu thời lễ Phật sám hối’.” Ngài nói lý do
chế ra khoa văn sám hối này. Vì xét kỹ con người có nhiều
tội lỗi nhiều mê muội nên bị khổ chồng chất kiếp kiếp
đời đời. Xét như vậy rồi nghĩ thương thân phận mình.
Câu “được tự lợi lợi tha” nghĩa là sám hối thế nào
có lợi cho mình, cho người. Có lẽ Ngài cảm thấy mình tội
lỗi nên trằn trọc tìm cách giải những tội lỗi trước
kia, Ngài tìm được khoa nghi sám hối này, Ngài tự tu, Ngài
sám hối, đó là tự lợi, để người sau bắt chước tu theo
đó là lợi tha. Như vậy Ngài biết mình không trong sạch nên
phải sám hối rồi chỉ dạy cho người biết sám hối như
Ngài.
“Văn
thì rườm rà, nói thì lời xa xôi. Nếu văn rườm rà thì
người lười sám hối, lời xa xôi thì dễ sanh nghi. Cho nên
không dùng lời phù phiếm dồn cho đầy quyển, cốt khiến
người đọc tụng vui vẻ, người nghe thấy dễ ngộ. Mới
mong những kẻ có lòng tin, ngày đêm phát tâm chí thành, theo
khoa nghi này làm lễ sám hối. Đây là chẳng phụ chí nguyện
tự lợi lợi tha của Trẫm.”
Đoạn
này Ngài nói về lời văn trong Lục thời sám hối. Nếu Ngài
dùng văn chương thì có tính cách rườm rà, người ta sẽ
lười sám hối. Còn dùng lời xa xôi người nghe khó hiểu,
nên dễ sanh nghi. Vì thế Ngài không dùng lời văn rườm rà
phù phiếm mà dùng những lời bình dị khiến người đọc
tụng nghe dễ hiểu nên vui vẻ, lại người ở chung quanh được
nghe cũng dễ ngộ. Được như thế mới mong những kẻ có
lòng tin, nghĩa là những ai tin lối tu hành sám hối, ngày đêm
phát tâm chí thành làm lễ sám hối. Như vậy mới đúng chí
nguyện tự lợi và lợi tha của Ngài.
Để
kết thúc tôi dẫn nguyên văn chữ Hán: “Hậu chi minh nhãn
giả vô dĩ nghi văn kiến tiếu. Tuy nhiên như thị:
Bất
nhân tử bách hoa khai tảo,
Tranh
đắc hoàng oanh hạ liễu điều.
“Hậu
chi minh nhãn giả” là người mắt sáng đời sau tức chỉ
đời sau những người ngộ đạo, đạt được lý thiền.
“Vô
dĩ nghi văn kiến tiếu”: Chớ thấy nghi văn sám hối này
mà cười, vì người ngộ đạo rồi thấy nghi lễ sám hối
cho là hình thức, yêu cầu quí vị chớ cười, tại sao?
Tuy
hình thức như thế nhưng:
Không
nhân ngõ tía hoa cười sớm,
Đâu
có hoàng oanh đậu liễu xanh.
Hai
câu thơ này trả lời rất khéo. Bách là con đường hẹp,
hoa cười sớm là hoa nở sớm. Nếu bên những con đường
hẹp không có hoa nở sớm thì đâu có hoàng oanh đậu liễu
xanh. Đây là theo tinh thần ở Trung Hoa, vào mùa xuân hoa nở
mới có chim hoàng oanh về đậu trên cành liễu. Như vậy hai
câu thơ trên nghĩa là không nhân hình thức nghi lễ này thì
làm gì có cơ hội ngộ được bản tâm thanh tịnh, vậy đừng
nghĩ hình thức là vô nghĩa, vô ích. Hình thức tuy ở bên
ngoài nhưng nhờ nó mà cái cao siêu sáng suốt trong sạch bên
trong hiện ra. Như vậy toàn bài kết thúc bằng hai câu thơ
cho chúng ta thấy ý nghĩa rất là đầy đủ.
Tóm
lại chúng tôi đã nhiều lần nhắc nhở sáu thời sám hối
của vua Trần Thái Tông là then chốt của sự tu hành. Thế
nên chúng ta mỗi đêm hằng sám hối theo sáu thời để sáu
căn khi tiếp xúc với sáu trần không dính mắc, không dính
mắc là vô trụ, vô trụ thì tâm Bồ-đề hay tâm Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác phát sanh.