LUẬN
VỀ NIỆM PHẬT
Dịch
Phàm
niệm Phật là do tâm khởi. Tâm khởi thiện thì niệm thiện,
khởi niệm thiện thì nghiệp báo thiện. Tâm khởi ác là niệm
ác, sanh nghiệp ác thì ứng nghiệp ác. Như gương hiện ảnh,
tợ bóng theo hình. Cho nên Thiền sư Vĩnh Gia nói: “ai vô niệm,
ai vô sanh” là nghĩa này vậy.
Nay
học giả muốn khởi chánh niệm để dứt ba nghiệp, cũng
nhờ công niệm Phật. Thế nào là niệm Phật được dứt
ba nghiệp? Vì khi niệm Phật thân ngồi ngay thẳng, không làm
hạnh tà là dứt thân nghiệp. Miệng tụng chân ngôn, chẳng
nói lời tà là dứt khẩu nghiệp. Ý gắng tinh tấn, chẳng
khởøi niệm tà là dứt ý nghiệp. Song người trí có ba bậc:
Bậc
thượng trí thì tâm tức là Phật, chẳng nhờ tu thêm. Niệm
tức là trần, chẳng cho một điểm. Niệm trần vốn tịnh,
nên gọi như như bất động, tức là thân Phật. Thân Phật
tức là thân ta, không có hai tướng. Tướng tướng không hai,
lặng lẽ thường còn, còn mà chẳng biết, đó là Phật sống.
Bậc
trung trí ắt nương niệm Phật. Chú ý chuyên cần, niệm niệm
chẳng quên, tự tâm thuần thiện. Niệm thiện đã hiện, niệm
ác liền tiêu. Niệm ác đã tiêu, chỉ còn niệm thiện. Do
niệm là ý niệm, nên niệm niệm diệt đó. Khi niệm diệt
ắt về chánh đạo. Lúc mạng chung được vui Niết-bàn
- thường lạc ngã tịnh - là Phật đạo vậy.
Bậc
hạ trí thì miệng siêng niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng
Phật, thân nguyện sanh về nước Phật. Ngày đêm siêng năng
tu hành, không có thối chuyển. Sau khi mạng chung, tùy niệm
thiện đó được sanh về nước Phật. Sau được chư Phật
dạy bảo chánh pháp, chứng được Bồ-đề, cũng vào quả
Phật.
Ba
bậc trên sâu cạn chẳng đồng, chỗ được là một vậy.
Song bậc thượng trí nói thì dễ mà hành thì khó. Người
thời nay muốn theo gương học, toàn không có chỗ gá nương,
trọn trông bờ rồi lui, rất khó đặt chân. Bậc trung trí
nếu hay siêng tu như lời nói ở trên thì tức khắc thành
Phật. Nếu như lậu chưa hết mà lâm chung, tùy quả báo kia
trở lại thọ sanh ở đời, nhận quả báo thiện. Quả
báo thiện đã hết, không có người đánh thức, trở lại
rơi vào đường ác. Như thế đó cũng là khó vậy. Bậc hạ
trí lấy niệm Phật làm nấc thang, lấy tinh tấn làm cây thang,
chú ý duyên lành, nguyện sanh về nước Phật. Siêng năng không
lười biếng, tâm tánh thuần thục, sau khi mạng chung, tùy
theo sở nguyện, được sanh về nước Phật. Đã sanh về nước
Phật thân đó không bao giờ mất.
Người
học thời nay, đã được thân người, ba nghiệp đồng có,
mà chẳng dùng niệm Phật, cầu sanh về cõi Phật, đâu chẳng
khó sao? Như muốn niệm Phật, tức lấy bậc hạ trí làm trước.
Tại sao? - Vì có chú ý vậy. Ví như xây đài ba tầng, mà
chẳng dùng tầng dưới làm trước thì không thể có vậy.
Giảng
“Phàm
niệm Phật là do tâm khởi. Tâm khởi thiện thì niệm thiện,
khởi niệm thiện thì nghiệp báo thiện. Tâm khởi ác là niệm
ác, sanh nghiệp ác thì ứng nghiệp ác. Như gương hiện ảnh,
tợ bóng theo hình. Cho nên Thiền sư Vĩnh Gia nói: ‘ai vô niệm,
ai vô sanh’ là nghĩa này vậy.”
Đây
là mở đầu nói về niệm Phật, Ngài nêu chủ yếu của niệm
cho chúng ta thấy, niệm là tâm dấy khởi, tâm vừa dấy khởi
nghĩ một cái gì đó là niệm. Dấy khởi nhớ danh hiệu Phật
thì gọi là niệm Phật, dấy khởi nhớ chúng sanh thì gọi
là niệm chúng sanh v.v... Dấy khởi nghĩ ác là niệm ác, dấy
khởi nghĩ thiện là niệm thiện. Như vậy tất cả dấy khởi
đều từ tâm mà ra, đó là chủ của nghiệp, cho nên trong
kinh Phật thường nói tam nghiệp: thân, khẩu, ý. Cái dấy
khởi ở nội tâm mình là dấy khởi của ý nghiệp. Như vậy,
khởi niệm là gốc của mọi thiện ác.
Niệm
có thể chia làm ba thứ: niệm ác, niệm thiện và niệm tịnh.
Niệm ác bị dẫn đi đường ác, niệm thiện được dẫn
đến nơi lành, niệm tịnh được dẫn sanh cõi tịnh. Ba niệm
đó đều là niệm hết. Như vậy chúng ta biết rõ do đâu
chúng ta sanh đến đây. Tôi nói xa hơn, trong kinh thường dạy
mười hai nhân duyên, đầu tiên là vô minh, vô minh duyên hành,
hành duyên thức, thức duyên danh sắc v.v... Vô minh là mờ
tối, do vô minh nên khởi nghiệp là hành. Từ có nghiệp nên
dẫn thức đi thọ sanh. Từ thức mới có danh sắc, lục nhập
v.v... Nếu tâm thể chúng ta yên lặng trong sáng bình tỉnh
thì không có vô minh, nhưng khi vừa khởi nghĩ là đã quên
mất cái tâm sáng rồi, mà quên tâm sáng là vô minh. Bởi vô
minh nên mới khởi nghĩ ác, khởi nghĩ thiện, khởi nghĩ tịnh
v.v... Những khởi nghĩ đó là động cơ dẫn mình đi. Vì vậy
nên khi chúng ta sắp chết mà lúc còn tỉnh thì không có nghiệp
ác nghiệp thiện hiện ra, nhưng khi vừa quên cái tỉnh là
vô minh, tức lúc hôn mê nếu khởi nghĩ lành thì ngay đó có
chư thiên hoặc thân nhân quyến thuộc dẫn đi chỗ an vui,
đó là đường lành; nếu khởi nghĩ ác thì thấy ngưu đầu
ngục tốt lấy roi gậy rượt đánh dẫn vào đường ác. Còn
khởi nghĩ tịnh thì nhớ Phật, niệm Phật liền thấy Phật
hay Bồ-tát hiện ra rước về Cực Lạc. Như vậy niệm có
trong khi hôn mê là chủ yếu dẫn mình đi tùy theo niệm ác,
niệm thiện hay niệm tịnh. Cho nên trong nhà Phật dạy chúng
ta khi gần nhắm mắt nên thỉnh quí thầy quí cô cùng thân
quyến đến hộ niệm, hoặc niệm Phật hoặc tụng kinh cho
nghe để khi vừa quên cái tỉnh thì bắt đầu có niệm thiện
dẫn đi. Điều này hết sức quan trọng, vì vậy nên hộ niệm
là ngay lúc đó, còn khi đã đi rồi thì thôi, bốn mươi chín
ngày cũng là phụ. Chỉ ngay lúc lâm chung đang tranh tối tranh
sáng, khi cái tối vừa che mất cái sáng thì tùy khởi niệm
nào liền đi theo niệm đó. Vì niệm khởi là nghiệp, lúc
đó thân không tạo, khẩu không tạo, chỉ có ý nên khi ý
khởi niệm lành nhớ những người hiền hay nhớ cảnh tốt
thì có người hiền cảnh tốt hiện ra, nhớ những người
thù kẻ oán thì người thù kẻ oán hiện ra, nhớ Phật thì
có Phật đến. Niệm đó gọi là hành, vì khi quên mất thân
này, quên mất sự sống này, rồi khởi niệm thiện ác và
theo đó mà đi thọ sanh. Như vậy chúng ta mới thấy cái khởi
niệm trong lúc này hết sức hệ trọng. Vì vậy có người
đặt câu hỏi: “Tôi niệm Phật, khi chết Phật rước về
Cực Lạc, còn quí thầy tu thiền chỉ buông niệm, không có
niệm, khi chết ai rước và đi đâu?” Như vậy quí vị phải
trả lời thế nào? Người niệm Phật được Phật rước
vui quá, còn chúng ta tu thiền nhất là đến chỗ vô niệm
thì ai rước, chẳng lẽ đi lang thang hay sao? Đây là chỗ chúng
ta phải hiểu cho thật rõ: Còn niệm là còn sanh, hết niệm
là vô sanh. Còn rước là còn sanh, không ai rước là vô sanh.
Vô sanh là gì? - Là Niết-bàn. Mục đích chúng ta tu là đạt
đến vô sanh, là Niết-bàn, nên tu đến vô niệm là được
vô sanh. Ngay đời này nhập Niết-bàn còn hơn là về Cực
Lạc phải mất thời giờ tu đến thời gian sau mới được
vô sanh, được Niết-bàn. Như vậy là chúng ta tu tắt. Song
có nhiều người không hiểu cứ nghĩ muốn tu để về sau
hưởng, mà hưởng là phải có sanh mới hưởng, không sanh
làm sao hưởng, nên tưởng không ai rước rồi sẽ lang thang.
Đó là hiểu lầm rồi đâm ra hoảng hốt! Vì vậy chúng ta
nên biết khi niệm dứt sạch yên tĩnh đó là Niết-bàn, là
vô sanh, tự tại tự do không cần ai đón rước. Còn đón
còn rước là còn lệ thuộc, còn bị sanh. Thế nên ngài Vĩnh
Gia nói: “Thùy vô niệm, thùy vô sanh?” Thùy là ai, “Ai vô
niệm, ai vô sanh?” Người tu khi đã đạt đến chỗ vô niệm
vô sanh rồi, lúc đó còn gì phải nói đi đâu, còn gì phải
nói sanh tử, cho nên nói: “Ai vô niệm, ai vô sanh?” Còn niệm
tự nhiên còn sanh nơi này nơi kia, khi niệm dứt rồi thì sanh
tử không còn. Nhưng với các vị Bồ-tát, các ngài không như
chúng ta ưng nhập Niết-bàn sớm. Tại sao vậy? Bởi vì nếu
trong đời này từ một phàm phu tăng chúng ta tu được vô
niệm rồi nhập Niết-bàn, như vậy chúng ta đã an trụ trong
Niết-bàn của Thanh văn. Vì vậy nên cần phải độ sanh đến
khi nào tất cả chúng sanh đều được Niết-bàn rồi chúng
ta mới nhập, đó mới gọi là Bồ-tát hạnh. Thế nên tuy
các ngài đạt đến chỗ vô sanh, nhưng khi gần nhắm mắt
các ngài khởi đại nguyện, nguyện đời sau làm những gì
cho chúng sanh. Do khởi đại nguyện tức khởi niệm nên các
ngài theo nguyện tiếp tục sanh để làm tròn bản nguyện,
chớ không chịu ngang đó dừng nghỉ. Nếu dừng nghỉ thì
không đầy đủ tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Vì
vậy giả sử chúng ta tu đến hết đời này được yên, rồi
muốn nhập Niết-bàn thì không độ được bao nhiêu người.
Thế nên phải nguyện trở lại để độ chúng sanh, mà nguyện
tức là khởi niệm, vì có niệm nên chỗ nào có duyên thì
sanh ra để hóa độ đến khi nào đầy đủ mới thành Phật,
chớ không phải hết niệm liền thành Phật. Hiểu như vậy
mới thấy rõ ý nghĩa của người tu, nếu không nhiều khi
chúng ta tu rồi cứ hoang mang không biết sao cho trúng.
“Nay
học giả muốn khởi chánh niệm để dứt ba nghiệp, cũng
nhờ công niệm Phật. Thế nào là niệm Phật được dứt
ba nghiệp? Vì khi niệm Phật thân ngồi ngay thẳng, không làm
hạnh tà là dứt thân nghiệp. Miệng tụng chân ngôn, chẳng
nói lời tà là dứt khẩu nghiệp. Ý gắng tinh tấn, chẳng
khởi niệm tà là dứt ý nghiệp.”
Ở
đây Ngài nói: “miệng tụng chân ngôn” nghĩa là niệm Phật
cũng như chân ngôn, mà chân ngôn đây không phải là thần
chú, vì chân là chân thật, ngôn là lời nói, lời nói chân
thật là lời niệm Phật. Như vậy Ngài giải thích niệm Phật
là để dứt ba nghiệp: nghiệp thân, nghiệp khẩu và nghiệp
ý. Làm sao niệm Phật dứt được nghiệp thân? Bởi vì khi
niệm Phật thân ngay thẳng, yên tỉnh đó là dứt nghiệp ác
của thân, miệng niệm danh hiệu Phật, chẳng nói lời tà
là dứt nghiệp ác của khẩu. Ý gắng tinh tấn không cho nghĩ
ác nghĩ bậy là dứt tà niệm. Tà niệm dứt là dứt được
ý nghiệp. Như vậy niệm Phật có công năng dứt được ba
nghiệp, nhưng ở đây chúng ta phải hiểu cho rõ: Không
có nghiệp tạo ác nhưng còn có nghiệp tịnh, nên nói cõi
Phật là Tịnh độ. Người muốn được sanh cõi tịnh thì
phải có nghiệp tịnh, tức ý nghiệp thanh tịnh mới
được sanh về cõi Phật. Vì vậy mới có câu: “Tam nghiệp
hằng thanh tịnh, đồng Phật vãng Tây phương.”
“Song
người trí có ba bậc:
Bậc
thượng trí thì tâm tức Phật, chẳng nhờ tu thêm. Niệm tức
là trần, chẳng cho một điểm. Niệm trần vốn tịnh, nên
gọi như như bất động, tức là thân Phật. Thân Phật tức
là thân ta, không có hai tướng. Tướng tướng không hai, lặng
lẽ thường còn, còn mà chẳng biết, đó là Phật sống.”
Ngài
chia niệm Phật làm ba bậc: Thượng trí, trung trí và hạ trí.
“Bậc
thượng trí thì tâm tức Phật, chẳng nhờ tu thêm, niệm tức
là trần, chẳng cho một điểm.” Nghĩa là sao? Tâm an tịnh
trong sáng của chúng ta đó là Phật. An tịnh trong sáng tức
là “tịch tịch tỉnh tỉnh”. Tâm ấy là Phật nhưng vừa
dấy một niệm là đã có bụi, nên nói “niệm tức là trần”.
“Chẳng cho một điểm”. Nghĩa là nó đang thanh tịnh trong
sáng mà dấy niệm tức là có bụi, có bụi là đã mất cái
thanh tịnh trong sáng ấy. Quí vị nhớ trong nhà thiền có câu:
“Mạt vàng tuy quí, rơi vào mắt cũng bị xốn.” Đó là
muốn nói mạt vàng là quí nhưng để rơi vào con mắt một
tí cũng cảm thấy khó chịu, huống nữa là bụi bặm. Bụi
bặm là dụ cho niệm thiện, niệm ác, còn mạt vàng dụ cho
niệm tịnh, tức là niệm Phật. Đối với tâm thể thanh tịnh
trong sáng là đủ, còn thêm một niệm tức là bụi. Thế nên
người tu thiền phải buông hết tất cả niệm, vì còn có
một niệm tức còn một điểm bụi, mà có bụi là chưa hoàn
toàn trong sáng. Chỗ trong sáng đó gọi là tâm tức Phật,
là tánh giác của chính mình.
“Niệm
trần vốn tịnh, nên gọi như như bất động, tức là thân
Phật.” Niệm trần tức là những niệm lăng xăng, nó vốn
tịnh tức yên lặng nên gọi như như bất động. Lúc nó đã
yên, không dấy niệm thì gọi là như như, là bất động,
mà chính chỗ như như bất động là thân Phật.
“Thân
Phật tức là thân ta”: Thân Phật là pháp thân của chính
mình chớ không phải thân báo hay ứng. Bởi vì cái như như
bất động đó đâu có rời mình nên nói thân Phật là thân
ta.
“Không
có hai tướng”: Vì nó không rời mình nên không có hai tướng.
“Tướng
tướng không hai, lặng lẽ thường còn, còn mà chẳng biết,
đó là Phật sống.” Tất cả tướng đều không hai, nhưng
tại sao “lặng lẽ thường còn, còn mà chẳng biết, đó
là Phật sống”? Tôi ví dụ có một phút giây nào trong tâm
quí vị không dấy một niệm mà mắt vẫn sáng, tai vẫn nghe,
tất cả cảm giác đều nguyên vẹn, không mờ không thiếu,
sáng rỡ rõ ràng mà tâm vẫn an tịnh, lặng lẽ như như, đó
là Phật sống. Còn khởi niệm biết mình đang tịnh thì nó
đã động rồi. Các Ngài sống không dấy niệm là sống thường
sáng suốt, hằng giác, hằng tri gọi là Phật sống. Còn chúng
ta vừa có niệm dấy lên thì chạy theo nên tạo nghiệp và
có luân hồi. Nếu vừa được yên một chút liền khởi niệm
mừng là đã mất cái an tịnh. Như vậy ở đây chỉ cho chúng
ta thấy được Phật pháp thân của chính mình. Những giờ
phút yên tĩnh là giờ phút sống với Phật pháp thân, mà Phật
pháp thân luôn hiện hữu chớ không vắng mặt lúc nào, đó
gọi là bậc thượng trí. Niệm Phật như thế thì cả thiền
và tịnh không hai.
“Bậc
trung trí ắt nương niệm Phật. Chú ý chuyên cần, niệm niệm
chẳng quên, tự tâm thuần thiện. Niệm thiện đã hiện niệm
ác liền tiêu. Niệm ác đã tiêu, chỉ còn niệm thiện. Do
niệm là ý niệm, nên niệm niệm diệt đó. Khi niệm diệt
ắt về chánh đạo. Lúc mạng chung được vui Niết-bàn - thường
lạc ngã tịnh - là Phật đạo vậy.” Đây là bậc trung trí
niệm Phật. Trung trí niệm Phật thì niệm cách nào? Người
trung trí niệm Phật thì chú ý chuyên cần, niệm niệm luôn
nhớ Phật không bao giờ quên.
“Tự
tâm thuần thiện”: Nhờ nhớ Phật mãi mãi nên tâm mình hoàn
toàn thiện, không có niệm ác chen vào.
“Niệm
thiện đã hiện, niệm ác liền tiêu”: Tức cái niệm Phật
luôn luôn hiện tiền thì niệm ác phải tiêu, vì niệm không
có hai. Khi chúng ta nghĩ thiện thì không có cái ác, khi nghĩ
ác thì không có cái thiện. Nếu đi đứng nằm ngồi lúc nào
cũng niệm thiện thì niệm ác theo đó tiêu hết.
“Niệm
ác đã tiêu, chỉ còn niệm thiện. Do niệm là ý niệm nên
niệm niệm diệt đó. Khi niệm diệt ắt về chánh đạo.”
Nghĩa là có ý niệm thiện thì ý niệm ác không còn. Đã là
ý niệm thì niệm niệm liên tục, niệm này dấy lên, niệm
kia lặng xuống, nhưng chỉ có niệm thiện. Người được
như vậy “khi niệm diệt ắt về chánh đạo”. Những niệm
đó được yên thì ắt về chánh đạo. Vì vậy trong kinh thường
hay nói niệm đến vô niệm. Niệm này dấy, niệm kia diệt
cho đến bao giờ không còn dấy niệm nữa, tức niệm đến
vô niệm thì lúc đó là chánh đạo.
“Lúc
mạng chung được vui Niết-bàn - thường lạc ngã tịnh - là
Phật đạo vậy.” Về chánh đạo rồi thì lúc mạng chung
được vui Niết-bàn, nghĩa là niệm đến vô niệm là được
Niết-bàn. Niết-bàn thì có đủ bốn đức: thường lạc ngã
tịnh. Đầy đủ bốn đức đó là Phật đạo vậy.
Tóm
lại, ở đây dạy dùng niệm Phật để diệt niệm ác, niệm
ác diệt hết chỉ còn câu niệm Phật, niệm Phật mãi mãi
đến bao giờ câu niệm Phật cũng lặng luôn đến vô niệm,
là Niết-bàn thường lạc ngã tịnh. Như vậy cũng đi đến
chỗ đạt đạo. Đây là bậc trung trí.
“Bậc
hạ trí thì miệng siêng niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng
Phật, thân nguyện sanh về nước Phật. Ngày đêm siêng năng
tu hành, không có thối chuyển. Sau khi mạng chung, tùy niệm
thiện đó được sanh về nước Phật. Sau được chư Phật
dạy bảo chánh pháp, chứng được Bồ-Đề, CŨNG VÀO QUả
PHậT.” BậC Hạ TRÍ THÌ PHảI Đủ BA ĐIềU KIệN: MIệNG
NIệM DANH HIệU Phật, tâm quán tưởng muốn thấy tướng Phật,
thân nguyện được sanh về cõi Phật, cả ba thân, khẩu, ý
đều có chỗ hướng về. Khẩu thì mượn danh hiệu Phật
làm chỗ hướng, tâm thì mượn hình tướng Phật làm chỗ
hướng, thân nguyện sanh về cõi Phật làm chỗ hướng. Như
vậy miệng, thân và tâm đều có chỗ cho mình hướng về.
Ở đây quí vị dạy niệm Phật phải ráng nhớ để thực
hiện cho đúng. Thông thường chúng ta dạy niệm Phật cứ
đưa xâu chuỗi bảo niệm cho nhiều chuỗi, niệm một đêm
được mười chuỗi thì ghi sổ, đến khi nào đủ một muôn
thì đem sổ lại thầy chứng cho. Như vậy chỉ niệm danh hiệu
suông thôi. Nhiều khi quí bà niệm rất nhanh, niệm liên tục
cho xong, nhưng niệm như vậy chừng nào tâm mới yên? Còn ở
đây bảo niệm phải có chỗ tựa, miệng niệm danh hiệu Phật,
tâm phải nhớ Phật, thân nguyện sanh về cõi Phật. Phải
hội đủ ba điều này thì thân khẩu ý mới thuần nhất được.
Nếu chỉ có miệng niệm, còn thân, ý không có thì làm sao
tâm yên. Vì vậy tuy niệm Phật mà khó có kết quả, là do
mình thực hành không đúng. Nếu cả ba hợp tác thì lúc lâm
chung sẽ theo niệm thiện được sanh về cõi Phật, về sau
đủ điều kiện tu hành được quả Bồ-đề, cũng thành Phật
quả. Tóm lại phải có đủ ba điều tín, hạnh, nguyện thì
niệm Phật mới có kết quả. Đó là ý nghĩa ba hạng niệm
Phật.
“Ba
bậc trên sâu cạn chẳng đồng, chỗ được là một vậy.”
Tuy có cao thấp khác nhau, sâu cạn khác nhau, nhưng khi được
thành quả Phật thì không khác.
“Song
bậc thượng trí nói thì dễ mà hành thì khó.” Bậc thượng
trí nói tâm tức Phật nghe rất dễ, nhưng thực hành thật
cay đắng.
“Người
thời nay muốn theo gương học, toàn không có chỗ gá nương,
trọn trông bờ rồi lui, rất khó đặt chân.” Người thời
nay nghe nói bậc thượng trí niệm Phật rất dễ, muốn noi
theo đó tu học, nhưng không chỗ nương gá. Nói tức tâm tức
Phật, biết nương gá vào đâu mà theo, nên “trọn trông bờ
rồi lui”, nghĩa là nhìn thấy bờ cao quá ngán không thể
thực hiện được rồi thối lui, cho nên “rất khó đặt
chân”. Vì vậy rất khó tiến trên con đường đó.
“Bậc
trung trí nếu hay siêng tu như lời nói ở trên thì tức khắc
thành Phật. Nếu như lậu chưa hết mà lâm chung, tùy quả
báo kia trở lại thọ sanh ở đời, nhận quả báo thiện.
Quả báo thiện đã hết, không có người đánh thức, trở
lại rơi vào đường ác. Như thế đó cũng là khó vậy.”
Bậc trung thì niệm cho đến vô niệm, nhưng chưa được vô
niệm liền tịch. Khi tịch mà chưa vô niệm thì đâu được
Niết-bàn. Vì hạng trung trí không có nguyện vãng sanh, chỉ
lấy niệm diệt niệm, đến vô niệm mới nhập Niết-bàn.
Bây giờ không được vãng sanh thì do niệm thiện được sanh
về cõi thiện. Nếu khi sanh về cõi thiện, ra đời không gặp
thiện hữu tri thức nhắc nhở lại quên. Vì vậy chúng ta
thấy nhiều người ở hiện tại có phước, được làm quan
to lại giàu có lớn, nếu vô phước thì đâu được như thế.
Nhưng vì sao họ lại không lương thiện? Là vì xưa kia họ
có lòng tốt, có hành động tốt nên được hưởng phước,
khi hưởng phước họ không có duyên gặp thiện hữu tri thức
nhắc nhở, nên hưởng hết phước rồi, gặp ai xúi làm điều
ác thì làm theo, cho nên hết phước phải đọa trở lại đi
trong đường khổ. Điều này hết sức hệ trọng cần phải
biết là không nên hưởng hết phước và cần phải có thiện
hữu tri thức nhắc nhở để mình tiến lên cho khỏi đọa.
Quí vị thấy có những người giàu sang sung sướng mà bị
bạn bè lôi vào chỗ ác, nhưng cũng có những người giàu
sang sung sướng lại vẫn biết tu. Trong hai hạng người trên
đều có phước, nhưng sao một người biết tu, còn một người
lại làm ác? Đó là điều tôi muốn nhắc cho tất cả hiểu.
Phật dạy Phật tử làm lành, nhưng phải qui y Tam Bảo. Tại
sao phải qui y Tam Bảo? Nghĩa là chúng ta phải đối trước
Phật, Pháp, Tăng hứa nguyện đời đời hướng theo con đường
Phật pháp để tu hành đến khi thành Phật mới thôi. Do có
nguyện đó, nên qui y Tam Bảo là cái duyên tốt để mình gieo
trong đời này và mãi những đời sau được gặp thiện hữu
tri thức nhắc nhở mình. Vì qui y không phải chỉ có Phật
mà còn Pháp và Tăng. Tăng thì đâu chắc đời này nhập Niết-bàn
mà còn đáo đi trở lại bao nhiêu đời nữa. Giả sử đời
này có người qui y với tôi, nếu tôi chết đi và tái sanh
trở lại thì người đó đã có duyên với tôi, nên khi gặp
lại tôi dễ nhắc dễ độ họ. Đó là có thiện hữu tri
thức nhắc nhở nên không quên, không mất giống lành. Còn
những người đời này có phương tiện làm lành, nhưng không
qui y Tam Bảo, nên không gặp thiện hữu tri thức, vì vậy
có ai xúi làm quấy làm ác thì họ làm theo, rồi tạo tội
và phải đọa. Thế nên, duyên thiện hữu tri thức đời sau
cũng rất thiết yếu. Đời này đã thiết yếu, đời sau lại
càng thiết yếu hơn, cho nên Phật dạy người Phật tử phải
nhớ qui y Tam Bảo. Có qui y Tam Bảo mới thành Phật tử. Thật
ra nếu chúng ta làm lành, làm phước đều được hưởng phước,
nhưng có khác là có người được hưởng phước mà không
có thiện hữu tri thức nhắc nhở, còn người được hưởng
phước lại có thiện hữu tri thức nhắc nhở, nên không quên
duyên cũ và tiến lên mãi không dừng. Vì vậy nên nói rằng
do mình hưởng hết phước mới thọ quả báo ở đời sau.
Như vậy quí vị mới thấy qui y Tam Bảo là việc rất quan
trọng đối với người mới phát tâm. Nhờ phát tâm qui y
trước Tam Bảo chúng ta mới được nương theo Phật, nương
theo chánh pháp và có những bậc thầy làm thiện hữu tri thức
chỉ dạy cho mình đường lối tu trong hiện tại, đến khi
nhắm mắt đời sau gặp lại, do có duyên thầy trò nên sớm
gặp được người nhắc nhở. Như vậy đời đời đi mãi
trong chánh pháp cho đến kết quả cuối cùng là thành Phật
mới thôi. Nếu không có người đánh thức, đời này nhiều
khi hiểu đạo chút ít, nhưng đời sau trở lại có thể sẽ
làm ác làm dữ.
“Bậc
hạ trí lấy niệm Phật làm nấc thang, lấy tinh tấn làm cây
thang, chú ý duyên lành, nguyện sanh về nước Phật. Siêng
năng không lười biếng, tâm tánh thuần thục, sau khi mạng
chung, tùy theo sở nguyện, được sanh về nước Phật. Đã
sanh về nước Phật thân đó không bao giờ mất.” Như vậy
bậc hạ trí có chỗ tựa vững chắc hơn, vì miệng niệm
danh hiệu Phật, tâm nhớ hình tướng Phật, thân nguyện sanh
về cõi Phật, nên khi nhắm mắt có chỗ qui hướng. Hướng
về đó rồi, được sanh về nước Phật tiếp tục tu hành,
không mất hột giống lành. Còn chúng ta nếu chưa được sanh
về nước Phật, nhớ phải qui y Tam Bảo để sanh nơi nào
cũng được có thiện hữu tri thức nhắc nhở, tránh khỏi
rơi vào đường ác.
Kết
thúc lại Ngài nhắc nhở:
“Người
học thời nay, đã được thân người, ba nghiệp đồng có,
mà chẳng dùng niệm Phật, cầu sanh về cõi Phật, đâu chẳng
khó sao?” Người tu đời này nếu không dùng niệm Phật cầu
sanh nước Phật thì việc tu cũng hơi khó.
“Như
muốn niệm Phật, tức lấy bậc hạ trí làm trước. Tại
sao? - Vì có chú ý vậy.” Nếu tu về niệm Phật thì phải
tu theo bậc hạ trí, vì có chỗ cho mình nhắm đến.
“Ví
như xây đài ba tầng, mà chẳng dùng tầng dưới làm trước
thì không thể có vậy.” Như vậy trong ba cách niệm Phật,
chỉ có cách dưới là dễ hơn hết, vì có chỗ tựa và bảo
đảm đời sau sanh ra gặp Phật, ở nước Phật không thối
chuyển, còn hai cách trên thì khó hơn.
Qua
bài này tôi cũng muốn nói cho quí vị thấy rõ tinh thần Thiền
tông đời Trần. Từ ngài Trần Thái Tông về sau, các ngài
tu Thiền mà không chống niệm Phật, tức không chống Tịnh
độ. Ngược lại còn chỉ cho chúng ta cách tu Tịnh độ thế
nào cho hợp lý, cho đúng pháp. Như vậy Tịnh độ và Thiền
hòa hợp chớ không chống đối. Chúng ta thấy tinh thần các
vị Thiền sư đời Trần không những là ở trong pháp niệm
Phật và pháp tu Thiền, mà còn dung hòa luôn cả Khổng giáo,
Lão giáo, không chia rẽ, không đối nghịch. Lấy Thiền tông
làm chỗ tựa để dung hợp Lão, Khổng thành một nhà. Đó
là để cho chúng ta thấy người tu không đặt ai là kẻ thù,
không thấy ai là người đáng cho mình chống đối, mà phải
cùng chung hòa hợp để mình và mọi người đều tiến tu
không thối chuyển. Như vậy quan niệm rộng rãi bao dung của
Thiền tông đời Trần chứng tỏ các ngài đã vượt qua chỗ
riêng tư của mình, mà trong nhà Phật gọi là “cuộc”, cuộc
là chấp. Cũng như chúng ta ngồi trong nhà nhìn ra bốn phương,
chúng ta chỉ thấy bốn phương qua cửa sổ, cửa cái mở.
Nếu thấy qua cửa sổ, cửa cái thì cái thấy bị hạn chế,
nên gọi là cuộc. Nếu chúng ta bước ra khỏi nhà, đứng
ngoài trời nhìn bốn phương, thì chúng ta không bị vật gì
ngăn cách, đó là thông. Người tu khi đến chỗ thấy tâm
mình tức Phật, thì ai không có tâm? Nếu ai cũng có tâm thì
ai cũng có Phật. Dầu người tu theo Khổng giáo cũng có Phật,
người tu theo Lão giáo cũng có Phật và chúng ta tu theo Phật
cũng có Phật. Ai cũng có Phật thì đều giống nhau. Không
thể ông Phật này khác ông Phật kia được, nếu khác thì
không phải là Phật. Cho nên nói Phật, Phật đạo đồng,
Phật Phật không khác. Như vậy ai cũng có Phật tánh thì có
ai đáng cho mình thù ghét đâu. Chẳng lẽ Phật lại ghét Phật,
Phật thù Phật sao? Vì vậy đối với mọi người dù không
tu theo đạo Phật, cũng thấy họ có Phật. Đã thấy họ có
Phật thì không thể ghét họ được. Vậy muốn cho ông Phật
mình sống trọn vẹn là Phật thì thấy Phật nào mình cũng
quí. Cho nên ngài Bồ-tát Thường Bất Khinh nói một câu rất
hi hữu: “Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ
thành Phật.” Không dám khinh tức là phải trọng, phải quí.
Còn thù ghét là không trọng không quí. Hiểu được chỗ này
mới thấy tinh thần đạo Phật tràn khắp. Lâu nay chúng ta
chỉ nói theo thế gian là tất cả nhân loại đều là đồng
loại nên phải thương nhau. Nói như vậy nghe cũng tốt, nhưng
chỗ này nếu nói theo Thiền tông thì nhân loại đều là Phật.
Đã là Phật thì không dám khinh ai, không dám ghét ai. Nếu
có thương có ghét thì ông Phật của mình đã ẩn mất. Tôi
nhắc cho quí vị biết rằng chúng ta tu không phải cố gắng,
không phải dằn ép, không phải dẹp bỏ mà phải nhìn cho
tường tận ai cũng có tánh giác. Mình biết mình có tánh giác
hiện hữu, thì tánh giác của người cũng thật có hiện hữu,
nhưng khác nhau chăng chỉ là một bên biết và tìm mọi cách
khai thác được sáng tỏ, còn một bên không biết thì có
tánh giác mà vẫn để mờ mịt, tối tăm. Vì vậy mình không
nên khinh khi ai, cũng không dám giận ai, vì người nào cũng
đáng quí hết thì giận sao được. Có giận ghét là hết
quí rồi. Như vậy sống trong đời này chúng ta mới thấy
tâm mình bình đẳng đối với tất cả chúng sanh, nếu không
thì sẽ phân biệt người này hay, kẻ kia dở. Từ cái phân
biệt đó lại sanh ra nhiều bệnh chướng khác. Chỉ một câu
của ngài Bồ-tát Thường Bất Khinh mà chúng ta tu suốt đời
không xong. Thấy được như vậy thì sống trong cuộc đời
không có phiền não, những cái xấu, cái dở chỉ là bụi
che lấp gương, lau đi sẽ hết. Hiểu được ý này quí vị
mới thấy được tinh thần của các vị Thiền sư ngày xưa
đối với mọi người, hoặc thấy tinh thần của các vị
Bồ-tát nhìn chúng sanh một cách rộng mở bao dung, chớ không
như cái nhìn phàm tục rồi gây phiền não cho nhau.