LUẬN
GƯƠNG TUỆ GIÁO
Dịch
Tuệ
sanh từ sức định. Nếu tâm định thì gương tuệ sanh, nếu
tâm loạn thì gương tuệ diệt. Cũng như chiếc gương bằng
đồng trước phải nhờ mài giũa, sau mới trong sạch soi sáng.
Nếu chẳng mài giũa thì tỳ vết bụi nhơ phủ tối. Đã bị
bụi nhơ phủ thì ánh sáng làm sao mà sanh? Cho nên trí tuệ
do định hiện, định tuệ nương nhau không thể thiếu một.
Nếu
mượn danh tọa thiền, tâm chưa được định mà gương tuệ
sanh thì không bao giờ có. Tuy có tánh tuệ mà không tập tọa
thiền, tự cho đã có tuệ thì cần tọa thiền làm gì? Người
như thế, tuy có tuệ mà không gương thể. Nếu khi thiền định,
tâm chưa được định mà muốn cầu tuệ, ví như sóng gió
chưa dừng mà mong thấy bóng mặt trăng. Nếu tâm đã định
lại sanh tà giải, cầu mong được tuệ, cũng như sóng gió
đã lặng, bóng trăng lóng trong mà lại lấy tay vớt trong nước
muốn được bóng mặt trăng, khi nào được thấy.
Tổ
sư nói: “Tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch.”
Lại nói: “Tịch tịch tỉnh tỉnh phải, tịch tịch vô ký
sai. Tỉnh tỉnh tịch tịch phải, tỉnh tỉnh loạn tưởng
sai.” (Trong chánh văn “Tịch tịch tỉnh tỉnh thị vô ký,
tỉnh tỉnh tịch tịch thị loạn tưởng”. Nguyên bản của
Thiền sư Huyền Giác “Tịch tịch tỉnh tỉnh thị, tịch
tịch hôn trầm phi. Tỉnh tỉnh tịch tịch thị, tỉnh tỉnh
loạn tưởng phi”. Có lẽ ở đây in sót mấy chữ.) Tỉnh
tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh là thuốc, vô ký
loạn tưởng là bệnh. Nếu thân có bệnh phải nhờ thuốc
đối trị, thân đã bình định còn gì phải trị. Nếu được
như thế thì định tuệ thành tựu.
Giảng
“Tuệ
sanh từ sức định... định tuệ nương nhau không thể thiếu
một.” Đây là đoạn đầu ngài Trần Thái Tông nói về gương
trí tuệ. Trí tuệ từ đâu mà có, tức là trí tuệ từ sức
định, do định mà có tuệ. Nếu không có giới thì khó được
định, nếu không có định, không thể phát tuệ. Thế nên
giới định tuệ có sự liên quan mật thiết, nếu thiếu một
chúng ta khó thực hiện được trí tuệ cao siêu.
“Nếu
tâm định thì gương tuệ sanh, nếu tâm loạn thì gương tuệ
diệt.” Ở đây Ngài ví dụ tuệ như cái gương. Gương sáng
là nhờ đâu, tức nhờ trong sạch nên gương sáng. Nếu gương
bị bụi phủ, hay bị những vết hằn trên mặt gương, chúng
ta sẽ không thấy gương sáng được. Ví dụ tâm chúng ta loạn
tưởng nhiều, đó là những bụi làm nhơ gương trí tuệ của
mình. Vì vậy định là phương tiện để gương trí tuệ sáng.
Muốn được sáng suốt, trước hết tâm phải an định, từ
tâm an định mới phát ra trí tuệ. Nếu tâm không an định
mà muốn được trí tuệ không bao giờ có. Thế nên, chúng
ta phải ngồi thiền nhiều là phương tiện để tâm an định,
từ tâm an định chúng ta mới có trí tuệ sáng suốt thấy
được lẽ thật ở nơi mình và ở ngoại cảnh. Vì vậy,
trí tuệ không phải tự có mà nhờ tâm an định mới phát
ra.
“Cũng
như chiếc gương bằng đồng trước phải nhờ mài giũa, sau
mới trong sạch soi sáng. Nếu chẳng mài giũa thì bụi nhơ
phủ kín.” Đây nói gương bằng đồng chớ không phải gương
pha lê. Gương bằng đồng có khi chúng ta thấy nó sáng, có
lúc thấy tối. Vì sao? Gương sáng là nhờ có mài giũa, do
mài giũa cho hết tỳ vết để gương được phẳng, có phẳng
gương mới sáng, nhưng nếu không giữ để bụi bặm phủ
lấp thì gương vẫn tối như thường.Vì vậy trước có công
phu mài giũa, kế phải giữ gìn gương mới trong, gương trong
thì được sáng. Gương trí tuệ của chúng ta cũng vậy, trước
phải cố gắng dẹp bỏ vô minh phiền não, rồi gìn giữ
không cho loạn tưởng. Hội đủ hai điều này thì trí tuệ
chúng ta sẽ được sáng. Đó là ý nghĩa dụ trí tuệ như
gương.
“Đã
bị bụi nhơ phủ thì ánh sáng làm sao mà sanh? Cho nên trí
tuệ do định hiện, định tuệ nương nhau không thể thiếu
một.” Nghĩa là gương bị bụi nhơ phủ kín thì làm sao có
ánh sáng. Cũng vậy, nếu tâm loạn tưởng thì trí tuệ không
thể sanh. Trí tuệ sanh là do có sức an định. Nhưng ở đây
nói theo lối nhìn của Nhị thừa, luôn luôn đặt trước có
giới, sau có định, rồi mới có tuệ. Nếu nhìn theo tinh thần
của Lục Tổ thì định tuệ bình đẳng. Định và tuệ không
tách rời nhau, có định tức có tuệ, có tuệ tức có định.
Tại sao vậy? Vì đối với Thiền tông chúng ta không phải
đợi tâm an định viên mãn mới phát ra trí tuệ. Nếu vậy
thì định trước tuệ sau, mà Thiền tông nói định và tuệ
đồng thời, trong định có tuệ, trong tuệ có định, hai cái
không tách rời nhau được. Do đâu để chứng nghiệm điều
này. Thí dụ hằng ngày chúng ta ngồi thiền thấy vọng không
theo. Vọng dấy là động, mình biết nó, nó lặng xuống, thì
cái biết vọng là tuệ, vọng lặng là định. Dó đó không
phải đợi khi tâm an định hoàn toàn chúng ta mới có tuệ,
mà chính khi nó đang dấy động chúng ta vẫn có trí tuệ thấy
biết, không theo thì được an. Hiểu như vậy mới biết tinh
thần Thiền tông mà Lục Tổ đã nói là Định Tuệ bình đẳng.
Nếu vọng dấy lên chúng ta thấy thì cái thấy vọng để
không theo đó là tuệ. Nhưng khi vọng lặng hết không còn
nữa thì lúc đó tuệ đang ở đâu? - Tuệ ở chỗ biết vọng
đang yên. Như bây giờ không có vọng thì ai biết không vọng?
Khi vọng dấy lên nó biết, khi không vọng nó cũng biết, thì
cái biết trước là tuệ, cái biết sau cũng là tuệ. Hiểu
cho thật kỹ mới rõ được ý nghĩa tu thiền. Nếu không hiểu
cứ cố gắng kềm cho nó yên, khi nó yên lại hoảng hốt lên
tưởng mình đâu mất rồi. Khi có vọng tưởng mình còn thấy,
bây giờ vọng lặng hết sao không thấy gì. Như vậy tưởng
là mất sạch không còn tâm tri giác, nhưng không ngờ khi vọng
yên rồi, thì thấy rõ vọng yên, mà thấy rõ vọng yên là
cái gì thấy? - Đó là trí tuệ thấy.
Thế
nên tôi thường hay dẫn câu chuyện của vị Tổ thứ mười
tám ở Ấn Độ là Tổ Già-da-xá-đa. Một hôm, Ngài đi hóa
đạo ngang qua một vùng nọ, có người Bà-la-môn tên Cưu-ma-đa-la
(sau này là vị Tổ thứ mười chín) thấy Ngài bèn đến hỏi:
“Ngài tu theo đạo nào mà có đức hạnh đáng kính như thế?”
Ngài nói: “Tôi tu theo đạo Phật.” Người Bà-la-môn nghe
Ngài nói tu theo Phật, ông hoảng sợ, chạy về nhà đóng kín
cửa lại. Tổ biết người này có duyên, về sau sẽ làm được
Phật sự lớn, nên Tổ theo tới nhà. Đến nơi, thấy cửa
đóng kín, Tổ bước lại gõ cửa, gõ mãi ông vẫn làm thinh.
Sau cùng, ở bên trong ông nói vọng ra: “Trong nhà không có
người.” Tổ liền hỏi: “Không có người, vậy ai trả
lời đó?” Nghe Tổ nói như vậy, ông mới giựt mình mở
cửa ra đón Tổ. Câu chuyện này nghe qua như chuyện đùa, nhưng
có một ý nghĩa thâm trầm mà chúng ta không biết. Thường
chúng ta cứ nghĩ khi vọng tưởng lăng xăng nghĩ việc này
đến việc khác, lúc đó nói tâm mình đang nghĩ, đang suy tính,
nhưng có một phút giây nào tâm lặng xuống không nghĩ suy
nữa, lại hoảng hốt tưởng như mất mình, mình không còn
nữa. Cũng giống như người Bà-la-môn kia đóng cửa, khi nghe
tiếng gõ cửa lại trả lời không có người ở nhà. Vậy
câu nói “không có người ở nhà” đó có tánh cách ra sao?
Quả là dốt! Nghĩa là ông đã lên tiếng mà nói không có
người thì chỉ có người ngu dốt mới như vậy. Nhưng thật
tình chúng ta cũng giống như ông Bà-la-môn kia. Khi tâm lăng
xăng thì cho là có tâm, đến lúc tâm yên lặng nói tôi không
có tâm nữa, mất tôi rồi. Vậy ai biết tâm yên lặng, ai
biết mất tôi? Đã biết nói “mất tôi” là có người biết
nói, mà có biết nói tức có mình chớ có mất đâu? Nếu
mất tôi thì không có cái biết, còn biết mất tôi là có
mình rõ ràng. Đó là việc rất tế nhị mà người tu có khi
không hiểu, từ chỗ không hiểu mà tu ít lâu rồi hoảng sợ
mình tu sai, sợ rơi vào không. Bởi vì khi không có vọng tưởng
lại tưởng là không ngơ, nhưng không ngờ không vọng tưởng
mà có “cái biết không vọng tưởng”. Biết không vọng
tưởng thì làm sao nói “không” được? Đó là ý nghĩa trong
nhà thiền thường nói Định Tuệ không rời nhau. Tóm lại,
khi định còn có cái biết mình an định đó là tuệ, nếu
không có cái biết, làm sao biết lúc đó tâm an định. Chỗ
này quí vị cần phải thấy rõ để khỏi lầm lẫn. Vì vậy
định và tuệ không thể thiếu trong lúc chúng ta tu thiền.
“Nếu
mượn danh tọa thiền, tâm chưa được định mà gương tuệ
sanh thì không bao giờ có.” Câu: “mượn danh tọa thiền”,
nguyên chữ Hán là “giả danh toạ thiền”. Ở đây Ngài
muốn nói cho chúng ta hiểu rõ chữ “TUỆ”. Như trong kinh
thường nói mỗi chúng sanh đều có tánh giác, hay đều có
Phật tánh, tức là có trí tuệ sẵn nơi chúng ta, tuy có trí
tuệ sẵn nhưng nếu tâm chưa an định thì trí tuệ không phát
sanh được. Đây tôi phân tích cho quí vị hiểu rõ nghĩa hai
chữ trí tuệ sanh và trí tuệ sẵn. Trí tuệ sẵn là trí tuệ
thầm biết, lúc nào cũng hằng hữu nơi chúng ta, trí tuệ
đó gọi là tánh tuệ. Tuy có tánh tuệ nhưng nếu không nhờ
tọa thiền để tâm an định thì tánh tuệ không phát khởi
mạnh nên không sanh tuệ. Như vậy là có tánh tuệ mà không
có diệu dụng, không có hiện tướng của trí tuệ. Người
tu thiền sẽ thấy rõ điều này. Vì vậy chúng ta thường
nghe nói tu thiền sẽ có giác ngộ, việc này không gì lạ.
Vì trong khi tu, những gì chúng ta học hoặc đọc trong kinh
chưa hiểu, lòng còn băn khoăn, thắc mắc, ôm ấp nghi ngờ,
bất chợt một hôm nào đó ngồi thiền tâm được yên, bỗng
dưng sáng ra, thông suốt được là do trí tuệ phát khởi hay
trí tuệ sanh. Trí tuệ phát sanh này do tâm yên sáng, phát ra
diệu dụng làm chúng ta hiểu biết cụ thể những vấn đề
chưa hiểu. Do đó trí tuệ sanh là cái diệu dụng hay cái hiện
tướng của trí tuệ sẵn hay tánh tuệ. Cho nên nói:
“Tuy
có tánh tuệ mà không tập tọa thiền, tự cho đã có tuệ
thì cần tọa thiền làm gì? Người như thế, tuy có tuệ mà
không gương thể.” Nghĩa là tuy có trí tuệ sẵn mà gương
thể của trí tuệ không hiện. Như cái gương bị bụi
bặm phủ, nên tuy có gương mà không có ánh sáng của gương,
phải nhờ lau bụi ánh sáng mới phát. Đây là trường hợp
chỉ người tự ỷ mình có tánh tuệ không cần tọa thiền
thì tuệ không phát sanh.
“Nếu
khi thiền định, tâm chưa được định mà muốn cầu tuệ,
ví như sóng gió chưa dừng mà mong thấy bóng mặt trăng.”
Thí dụ như đêm rằm, chúng ta ở gần bờ hồ hoặc gần
dòng sông, khi có gió mạnh sóng to, dù có trăng nhưng nhìn
xuống sông, hồ chúng ta có thấy được bóng mặt trăng không?
Vì có sóng mặt nước không yên, nên nhìn không thấy được
bóng mặt trăng. Cũng như trường hợp trên, tuy biết mình
có tuệ sẵn tức là có tánh tuệ, nhưng vẫn phải ngồi thiền
cho tâm được định thì trí tuệ mới phát sanh. Như khi sóng
gió lặng thì đêm rằm nhìn xuống mặt hồ, mặt sông, chúng
ta sẽ thấy mặt trăng hiện đầy đủ.
“Nếu
tâm đã định lại sanh tà giải, cầu mong được tuệ, cũng
như sóng gió đã lặng, bóng trăng lóng trong mà lại lấy tay
vớt trong nước muốn được bóng mặt trăng, khi nào được
thấy.” Đây là trường hợp tâm được định lại khởi
tà giải. Tà giải là hiểu không đúng chân lý hay hiểu thiên
lệch một bên. Nếu khởi hiểu thiên lệch thì cái định
bị xao xuyến. Thí dụ: Chúng ta nghe trong kinh Phật dạy, những
người tu chứng A-la-hán có lục thần thông trong đó có túc
mạng thông là biết được quá khứ vị lai, nhớ được vô
số đời trước và biết những đời sau. Vì vậy khi ngồi
thiền tâm vừa được yên, chúng ta liền khởi nghĩ muốn
được thần thông để biết quá khứ vị lai của mình của
người, hoặc khởi niệm xuất hồn để đi du lịch chỗ này
chỗ kia. Khi khởi niệm tâm liền xao xuyến không còn yên nữa.
Giống như đêm rằm ở dưới dòng sông hay dưới mặt hồ
không có sóng, nhìn xuống thấy bóng mặt trăng vội đưa tay
vớt bóng, đã không nắm bắt được, lại làm xáo động
mặt hồ và mất bóng mặt trăng. Vì vậy khi tâm được định
cứ để định, trí sáng cứ để sáng, tâm càng định trí
càng sáng. Đến khi nào tất cả phiền não lậu tận sạch
rồi thì tự sáng, biết được quá khứ vị lai, nếu khởi
niệm muốn biết là lạc, là sai. Đó là để nói người tu
thiền mà sanh tà giải thì từ đó trí tuệ mất luôn không
còn hiện nữa. Vì vậy có nhiều người rất thích tu thiền,
nhưng trong khi tu lại khởi những niệm sai lầm nên bị dẫn
đi lạc hướng, rồi từ đó mất hết trí tuệ chân thật,
là do không hiểu được gốc của sự tu.
“Tổ
sư nói: ‘Tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch.’
Lại nói: ‘Tịch tịch tỉnh tỉnh phải, tịch tịch vô ký
sai. Tỉnh tỉnh tịch tịch phải, tỉnh tỉnh loạn tưởng
sai.’ Tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh là thuốc,
vô ký loạn tưởng là bệnh. Nếu thân có bệnh phải nhờ
thuốc đối trị, thân đã bình định còn gì phải trị. Nếu
được như thế thì định tuệ thành tựu.” Đây là Ngài
dẫn lời của ngài Vĩnh Gia Huyền Giác trong bộ Vĩnh Gia Tập,
để làm tiêu chuẩn cho người tu thiền đúng và sai. Đầu
tiên nói: “Tịch mà thường chiếu, chiếu mà thường tịch.”
Tịch là lặng, chiếu là soi sáng. Lặng mà thường soi sáng,
soi sáng mà thường lặng lẽ. Đó là trọng tâm của tu thiền.
Bây giờ dẫn câu nói rõ ràng về đúng và sai của người
tu thiền là: “Tịch tịch tỉnh tỉnh phải.” Tức lặng
lặng mà tỉnh tỉnh, đó là ngồi thiền đúng. Khi ngồi thiền
tâm yên mà luôn luôn tỉnh sáng là đúng. Ngược lại: “Tịch
tịch vô ký sai.” Vô ký tức không nhớ không biết. Lặng
lặng mà không biết gì đó là sai. Đây là cây thước để
đo người tu thiền đúng và sai. Nếu ngồi thiền được yên
tĩnh, tâm không dấy động mà vẫn tỉnh sáng, đó là tịch
tịch tỉnh tỉnh, là đúng. Nếu ngồi yên tĩnh mà không biết
mình đang làm gì, đó là vô ký, là sai. Đúng hay sai chỉ do
lệch một chút đó. Nếu tịch mà tỉnh là đúng, tịch mà
quên hết là sai. Ngược lại: “Tỉnh tỉnh tịch tịch phải,
tỉnh tỉnh loạn tưởng sai.” Ngồi thiền mà luôn luôn tỉnh
sáng, có gió thổi, có tiếng động đều nghe, ai đi qua trước
mặt cũng thấy v.v... Tỉnh như vậy mà tâm vẫn lặng lẽ
là đúng. Nếu tỉnh mà cứ nghĩ chuyện này chuyện kia luôn,
là sai. Đây là tỉnh tỉnh mà loạn tưởng thì sai. Như vậy
chúng ta hãy kiểm tra lại mình sai ở chỗ nào, chắc hầu
hết là tỉnh tỉnh mà loạn tưởng. Đó là chưa đúng tinh
thần thiền. Chúng ta phải nắm vững được điều này, để
khi tu tự biết lúc nào đúng, lúc nào sai. Nếu không biết
nhiều khi cứ ngồi để mặc nó ra sao thì ra là không được,
là đưa đến sai lầm. Vì vậy người tu thiền cần phải
học hiểu cho cẩn thận, không nên để sai lệch, vì nếu
mình tu đã lệch rồi hướng dẫn người khác cũng sẽ lệch
theo luôn. Thế nên trong kinh thường nói thầy mù dẫn một
đám mù, người đi trước mù, những người đi theo cũng mù
luôn, rốt cuộc rơi xuống hố không ai cứu được. Bởi vậy
muốn hướng dẫn người đi, trước chúng ta phải sáng, nếu
còn mù thì không nên làm. Nhưng nhiều người có thiện chí
tối đa, tuy mình còn mù mà cũng muốn dẫn người đi, cho
nên không sao tránh khỏi rơi vào những tệ nạn. Vì vậy chúng
ta phải hiểu cho thật kỹ điều này.
Đây
tôi chỉnh lại câu này theo trong quyển của ngài Trần Thái
Tông, không biết do người xưa hay người sau này viết sai.
Nguyên văn chữ Hán của ngài Huyền Giác là: “Tịch tịch
tỉnh tỉnh thị, tịch tịch hôn trầm phi. Tỉnh tỉnh tịch
tịch thị, tỉnh tỉnh loạn tưởng phi.” Ở đây trong chánh
văn lại nói: “Tịch tịch tỉnh tỉnh thị vô ký, tỉnh tỉnh
tịch tịch thị loạn tưởng.” Hai câu này tôi cho là lộn,
vì trong khi sắp bản in có thể sai, chớ nguyên bản chữ Hán
là “Tịch tịch tỉnh tỉnh thị, tịch tịch hôn trầm phi.
Tỉnh tỉnh tịch tịch thị, tỉnh tỉnh loạn tưởng phi.”
Những câu này tôi đã đọc kỹ trong Vĩnh Gia Tập, nên đây
tôi chỉnh lại cho quí vị so sánh để khỏi hiểu lầm bên
chữ Hán.
Kết
luận bài Luận Gương Tuệ Giáo chủ yếu ngài Trần Thái Tông
muốn khuyến khích tất cả chúng ta tu phải nhờ thiền định
để phát sanh trí tuệ. Mặc dù trong kinh Phật dạy mỗi người
chúng ta đều có tánh giác, tức là tánh tuệ đã sẵn, nhưng
nó bàng bạc ở con người chúng ta. Vì vậy phải nhờ tọa
thiền đúng cách, đúng pháp thì tánh giác mới phát khởi
diệu dụng để thấy biết thân và cảnh đúng như thật được.
Nếu không toạ thiền, chúng ta khó có được diệu dụng của
tánh giác, nghĩa là trí tuệ không phát. Như vậy người tu
thiền phải tránh hai bệnh:
1.
Tự ỷ có tánh giác rồi cứ đi ngao du nơi này chốn nọ mãi
mà không cần tọa thiền, vì nghĩ nó đã có sẵn cần gì
phải tọa thiền cho mất thời giờ. Đó là bệnh. Tuy có tánh
giác hay đã nhận ra mình có tánh giác, nhưng chưa có diệu
dụng, nhờ tâm an định mới phát khởi diệu dụng. Muốn
tâm an định phải nhờ tọa thiền. Vậy nên tánh giác tuy
có nhưng nếu không tọa thiền thì cũng không phát khởi.
2.
Tuy tọa thiền tâm được an định lại sanh tà giải, khi khởi
niệm tà, tâm định liền mất lại rơi vào loạn tưởng.
Cũng giống như người thấy bóng mặt trăng dưới hồ, vội
đưa tay vớt, dầu có vớt suốt ngày cũng không nắm được
bóng mặt trăng.
Phần
cuối là nương theo ý Tổ dạy dùng làm thước để đo người
tu thiền biết đúng hay sai. Nếu tọa thiền tâm yên lặng
mà vẫn sáng suốt thấy nghe không lầm, gọi là tịch tịch
tỉnh tỉnh là đúng với người tu thiền. Nếu khi tọa thiền
tâm yên một lúc rồi quên hết không biết gì nữa, đó là
tịch tịch mà vô ký. Đây là bệnh. Vì vô ký sẽ đi đến
hôn trầm. Như vậy vô ký và hôn trầm gần kề với nhau.
Cho nên nói ngồi thiền mà nhắm mắt che tròng là ở trong
hang quỉ. Vì khi mình mờ mờ mịt mịt rồi không biết gì
hết, đó là sai lầm. Khi ngồi thiền rất tỉnh sáng mà không
có vọng tưởng gọi là tỉnh tỉnh tịch tịch. Chữ Tịch
nghĩa là Định, chữ Tỉnh nghĩa là Tuệ. Như vậy định và
tuệ không rời nhau. Trí tuệ hằng sáng mà tâm vẫn an định
đó là đúng. Nếu tỉnh mà loạn tưởng là sai. Chúng ta hãy
lấy đây làm cây thước đo để biết mình ngồi thiền đúng
hay sai. Vì có người tu mà không được gần thầy hướng
dẫn, nên tu mà không biết đúng hay sai, có lạc hay không lạc.
Vì thế để nhắc cho quí vị hiểu rõ, trong khi tu chúng ta
có thể nương những bài này tự làm thước đo để biết
mình tu đúng hay sai không cần phải hỏi ai nữa cả.