LUẬN
VỀ GIỚI ĐỊNH TUỆ
Dịch
Phàm
tất cả người tu hành đều do hai việc: chán sanh, tử. Bỏ
cha mẹ, vợ con, xuất gia cầu đạo, phụng thờ đức Phật
làm thầy. Noi theo đường tắt của chư Phật, chỉ có kinh
mà thôi. Song trong kinh nói ra, duy giới, định, tuệ. Luận
Giải Thoát nói: “Giới, định, tuệ gọi là đạo giải thoát.”
Giới là nghĩa oai nghi. Định là nghĩa chẳng loạn. Tuệ là
nghĩa giác tri. Lấy giới để trừ ác cấu. Lấy định để
trừ triền cấu. Lấy tuệ để trừ sử cấu. Cho nên dùng
giống thiện này (giới - định - tuệ) mà theo đạo, gọi
là: sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Giới là sơ thiện,
định là trung thiện, tuệ là hậu thiện. Giới là sơ thiện
là, vì tinh tấn trì giới thành tựu bất thối nên mừng.
Vì mừng nên nhảy nhót, vì nhảy nhót nên cử động, vì cử
động nên vui, vì vui nên tâm không định. Định là trung thiện
là, do thân cử động nên dừng, do dừng nên tâm trụ, do tâm
trụ nên thấy biết như thật, đây là trung thiện. Tuệ là
hậu thiện là, do thấy biết như thật nên chán ghét, do chán
ghét nên lìa dục, do lìa dục nên giải thoát, gọi là hậu
thiện.
Vì
thế dùng giới trừ ác thú, dùng định trừ dục giới, dùng
tuệ trừ tất cả cõi. Nương theo giới định tuệ này mà
tu, tức là đường tắt của chư Phật, chẳng phải xa vậy.
Giảng
Bài
này đặt nặng về người xuất gia hơn. Ngài nói rằng: “Phàm
tất cả người tu hành đều do hai việc: chán sanh, tử.”
Hai việc nói chung là chán sanh tử. Tại sao vậy? Bởi vì có
sanh ra thì phải có tử, muốn khỏi tử phải làm sao? - Phải
khỏi sanh. Vì vậy phải chán sanh mới được. Nhưng người
thế gian lại chán tử, ưa sanh. Ngày ra đời gọi là sanh nhật,
mời bà con ăn mừng, thết đãi rượu chè v.v... Còn ngày tử
gọi là ngày gì? - Ngày húy kỵ là ngày kiêng sợ, như vậy
người ta hay sợ chết lại thích sống. Thích sanh, mà có sanh
phải có tử. Muốn có sanh mà sợ tử, không thể được.
Nên người học đạo, hiểu đạo phải chán cả hai, chán
tử mà cũng chán cả sanh. Đã sợ chết thì đừng sanh mới
khỏi chết, nhưng thế gian chỉ chán một thứ làm sao được.
“Bỏ
cha mẹ vợ con, xuất gia cầu đạo, phụng thờ đức Phật
làm thầy.” Đây nói người xuất gia hơi lớn tuổi, chớ
không phải nói những người còn nhỏ, người nhỏ chỉ bỏ
cha mẹ thôi, còn người lớn phải bỏ cả cha mẹ vợ con
để theo Phật, phụng thờ đức Phật làm thầy phải:
“Noi
theo đường tắt của chư Phật.” Đường tắt đó là gì?
“Chỉ có kinh mà thôi.” Kinh Phật dạy là đường tắt của
chư Phật đã đi. Phật chỉ dạy chúng ta phải noi theo đó.
Bởi vậy nói rằng kinh là bản đồ do đức Phật ngày xưa
đã đi qua, Ngài vẽ lại cho chúng ta thấy, biết và noi theo
để đi đến chỗ cuối cùng mà Ngài đã đến. Như vậy kinh
là lối chỉ cho chúng ta tiến theo con đường của Phật.
“Song
trong kinh nói ra, duy giới, định, tuệ. Luận Giải Thoát nói:
‘Giới, định, tuệ gọi là đạo giải thoát.’ ” Kinh Phật
nói rất nhiều, nhưng chỉ có ba phần căn bản là giới, định,
tuệ. Ba môn này gọi là tam giải thoát. Giới, định, tuệ
là ba con đường đưa đến giải thoát. Vì vậy người nào
muốn giải thoát sanh tử phải thực hành giới, định, tuệ.
“Giới
là nghĩa oai nghi.” Oai nghi là hình tướng. Từ cách đi, đứng,
nằm, ngồi, ăn nói của mình sao cho hợp với oai nghi. Người
muốn cho tâm an, trước phải có hình tướng điềm đạm trang
nghiêm, nếu hình tướng còn lăng xăng thì tâm rất khó yên.
Cho nên giới là để kềm chế cho hình tướng được nghiêm
chỉnh. Vì vậy, giới Phật không cho Tỳ-kheo vừa đi vừa
nhảy, không cho đi ngó bên này liếc bên kia. Đi phải nghiêm
trang, đi từng bước, hoặc đi phải nhìn ngay ngó thẳng. Những
cử chỉ đó tuy là hình thức nhưng giúp cho chúng ta nhiều
để tâm ít loạn. Thế nên nói giới rồi mới nói đến định.
Định
là gì? “Định là nghĩa chẳng loạn.” Nghe nói định chúng
ta cứ tưởng có cái gì lạ, nhưng thật ra khi tâm không dấy
niệm, không khởi nghĩ đó là định. Quí vị thử tìm xét
lại có được bao nhiêu phút không dấy nghĩ, hay hết
việc này kéo đến việc kia, hết chuyện kia lại kéo ra chuyện
khác, chuyện của năm trên năm dưới cứ tuôn ra liên miên
không dừng nên tâm loạn động. Khi nào dừng được cái nghĩ,
tâm yên lại là định. Bởi vậy, có nhiều vị hỏi tôi:
Con tu biết chừng nào được định. Cần hỏi tôi điều đó
không? Nếu có trả lời, tôi sẽ nói: Chừng nào tâm không
loạn là được định, đó là chân lý. Vì không ai có thể
trả lời thời gian chừng nào. Như vậy định nghĩa Định
rất rõ rồi.
“Tuệ
là nghĩa giác tri.” Giác tri tức là hiểu biết đúng như
thật. Hiểu biết đúng như thật gọi là Tuệ.
Bây
giờ Ngài nói rõ công dụng của mỗi thứ:
“Lấy
giới để trừ ác cấu.” Ác cấu là gì? Cấu là nhơ nhớp.
Tam độc gọi là ác cấu. Tam độc là tham, sân, si. Nhờ giữ
giới nên bớt tham, sân, si.
“Lấy
định để trừ triền cấu”: Triền cấu là thập triền.
Thập triền là: 1. Vô tàm. 2. Vô quí. 3. Tật. 4. Xan (khan).
5. Hối. 6. Thùy miên. 7. Trạo cử. 8. Hôn trầm. 9. Sân phẫn.
10. Phú.
Đó
là âm chữ Hán, còn nghĩa:
-
Vô tàm là không hổ, không biết xấu hổ.
-
Vô quí là không thẹn, tức làm điều xấu mà không thẹn.
Vô
tàm vô quí nói gọn là: không hổ không thẹn. Đó là hai bệnh
lớn, bệnh nặng. Người nào làm những điều xấu, điều
trái không biết hổ thẹn gọi là người da chì lạnh không
thay đổi. Những người đó cứ lầm lì tiến tới, không
bao giờ sửa đổi. Cho nên hổ thẹn là phương tiện tốt
nhất để giúp cho con người vươn lên. Không hổ không thẹn
là gốc của tội lỗi. Vì vậy khởi đầu của thập triền
là vô tàm vô quí.
-
Tật là tật đố, thấy ai hơn mình thì bực bội kiếm chuyện
dèm pha, nói xấu. Không thích ai hơn mình, vì mình là số một.
Còn có người nào bằng mình thì tâm cứ bực bội bất an.
-
Xan là keo sẻn, xan tham rít rắm.
-
Hối là hối hận, là tốt, sao đây lại cho là lỗi. Bởi
vì hối hận có hai mặt, nếu làm lỗi rồi hối hận để
xin lỗi, sám hối thì cái hối đó tốt, nó làm cho mình sửa
bỏ được những sai lầm, tội quấy. Còn cái hối mà nhớ
lại chuyện cũ đã xảy ra, tỉ dụ người ta nói một câu
chõi mình, mà lúc đó mình trả lời không hay, không vừa ý,
đến lúc ngồi thiền cứ nhớ đi nhớ lại việc đó mà hối
hận, rồi cố tìm câu trả lời cho hay, khi tìm ra được câu
đáp lại muốn xả thiền ngay, để trả lời lại cho hả
giận. Như vậy giờ ngồi thiền thành giờ loạn tưởng và
cái hối đó là hối loạn tưởng, là bệnh. Cho nên chúng
ta phải hiểu cho rõ, cũng một chữ hối mà ở trường hợp
này là tốt, trường hợp kia là xấu. Hối lỗi để sám hối,
xin lỗi là tốt. Còn thấy mình kém thua có những cái dốt
rồi hối tức việc đó sao không đúng như mình muốn, thì
cái hối đó làm cho tán loạn trong tâm, nó là bệnh thuộc
về triền sử.
-
Thùy miên là ngủ mùi, ngủ mê, cứ nằm xuống là ngủ, có
khi ngồi dựa cũng ngủ. Đó là bệnh thùy miên. Khi ngồi thiền
mà ngủ gọi là ngồi ở đâu? Ngồi ở núi đen, ngồi trong
hang quỉ.
-
Trạo cử tức là lăng xăng. Thí dụ như ngồi thì chân nhịp,
tay gõ. Thân không yên, tâm cũng không yên, hết nghĩ chuyện
này đến chuyện khác lăng xăng. Thân lăng xăng gọi là thân
trạo cử, tâm lăng xăng gọi là tâm trạo cử. Người tu có
khi thân trạo, có khi tâm trạo.
-
Hôn trầm là ngủ gục.
-
Sân phẫn có chỗ gọi là sân hận, dịch là giận hờn. Giận
hờn người này, giận hờn người kia. Khi giận hờn ai thì
ngồi thiền có yên không? Cứ nhớ chuyện giận mãi mà lòng
bất an.
-
Phú là che. Che đậy lỗi lầm. Làm quấy mà không chịu sám
hối nhận tội, cứ che lỗi của mình, đổ thừa người này
người nọ. Đó là bệnh phú.
Mười
điều này là thập triền, làm sao để trừ nó? - Lấy định
để trừ triền cấu, tức là lấy thiền định để trừ
cái nhơ nhớp của thập triền. Triền là trói buộc, làm cho
mình tối tăm mờ mịt.
“Lấy
tuệ để trừ sử cấu.” Sử cấu là cấu nhớp của thập
sử. Thập sử là tham, sân, si, mạn, nghi. Năm cái này gọi
là ngũ độn sử. Còn năm cái sau là thân kiến, biên
kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến gọi
là ngũ lợi sử. Sử là sai khiến, là thúc đẩy mình phải
làm, phải đi theo con đường đó gọi là sử. Trong mười
sử này chia làm năm cái độn và năm cái lợi. Năm độn sử
là năm sử ngu si, nó rất mạnh, trừ rất khó. Năm lợi sử
là sử khôn ngoan, lanh lẹ. Sử khôn ngoan tuy thấy dữ nhưng
dễ trừ.
-
Tham là tham lam. Như chúng ta có lòng tham, bất cứ tham cái
gì, nó xúi giục mình chạy tìm kiếm. Thí dụ tham ăn, muốn
được một món ăn ngon, trong viện không có, ngoài chợ Đà
Lạt mới có, thì phải chạy ra Đà Lạt mua. Vậy có phải
cái tham sai khiến không? Nhiều người phải khổ vì cái tham
này.
-
Sân nghĩa là nóng giận. Thí dụ đang ngồi trong nhà, nghe người
ngoài đường kêu tên mình nói xấu, mình có ngồi yên không
hay chạy ra để cãi lại? Tất cả sự việc đó đều sai
sử mình tìm kiếm.
-
Si tức si mê mờ ám.
-
Mạn tức ngã mạn.
-
Nghi là nghi ngờ, không có lòng tin cũng là bệnh lớn. Thông
thường trong nhà thiền nói đa nghi thì đa ngộ, nhưng tại
sao ở đây lại nói nghi là bệnh? Nói đa nghi đa ngộ là trong
khi tu mình dồn tâm đến chỗ thanh tịnh, nếu có một nghi
vấn gì chưa giải quyết được, vừa nhớ lại là giải quyết
được ngay. Cái nghi đó làm cho mình ngộ được vấn đề
chưa hiểu, còn cái nghi này là không biết rõ được gốc
thật hư. Thí dụ khi mới tu, cái nghi đầu tiên là nghi Tam
Bảo, nghi Phật, nghi Pháp, nghi Tăng, mà nếu nghi Phật, Pháp,
Tăng thì không thể tu. Hoặc giả nghi không biết mình tu nổi
không, tu không biết có được gì không? Đó là những cái
nghi làm chướng sự tu của mình, nên nó nằm trong ngũ độn
sử.
-
Thân kiến là chấp thân hoặc thường còn, hoặc đoạn diệt.
-
Biên kiến là chấp một bên, hoặc chấp có, hoặc chấp không.
-
Tà kiến là nhìn hiểu theo những điều sai lầm mà cho là
đúng.
-
Kiến thủ kiến tức là chấp chặt sự hiểu biết sai lầm
của mình.
-
Giới cấm thủ kiến là làm theo lời răn cấm của ngoại
đạo tà giáo. Có nhiều tà thuyết đặt ra những điều răn
cấm không đúng mà mình lại chấp vào những điều đó.
Mười
điều trên đây gọi là thập sử, làm mê hoặc, sai khiến
mình chạy theo nó. Như vậy nhờ trí tuệ trừ được nó.
“Cho
nên dùng giống thiện này (giới - định - tuệ) mà theo đạo,
gọi là: sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Giới là sơ thiện,
định là trung thiện, tuệ là hậu thiện.” Như vậy là Ngài
mới đưa chúng ta đến chỗ biết giới - định - tuệ là
ba gốc lành đầu giữa và cuối.
“Giới
là sơ thiện là, vì tinh tấn trì giới thành tựu bất thối
nên mừng. Vì mừng nên nhảy nhót, vì nhảy nhót nên cử động,
vì cử động nên vui, vì vui nên tâm không định.” Nghĩa
là người nào luôn giữ giới được thanh tịnh thì có niệm
mừng, vì mừng nên nhảy nhót. Cũng như đứa bé khi thấy
ba má đi đâu xa về thì mừng nên nhảy nhót tung tăng. Vì
thế khi chúng ta giữ giới thanh tịnh thì có niệm mừng, vì
mừng nên nhảy nhót cử động, tức là lăng xăng trong tâm.
Vì cử động nên vui, vì vui nên tâm không định. Cho nên cái
vui của giữ giới không được an định.
“Định
là trung thiện là, do thân cử động nên dừng, do dừng nên
tâm trụ, do tâm trụ nên thấy biết như thật, đây là trung
thiện.” Nghĩa là dừng cử động của thân, thân dừng thì
tâm trụ, do tâm trụ nên thấy biết đúng như thật không
còn lầm lẫn nữa.
“Tuệ
là hậu thiện là, do thấy biết như thật nên chán ghét, do
chán ghét nên lìa dục, do lìa dục nên giải thoát, gọi là
hậu thiện.” Như tôi thường nói người thế gian thấy những
gì có dáng vẻ bề ngoài, rồi chạy theo, tưởng lầm nó đẹp
thật, xấu thật. Người tu thấy rõ thân này là nhơ nhớp,
vô thường, không có chủ tể tức không có ngã, thấy rõ
như vậy không còn mến thích nó. Vì vậy nên chán ghét, lìa
ngũ dục, vì lìa ngũ dục nên giải thoát, không còn bị các
trói buộc của thế gian nữa.
“Vì
thế dùng giới trừ ác thú.” Nhờ giữ giới nên tránh không
sanh các cõi ác như địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh.
“Dùng
định trừ dục giới.” Vì nhờ sức định nên không bị
sanh trong các cõi trời Dục giới.
“Dùng
tuệ để trừ tất cả cõi.” Bởi vì định không sanh trong
các cõi trời Dục giới, nhưng lại sanh trong các cõi trời
Sắc giới, Vô sắc giới, nên phải nhờ có trí tuệ để
trừ hết các cõi, không còn dính trong tam giới. Vì vậy tuệ
là cái sau cùng.
“Nương
theo giới định tuệ này mà tu, tức là đường tắt của
chư Phật, chẳng phải xa vậy.” Nếu ai tu đúng theo Giới
Định Tuệ là đi đường tắt của chư Phật, thì kết quả
thành Phật không phải là chuyện xa vời.
Qua
những bài tôi giảng của ngài Trần Thái Tông, quí vị thấy
Ngài không những là người hiểu đạo trong phạm vi cư sĩ
mà còn hiểu sâu xa đến những người xuất gia, tu hành muốn
tiến đến giải thoát phải thế nào. Ngài cũng bàn luận
chỉ vẽ rất rõ ràng. Như vậy chúng ta mới thấy Ngài là
một con người đang bị trói buộc bởi tất cả tài sắc
danh lợi, mà Ngài đã gỡ thoát ra được, thấy rõ hướng
đi, chỉ vẽ lại cho người sau, đó là điều thật đáng
quí. Bởi vậy càng đọc càng nghe, chúng ta càng hổ thẹn
cho mình. Tại sao mình có nhiều điều kiện dễ tu hơn Ngài,
mà tu còn lơ mơ, chưa xứng đáng. Vì vậy mỗi người chúng
ta nghe thấy gương người đi trước thì phải nỗ lực đi
cho đúng, cho bằng chớ đừng thua. Đó là điều tôi mong tất
cả hãy cố gắng.