LUẬN
TỌA THIỀN
Dịch
Phàm
người học đạo chỉ cầu kiến tánh. Tuy thọ được tất
cả tịnh giới, mà không tọa thiền thì định lực chẳng
sanh; định lực chẳng sanh thì vọng niệm không diệt, muốn
được kiến tánh, thật là khó vậy. Đức Phật Thích-ca vào
núi Tuyết, ngồi ngay thẳng sáu năm, chim Cáp làm tổ trên
đầu, cỏ tranh mọc xuyên qua bắp vế, mà thân tâm thản nhiên.
Tử Cơ ngồi tựa ghế, thân như cây khô, tâm tợ tro tàn.
Nhan Hồi ngồi quên, tay chân rời rã. Đuổi thông minh,
lìa ngu trí, đồng với đại đạo. Đó là các bậc Thánh
Hiền trong tam giáo ngày xưa, đã từng ngồi định.
Song
đi đứng nằm ngồi đều là thiền, không phải chỉ riêng
ngồi. Nhưng vì đi thì cất bước, đứng thì nhọc nhằn,
nằm thì mờ mịt mà yên tĩnh, yên tĩnh thì cái nghĩ sanh,
nghĩ sanh thì niệm khởi. Muốn dứt các niệm, nên tập ngồi
thiền định. Nếu khi ngồi không dứt các niệm, tâm khỉ
đua nhảy, ý vượn chạy rong, hoặc vọng tưởng mà biết
tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự tánh. Tựa giường, dựa
vách, nhắm mắt che tròng ngủ gục, nước miếng chảy, đầu
cúi, xương sống cong. Tuy giả danh là tọa thiền, mà ngồi
dưới núi đen, trong hang quỉ. Cho nên Thiền sư Hoài Nhượng
nói: “mài gạch muốn làm gương” là nói về người này
vậy.
Vả
lại, thiền có bốn thứ:
1.
Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là “Ngoại
đạo thiền”.
2.
Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là
“Phàm phu thiền”.
3.
Rõ lý sanh (nhân) không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi
là “Tiểu giáo thiền”.
4.
Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là “Đại giáo thiền”.
Nay,
người hậu học, cần lấy “Đại giáo thiền” làm chánh.
Nơi đây tập tọa thiền dứt niệm, chớ sanh kiến giải.
Giảng
“Phàm
người học đạo chỉ cầu kiến tánh.” Đã nói về giới
rồi phải nói đến định. Định tức là tọa thiền. Ngài
nói người học đạo phải cầu kiến tánh, tức nhận ra bản
tánh thanh tịnh sáng suốt của mình, gọi là kiến tánh.
“Tuy
thọ được tất cả tịnh giới, mà không tọa thiền thì
định lực chẳng sanh.” Nghĩa là mình có được giới trong
sạch là có phước, là tránh được phiền não, nhưng không
tọa thiền thì sức định không mạnh.
“Định
lực chẳng sanh thì vọng niệm không diệt.” Không có sức
định thì vọng niệm không diệt, nó cứ lăng xăng làm cho
tâm mình rối loạn không an. Bởi vậy có giới rồi kế đó
phải tọa thiền để tâm được định. Tâm được định
thì vọng tưởng mới dừng.
“Muốn
được kiến tánh, thật là khó vậy.” Nếu vọng niệm chưa
hết mà muốn được kiến tánh thật là khó. Bởi vì nếu
tâm chưa dừng lặng mà muốn nhận ra được bản tánh thật
là điều khó, không thể được. Cho nên đầu tiên là Giới,
kế đó là Định. Định là nhờ sức tọa thiền. Nhờ tọa
thiền tâm mới lặng. Tâm lặng thì tánh giác mới hiện tiền.
Đây
dẫn chứng: “Đức Phật Thích-ca vào núi Tuyết, ngồi ngay
thẳng sáu năm, chim Cáp làm tổ trên đầu, cỏ tranh mọc xuyên
qua bắp vế, mà thân tâm thản nhiên.” Đây là chỉ lúc đức
Phật tu khổ hạnh sáu năm, chim làm tổ trên đầu, cỏ mọc
qua bắp vế, mà Ngài vẫn ngồi yên thiền định.
“Tử
Cơ ngồi tựa ghế, thân như cây khô, tâm tợ tro tàn.” Tử
Cơ là người học đạo tiên. Người tu tiên cũng ngồi thiền
định cho tâm yên lặng, khô kiệt không còn rối loạn nữa.
“Nhan
Hồi ngồi quên, tay chân rời rã.” Nhan Hồi là người tu
theo Nho vẫn ngồi quên cả thân thể, buông thõng tay chân.
Đây để chỉ tu theo Phật, Lão, Khổng đều phải nhờ thiền
định.
“Đuổi
thông minh, lìa ngu trí, đồng với đại đạo.” Đại đạo
là chỉ tánh giác thanh tịnh. Muốn được tánh giác thanh tịnh
thì đừng giữ thông minh, ngu trí. Thông minh là cái suy nghĩ
lanh lợi, bén nhạy của thế gian, trong nhà Phật gọi là Thế
trí biện thông tức là trí thế gian, chưa phải là chỗ chân
thật, chỗ giác ngộ. Vì vậy nên nói đuổi thông minh, lìa
ngu trí mới đồng với đại đạo. Không nên phân biệt trí
ngu, chỉ khi nào tâm thản nhiên thanh tịnh, lúc đó mới sống
được với đại đạo.
“Đó
là các bậc Thánh Hiền trong tam giáo ngày xưa, đã từng ngồi
định.” Như vậy những bậc Thánh, bậc Hiền trong Phật
giáo, Khổng và Lão vẫn ngồi thiền cho tâm được an định.
Vì ngồi thiền mới có sức mạnh kềm chế được vọng tưởng,
nếu không thì e không có khả năng chinh phục được nó.
“Song
đi đứng nằm ngồi đều là thiền, không phải chỉ riêng
ngồi.” Tuy Ngài đề cao ngồi thiền, nhưng bây giờ Ngài
nói lại, trong nhà thiền không phải chỉ ngồi mới thiền,
mà đi đứng nằm ngồi đều là thiền.
“Nhưng
vì đi thì cất bước, đứng thì nhọc nhằn, nằm thì mờ
mịt mà yên tĩnh, yên tĩnh thì cái nghĩ sanh, nghĩ sanh thì
niệm khởi.” Ở đây nói mọi hành động đều là thiền,
nhưng khi đi phải cất bước, cất bước thì có lăng xăng
có động, mà động thì khó định. Đứng thì đứng lâu mỏi
chân, cũng khó định. Nằm thì mờ mịt vì buồn ngủ, mà
mờ mịt thì không có sức mạnh. Tuy nó hơi yên nhưng yên
thì cái nghĩ dễ sanh, mà nghĩ sanh thì niệm khởi. Như vậy
tuy đi đứng nằm đều được, nhưng không phải là thế ưu.
“Muốn
dứt các niệm nên tập ngồi thiền định.” Ngồi thiền
là ưu hơn hết, bởi vậy bắt quí vị ngồi hai giờ là cái
lý của tôi. Có ngồi nhiều rồi quí vị mới thấy kinh nghiệm
tôi không sai. Nếu ngồi một giờ thì nửa giờ đầu rối
bời, lúc hơi yên là hết giờ. Ngồi một giờ rưỡi thì
nửa giờ đầu rối, nửa giờ kế hơi yên yên, nửa giờ
sau vừa mới yên thì hết giờ. Ngồi hai giờ thì bỏ giờ
đầu, còn giờ sau là giờ yên. Yên là sức mạnh. Ngoại trừ
những người mới ngồi thì giờ sau là giờ chịu đựng,
nhưng có chịu đựng rồi sẽ thắng. Còn người ngồi được
lâu thì giờ sau mới yên, yên rồi sẽ thấy sức mạnh của
thiền. Sức mạnh đó mới thắng được vọng tưởng, nếu
không thì vọng tưởng cứ ào ào tuôn ra dừng không nổi.
Bởi vậy, tu cần phải cố gắng chịu đựng mới thắng được,
chớ không phải dễ dàng.
“Nếu
khi ngồi không dứt các niệm, tâm khỉ đua nhảy, ý vượn
chạy rong, hoặc vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô
ký mà quên tự tánh.” Ở đây Ngài nói, khi ngồi cốt dứt
vọng niệm, mà vọng niệm không dứt thì tâm, ý chạy lăng
xăng loạn động. Như đang ngồi ở Thiền đường Trúc Lâm
mà đi dạo chợ Đà Lạt, có khi chạy xuống Thường Chiếu,
chạy khắp mọi nơi. Đó là tâm khỉ đua nhảy, ý vượn chạy
rong.
“Hoặc
vọng tưởng mà biết tiền trần, hoặc vô ký mà quên tự
tánh.” Vọng tưởng và vô ký là hai bệnh của người ngồi
thiền. Vọng tưởng nhớ lại cảnh này cảnh nọ, hoặc hình
ảnh của những ngày qua, biết là biết theo cái bóng của
những việc đã qua. Vô ký là chuẩn bị hôn trầm. Nếu ngồi
mà tỉnh sáng, thì không lìa tánh giác. Có nhiều người không
hiểu, ngồi cứ cầu cho thấy tánh. Cần thấy tánh làm gì?
Chỉ cần tỉnh sáng không vọng tưởng là đủ rồi. Sao vậy?
Vì tánh hiện đó chớ đâu, còn cầu thấy chỉ là bệnh.
Cho nên vô ký quên tự tánh là khi mờ mờ mịt mịt quên cái
tỉnh sáng của mình.
Đây
nói những bệnh: “Tựa giường, dựa vách, nhắm mắt che
tròng ngủ gục, nước miếng chảy, đầu cúi, xương sống
cong.” Đó là những bệnh của người ngồi thiền còn lôi
thôi. Ngồi thiền mà ngồi trong mùng tựa giường, vừa mỏi
muốn dựa vách cho đỡ mỏi, hoặc nhắm mắt một hồi rồi
gục lên gục xuống, hoặc ngồi đầu cúi, nước miếng chảy
xuống, xương sống cong. Người tập tu thiền có những bệnh
ở trên đây cần phải ráng sửa.
“Tuy
giả danh là tọa thiền, mà ngồi dưới núi đen, trong hang
quỉ.” Ngồi như vậy là giả danh ngồi thiền, vì bị mờ
mờ mịt mịt đâu có thấy gì, mà quỉ thì ở trong bóng tối,
nên nói là ngồi dưới núi đen, trong hang quỉ, chớ không
phải ngồi trong nhà Phật, trong nhà thiền. Như vậy ngồi
thiền phải ngồi cho ngay thẳng, không nương dựa vào vật
gì, mắt mở nhỏ, không nên nhắm, đầu đừng cúi quá, không
cho nước miếng chảy, xương sống thẳng, đó mới đúng cách
tọa thiền.
“Cho
nên Thiền sư Hoài Nhượng nói: ‘mài gạch muốn làm gương’
là nói về người này vậy.” Thiền sư Hoài Nhượng ở núi
Nam Nhạc, một hôm Ngài đi dạo núi chơi, thấy một vị sư
ngồi thiền nghiêm chỉnh trên tảng đá, Ngài liền đến hỏi:
Ông làm gì đây? Đáp: Dạ, con ngồi thiền. Hỏi: Ngồi thiền
cầu làm gì? Đáp: Cầu thành Phật. Ngài im lặng trở về.
Hôm sau, Ngài trở lại, đến bên tảng đá vị sư kia ngồi
(vị sư này sau là Mã Tổ Đạo Nhất), lấy một viên gạch
ngồi mài. Vị sư thấy lạ hỏi: Hòa thượng mài gạch để
làm gì? Ngài đáp: Ta mài gạch để làm gương. Vị sư thắc
mắc hỏi: Mài gạch sao thành gương được? Đáp: Nếu mài
gạch không thành gương được thì ngồi thiền đâu thể thành
Phật được? Vị sư giật mình hỏi lại: Ngồi thiền sao
không thành Phật? Ngài giải thích: Ông học ngồi thiền hay
học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải
ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất
định. Nếu ông chấp ngồi là Phật tức là giết Phật. Như
vậy Phật không phải chỉ ngồi mới có. Nếu ngồi mới gọi
là Phật, thì lúc đi, đứng là ai? Vì Phật đâu phải chỉ
ngồi, có khi Phật đi khất thực, không ngồi thì không phải
Phật sao? Ngài nói như vậy để đánh thức vị sư. Lại nữa,
Phật là giác ngộ mà giác ngộ không phải chỉ riêng ở trạng
thái ngồi mà cả trong bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi).
Nếu chấp ngồi mới là Phật, đó là bệnh. Ở đây Ngài
muốn nói nếu tu thiền mà cố chấp ngồi để thành Phật,
rồi ngồi gục lên gục xuống, không tỉnh, không sáng, thì
chẳng khác nào mài gạch muốn thành gương vậy!
“Vả
lại, thiền có bốn thứ:
1.
Tạo kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là ‘Ngoại
đạo thiền’.
2.
Chánh tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là
‘Phàm phu thiền’.
3.
Rõ lý sanh (nhân) không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi
là ‘Tiểu giáo thiền’.
4.
Đạt nhân, pháp đều không mà tu, gọi là ‘Đại giáo thiền’.”
Ở chỗ khác theo lời giải của ngài Tông Mật có thêm cái
thứ năm nữa là Tối thượng thừa thiền, đó là Thiền tông.
“Tạo
kế khác, ưa trên chán dưới mà tu, gọi là ‘Ngoại đạo
thiền’.” Tức là ưa ngồi thiền để có một cái gì bên
ngoài tựa vào mình để được thành Thánh thành Thần; hoặc
ngồi thiền để mong cầu có một sức mạnh thiêng liêng nào
ở bên ngoài tựa vào mình, dầu sức mạnh đó có điện lực
gì cũng thuộc về Ngoại đạo thiền.
“Chánh
tín nhân quả, cũng ưa trên chán dưới mà tu, gọi là ‘Phàm
phu thiền’.” Nghĩa là nghe trong kinh Phật dạy, người tu
được Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền thì được
sanh trên các cõi trời Sắc giới... Vì ham sanh ở các cõi
trời Sắc giới mà tu để chứng các thứ thiền đó, nên
gọi là Phàm phu thiền. Tuy có tin nhân quả, nhưng kết quả
chỉ sanh lên các cõi trời Sắc giới thôi.
“Rõ
lý sanh không, chứng đạo thiên chân mà tu, gọi là ‘Tiểu
giáo thiền’.” Sanh không là rõ về thân con người không
có ngã. Sanh không chỉ do cái nhân con người phá được ngã
chấp, mà tu thiền chứng được đạo thì gọi là Tiểu thừa
thiền hay Tiểu giáo thiền. Đây chứng được quả A-la-hán,
giải thoát sanh tử.
“Đạt
nhân, pháp đều không mà tu, gọi là ‘Đại giáo thiền’.”
Người tu phá được chấp ngã chấp pháp, cả hai đều không
mà tu thì gọi là Đại giáo thiền hay Đại thừa thiền.
“Nay
người hậu học, cần lấy Đại giáo thiền làm chánh. Nơi
đây tập tọa thiền dứt niệm, chớ sanh kiến giải.” Ngài
khuyên người thời nay tu hành nên theo Đại giáo thiền, là
thiền không còn chấp ngã, chấp pháp. Ngã là chỉ cho mình
cho người, pháp là chỉ cho sự vật chung quanh. Cả hai đều
không chấp gọi là Đại giáo thiền, cũng gọi là thiền Đại
thừa. Pháp tu này mới giải thoát sanh tử cho mình và phát
đại bi tâm cứu độ mọi người. Vì vậy Ngài khuyên chúng
ta nên học theo Đại giáo thiền này mà tu dứt niệm, không
nên sanh kiến giải.