NÓI
RỘNG SẮC THÂN
Dịch
Hết
thảy các người! Thân là gốc khổ, thể chất là nhân nơi
nghiệp, nếu tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con.
Các
ông nên chín chắn xem, chỉ sắc thân này khi chưa vào bào
thai thì nơi nào được có. Bởi do niệm khởi duyên hội,
năm uẩn hợp thành, thể mạo vọng sanh, hình dung giả có.
Quên thật quên gốc, hiện giả hiện dối, hoặc nữ hoặc
nam, hoặc đẹp hoặc xấu. Trọn là buông tâm chạy đi, toàn
không một bước trở về, chạy rong trên đường sanh tử,
mất tuốt “bản lai diện mục”. Do đó, giương mắt nhìn
bên ngoài, ai biết xoay đầu ngó lại bên trong. Khi lại, sanh
là hóa sanh; nơi đến, trong mộng nói mộng. Lăng xăng lộn
xộn, vội vội vàng vàng, lấy giả làm chân, trái không đến
sắc. Đầu sọ khô cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ
xông hương, cắt lụa là che đậy máu tanh, giồi son phấn
át thùng phân thúi. Trang sức như thế trọn là gốc nhớp.
Không thể nơi đây tự thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu.
Hết
thảy các người! Giống hệt con rối, đều nhờ sợi tơ kéo
rút, đùa đến đùa đi cùng sanh một thứ, sau khi buông đi,
thật là dáng chết. Tự khởi muôn việc tính toán, đều do
lục tặc công phá. Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ thích
sắc tài rượu thịt. Luống đưa đầu lằng sừng ốc, cam
chịu lợi ràng danh buộc. Trọn ngày dồn sức mong cầu, tối
lại trở thành mộng tưởng. Chất chứa nghiệp dơ như giếng,
chẳng biết tóc bạc như sương. Một hôm bệnh nặng trầm
kha, trăm năm trọn về mộng lớn. Tim gan đau đớn dường
thể oán thù, thân thể ốm gầy giống như quỉ đói. Còn
muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát sanh hại mạng. Chỉ
mong biết đời sống như tùng bá, đâu ngờ thân thể ví tựa
nhà xiêu. Hồn phách tuy về cõi quỉ, thi hài vẫn còn ở nhân
gian, tóc lông răng móng chưa kịp tiêu, đàm dãi máu me đều
chảy trước. Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi hám ắt
xông trời xông đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật
đáng tởm. Chẳng luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc
để trong nhà thì giòi đục tửa sinh, hoặc ném ra đường
quạ ăn chó xé. Người đời đều bịt mũi đi qua, con hiếu
thì lấy chiếu mền quấn giấu. Nhặt thu hài cốt, chôn cất
thịt xương. Quan quách phó cho đóm lửa ma trơi nơi hoang dã,
mả mồ giao cho muôn dặm núi sông. Khi xưa tóc đen má ửng,
ngày nay xương trắng tro đen. Khi mưa lệ rơi thì mây sầu
thê thảm, lúc gió buồn thổi thì trăng sáng hắt hiu. Đêm
vắng thì quỉ khóc thần sầu, năm dài thì ngựa giày trâu
đạp. Lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ xanh, tiếng dế
ngâm nỉ non cạnh hàng dương liễu. Bia ghi nửa chìm, rêu xanh
phủ, tiều phu giậm mãi thành lối mòn. Dầu cho văn chương
cái thế, giả sử tài sắc nghiêng thành, chung cuộc đâu có
đường khác, cuối cùng cũng chỉ một lối đi. Mắt bị sắc
dẫn trèo lên cây kiếm; tai theo tiếng lôi tiến lên núi đao;
lỗ mũi ngửi toàn mùi hôi hám; trong lưỡi ăn sắt nóng nuốt
hoài; thân khiếp sợ nước đồng sôi nóng dội; ý chua cay
vạc dầu sôi nung nấu. Nhân gian trọn một trăm năm, trong
địa ngục mới là sáng tối.
Nếu
người tác gia đủ mắt, cần phải sớm gấp hồi quan chuyển
thân nhảy khỏi vòng sanh tử, khoảng khảy tay cắt đứt lưới
ái ân. Dù là nam hay nữ thảy đều tu được; dẫu rằng trí
hay ngu trọn đều có phần. Nếu chưa đạt được Phật tâm,
Tổ ý hãy trước nương trì giới tụng kinh. Đến lúc Phật
cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, thì giới gì trì,
kinh nào tụng. Nơi sắc huyễn cũng là chân sắc, ở thân phàm
cũng là thân Phật. Phá sáu thức làm sáu thần thông, dạo
tám khổ thành tám tự tại.
Tuy
nói thế ấy, mà mỗi người vào trong sắc thân rồi, bỏ
đó thật khó thay!
Hết
thảy các người! Chỉ sắc thân này lại làm sao giải thoát?
Nếu chưa giải thoát, cần phải nghe đây:
Vô
vị chân nhân thịt đỏ au,
Hồng
hồng bạch bạch chớ lầm nhau.
Ai
hay mây cuộn, không toàn tịnh,
Sương
biếc bên trời, một núi xanh.
Giảng
Ngài
Trần Thái Tông đối với sắc thân con người có cái nhìn
thấu đáo khác hơn người phàm tục chúng ta.
“Hết
thảy các người! Thân là gốc khổ, thể chất là nhân nơi
nghiệp, nếu tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con.”
Đầu
tiên Ngài kêu gọi tất cả chúng ta phải thấy thân này là
gốc khổ. Thông thường chúng ta nghĩ khổ từ nơi khác đưa
lại, nhưng không biết gốc khổ từ nơi thân: Thí dụ như
hiện giờ tất cả chúng ta làm lụng khó nhọc mới có cơm
ăn áo mặc, vậy lo cơm áo làm việc nhọc nhằn là vì có
thân, nên nói gốc khổ từ thân mà ra, song ít ai nghĩ tới
điều này!
“Thể
chất là nhân nơi nghiệp” tức là thể xác này từ nơi nghiệp
mà có, do nghiệp đời trước lành hay dữ, nên mang thân hiện
tại khổ hay vui, chớ không phải là sự ngẫu nhiên.
“Nếu
tự cho nó là thật, cũng là nhận giặc làm con.” Thân do
nghiệp tạo mà chúng ta lầm tưởng là thật, đó là chúng
ta nhận giặc làm con. Tại sao? Vì thân là tướng vô thường
đau khổ. Nếu cho tướng vô thường đau khổ là mình thật,
đó là nhận khổ làm mình, cũng như nhận giặc làm con. Điều
sai lầm này hầu hết chúng ta đều mắc phải. Ai cũng quí
tiếc thân, nhưng càng quí tiếc thì càng khổ, vì một ngày
nào nó sẽ từ giã mình, lúc đó khổ vô cùng!
“Các
ông nên chín chắn xem, chỉ sắc thân này khi chưa vào bào
thai thì nơi nào được có.” Thử hỏi sắc thân chúng ta
khi chưa vào thai thì nó ở đâu? Nó là cái gì? Như người
ba mươi tuổi thì hỏi trước ba mươi mốt năm mình là cái
gì? Ở đâu? Đều không biết! Nếu người sáu mươi tuổi
chết rồi, hỏi năm sáu mươi mốt ở đâu, là cái gì? Thì
nói làm sao? Như vậy trước khi chưa có, chúng ta không biết
nó ở đâu, sau khi hoại rồi cũng không biết nó ra sao? Thế
mà khi có nó thì bắt đầu bám giữ, bảo bọc nó, rốt cuộc
càng lo bảo bọc, tạo điều kiện cho nó thỏa mãn, nó hoại
càng sớm chớ không đi tới đâu!
“Bởi
do niệm khởi duyên hội, năm uẩn hợp thành, thể mạo vọng
sanh, hình dung giả có.” Chỗ này phải người tu sâu mới
hiểu được. Tâm thể chúng ta là trong sạch, thanh tịnh, an
ổn, không dao động. “Bởi do niệm khởi duyên hội năm uẩn
hợp thành.” Từ niệm khởi lên, theo duyên hội hợp mới
kết thành năm uẩn, niệm thiện dấy lên thì sanh cõi lành,
niệm ác dấy lên thì sanh cõi ác. Vậy gốc sanh tử là do
niệm khởi, nhiều người không hiểu tưởng việc sanh tử
do ai áp đặt buộc mình phải nhận. Như vậy cái thân không
phải tự có, gốc từ niệm khởi mà thành.
“Thể
mạo vọng sanh hình dung giả có.” Hình dung tướng mạo do
vọng khởi thành hình, nên là hư giả không thật. Trong nhà
Phật nói khi chết nếu chúng ta khởi niệm thiện được sanh
cõi lành, khởi niệm ác phải đọa đường dữ, nếu khởi
niệm tịnh thì sanh về cõi tịnh. Vậy niệm khởi là duyên
để sanh ở đời sau, khi gần chết niệm nào mạnh sẽ dẫn
mình đi về cõi đó.
“Quên
thật quên gốc, hiện giả hiện dối, hoặc nữ hoặc nam,
hoặc đẹp hoặc xấu.” Quên thật quên gốc tức là quên
bản thể thanh tịnh sáng suốt, rồi dấy niệm. Từ dấy niệm
mới hiện ra tướng giả dối nên có thân nam thân nữ, hoặc
đẹp hoặc xấu. Thế nhưng tất cả chúng ta khi mang thân nào
lại bám vào thân đó cho là thật, rồi tự hào khi thấy mình
đẹp, hổ thẹn khi thấy mình xấu, bao nhiêu khổ vui do đó
mà sanh nên phải trầm luân mãi mãi. Thân này do niệm khởi
hiện ra là tướng động, vì động nên vô thường sanh diệt.
Mang thân vô thường sanh diệt mà tự hào mình đẹp mình xinh,
quả thật là vô minh tăm tối.
“Trọn
là buông tâm chạy đi, toàn không một bước trở về, chạy
rong trên đường sanh tử, mất tuốt ‘bản lai diện mục’.”
Trọn ngày chúng ta buông tâm chạy đi, tức là quên tâm thể
thanh tịnh, lại rong ruổi chạy theo vọng niệm duyên hợp
sáu trần. “Toàn không một bước trở về” là không có
một niệm nào hướng về tâm thể thanh tịnh, suốt ngày mải
duyên theo sắc, thanh, hương, vị... Sáng sớm thức dậy tìm
thức ăn ngon là chạy theo vị, thích nhìn hoa đẹp là chạy
theo sắc, muốn nghe lời hay là duyên theo tiếng... Như vậy
chúng ta chạy theo sáu trần, không một bước trở về, không
bao giờ quay lại tìm xem tâm thể thanh tịnh mình ở đâu,
còn hay mất. Sáu trần là tướng vô thường sanh diệt, đuổi
theo sáu trần tức là “chạy rong trên đường sanh tử”.
Đi trên đường sanh tử thì “mất tuốt bản lai diện mục”.
Bản lai diện mục là mặt thật ngàn thuở xưa nay, đây là
chỉ tâm thể thanh tịnh chưa động, chưa bao giờ sanh diệt.
Vì dấy niệm chạy theo sáu trần, tức là chạy theo cái sanh
diệt nên mất đi bản lai diện mục của mình. Đến đây
chúng ta thấy ngài Trần Thái Tông nếu không phải là người
ngộ đạo thì không làm sao nói được những câu như thế
này!
“Do
đó, giương mắt nhìn bên ngoài, ai biết xoay đầu ngó lại
bên trong.” Vì chúng ta chạy theo sáu trần, rong ruổi trên
đường sanh tử, nên cả ngày giương mắt nhìn tướng hư
dối bên ngoài, ít khi biết xoay đầu ngó lại bên trong, tức
là ngó lại cái thật của chính mình.
“Khi
lại, sanh là hóa sanh; nơi đến, trong mộng nói mộng.” Chúng
ta có mặt trên cõi trần này đó là khi lại, “sanh là hóa
sanh” tức là sự sanh do duyên hợp hóa ra chớ không có thật
(không phải hóa sanh như chư thiên trên các cõi trời). Nơi
đến tức là cõi chúng ta ở, “trong mộng nói mộng”, bởi
vì chỗ mình đang ở đối với chúng ta là một thế giới
vững chắc vô cùng, nhưng với con mắt của những vị đạt
đạo, thế giới này cũng là tướng vô thường. Vì thế Phật
bảo thế giới chúng ta đang ở có bốn tướng: Ban đầu mới
tạo dựng là Thành, ở một thời gian lâu gọi là Trụ, rồi
nó hư hoại từ từ gọi là Hoại, cho đến một ngày tan nát
ra là Không. Như vậy đối với chúng ta tuổi thọ thế giới
dài, tuổi thọ con người ngắn, nên thấy thế giới là lâu
bền, nhưng sự thật nó cũng là giả dối tạm bợ. Chúng
ta giữ thân cũng là thân mộng, giữ cảnh cũng là cảnh mộng,
không có cái gì bền lâu chắc thật.
“Lăng
xăng lộn xộn, vội vội vàng vàng, lấy giả làm chân, trái
không đến sắc.” Cả ngày chúng ta người nào cũng lăng
xăng lộn xộn! Sáng sớm vội vàng ăn một ít cơm, rồi vác
cuốc đi làm, đến trưa nghe đánh kiểng vội vác cuốc ra
về, tắm rửa ăn trưa, rồi vội vàng đi ngủ. Cứ như thế
mà lăng xăng suốt ngày, không có lúc nào bình an tỉnh táo!
Nhất là ở thế gian, sáng vừa thức dậy hấp tấp sửa soạn
ăn rồi đi làm, mãn giờ ở sở gấp gấp chạy về bất kể
nguy hiểm, đến nhà sửa soạn ăn và nghỉ, thức dậy lại
vội vàng đi đến sở, cứ như thế lăng xăng lộn xộn, vội
vội vàng vàng!
“Lấy
giả làm chân, trái không đến sắc.” Mang thân giả, chấp
cảnh giả, tưởng đó là thật. Trăm người như một cho rằng
ta là thật, cảnh bên ta là thật, trong nhà Phật danh từ chuyên
môn gọi là ngã và ngã sở, cho đó là thật nên nói “lấy
giả làm chân”. “Trái không đến sắc” tức là trái với
thể thanh tịnh không tướng mạo, rồi đến với hình sắc
có tướng mạo. Hình sắc là duyên hợp, vô thường, duyên
hợp là giả dối, vô thường là tạm có, lại cho đó là
thật, nên nói là “trái không đến sắc”.
Đến
phần này ngài Trần Thái Tông nói về sự trau giồi trang sức
trên thân người.
“Đầu
sọ khô cài hoa giắt ngọc, túi da hôi ướp xạ xông hương,
cắt lụa là che đậy máu tanh, giồi son phấn át thùng phân
thúi.”
“Đầu
sọ khô cài hoa giắt ngọc” tức là trên đầu ai cũng là
một lớp da tóc bao bọc xương sọ, nếu lột lớp da ra thì
chỉ là một cái sọ khô! Thế mà trên tóc lại cài hoa giắt
ngọc làm đẹp để dễ coi. “Túi da hôi ướp xạ xông hương”,
vì mang túi da hôi hám nên kiếm xạ hương xông ướp cho thơm
để dễ ngửi một chút, đó là cách đánh lừa thiên hạ,
gạt lỗ mũi người. Nếu túi da mình thơm mùi hoa sen thì khỏi
phải xông ướp xạ hương, vì nó đã tự thơm rồi. Nhưng
vì túi da hôi hám nên buộc lòng phải ướp thêm hương. Thí
dụ như sáng ngủ thức dậy, chúng ta phải rửa mặt súc miệng
đánh răng cho sạch sẽ để bớt đi mùi hôi. Biết thân mình
là một đãy da tanh hôi cho nên “cắt lụa là che đậy máu
tanh”, vì máu để ra ngoài thì có mùi tanh nên phải kiếm
lụa là che đậy lại cho kín đáo. “Giồi son phấn át thùng
phân thúi”, thân là thùng phân thúi cần thoa son giồi phấn
để che khuất cho dễ coi.
Đọc
đoạn này chúng ta mới cảm nhận được tinh thần của ngài
Trần Thái Tông. Trong triều đình nhất là trong thâm cung có
biết bao nhiêu là cung phi mỹ nữ trang sức lộng lẫy, nào
là cài hoa giắt ngọc, ướp xạ xông hương, nào là mặc lụa
là giồi son phấn..., thế mà Ngài thấy tận gốc chỉ là
đầu sọ khô, túi da nhớp, máu tanh hôi, thùng phân thúi, chớ
không có gì là đẹp đẽ mỹ miều! Thấy hiểu như vậy Ngài
có còn đắm mê những tướng giả dối đó hay không? Chắc
là Ngài đã chán đã tởm lắm rồi! So lại chúng ta ngày nay
lại tìm những thứ trang sức đẹp đẽ, kiếm những hương
thơm để xông ướp, thật là quá mê muội!
“Trang
sức như thế trọn là gốc nhớp. Không thể nơi đây tự
thẹn, lại hướng trong ấy mến yêu.” Các thứ trang sức
đều là để che đậy thân nhớp nhúa thôi, không có gì là
quí. Biết rõ bản chất thân người dơ xấu gớm ghê như
vậy phải tìm cách che đậy nó lại, sao không biết hổ thẹn,
lại còn tự hào mến yêu nó nữa, thật là mê lầm quá đáng.
“Hết
thảy các người! Giống hệt con rối, đều nhờ sợi tơ kéo
rút, đùa đến đùa đi, cùng sanh một thứ, sau khi buông đi,
thật là dáng chết.” Như con rối chúng ta cho nó nhảy múa
là do kéo rút sợi dây ở bên trong, chớ thật ra nó không
có múa nhảy chi hết. Nếu buông sợi dây ra thì nó đứng
xuôi xị, không còn cử động nữa thật như dáng chết. Thân
của chúng ta cũng giống như con rối vậy, nghĩa là thân này
còn tinh thần nương tựa vào thì nó nhảy múa làm đủ động
tác, đến khi tinh thần rời ra thì thể xác cứng đờ như
một khúc gỗ, không có nghĩa gì. Cuộc sống lăng xăng của
chúng ta chẳng qua là do duyên hợp của cơ thể, giống như
cái máy, khi ấn nút thì chạy nhảy lăng xăng, khi buông nút
thì dừng lại. Thân chúng ta là kết tụ cả thể xác lẫn
tinh thần làm tất cả các hoạt động, khi tinh thần rời
thể xác, lúc đó như khúc cây khô, không nghĩa lý gì. Thân
này còn gọi là cơ thể tức là máy thân, nó hoạt động
như một cái máy vậy. Thí dụ như máy xe cần có xăng nhớt
mới chạy được, không đòi hỏi loại xăng nhớt hảo hạng.
Máy thân của chúng ta cũng vậy. Khi bao tử trống hoạt động
không nổi, lúc đó chỉ cần vài chén cơm hay một khúc bánh
mì bỏ vào bao tử là máy chạy rồi, giả sử như cơm nguội
hay bánh mì khô cũng được, không đòi hỏi phải có thức
ăn thơm ngon bao tử mới chấp nhận. Sở dĩ chúng ta cực khổ
làm thức ăn ngon đủ mùi vị là do cái lưỡi, đó chẳng
qua là thỏa mãn cảm giác nhỏ mọn tầm thường, chớ không
phải là điều cần thiết.
“Tự
khởi muôn việc tính toán, đều do lục tặc công phá.” Chúng
ta tính toán lăng xăng, tất cả đều do lục tặc công phá.
Lục tặc tức là sáu căn, khi tiếp xúc với sáu trần sanh
ưa thích, như mắt thích sắc đẹp, tai thích tiếng hay, mũi
thích mùi thơm, lưỡi thích vị ngon v.v..., nên các lo toan tính
toán hằng ngày của chúng ta đều do sáu tên giặc này phá
phách không cho chúng ta được yên ổn.
“Chẳng
lo già bệnh chết đến, chỉ thích sắc tài rượu thịt.”
Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ thích đắm theo sắc đẹp,
tiền bạc rượu thịt. Cả ngày chỉ lo có bao nhiêu việc
đó mà quên đi cái già bệnh chết đã chờ chực một bên
mình.
“Luống
đua đầu lằng sừng ốc, cam chịu lợi ràng danh buộc. Trọn
ngày dồn sức mong cầu, tối lại trở thành mộng tưởng.”
Luống đua theo những việc tạm bợ nhỏ nhoi như đầu con
lằng, con nhặng (con ruồi xanh), sừng con ốc sên. Đây là
chỉ chúng ta đua chạy theo những chuyện rất tầm thường
nhỏ mọn, rồi cam chịu sự buộc ràng của danh lợi chớ
không có ích gì! Trọn ngày cứ mong cầu hết điều này đến
điều khác, mong cầu nhiều mà chưa được toại nguyện, nên
tối ngủ những điều mơ ước biến thành cảnh mộng.
“Chất
chứa nghiệp dơ như giếng, chẳng biết tóc bạc như sương.
Một hôm bệnh nặng trầm kha, trăm năm trọn về mộng lớn.”
Nghiệp xấu chứa chất nhiều như giếng sâu bao nhiêu cũng
chưa đầy, không nhớ trên đầu tóc đã bạc như sương, tức
là cái già đã đến, mà chỉ nhớ tạo nghiệp thôi. Tất
cả chúng ta thấy cái mê muội của con người thật quá lắm,
già chết đuổi gấp bên mình mà không bao giờ thức tỉnh,
chỉ tạo nghiệp mãi mãi không dừng. Đến khi gặp cơn bệnh
nặng nằm liệt trên giường không thể tới lui đi đứng
được nữa, mới biết “trăm năm trọn về mộng lớn”.
Những tưởng tuổi thọ được trăm năm, nhưng khi sắp chết
ôn lại cuộc đời giống như giấc mộng đêm qua. Những gì
mình đã tạo, bao nhiêu danh lợi, bao nhiêu thân bằng quyến
thuộc v.v..., khi sắp lâm chung nhớ lại đâu còn gì, chẳng
qua là một giấc mộng lớn mà thôi.
“Tim
gan đau đớn dường thể oán thù, thân thể ốm gầy, giống
như quỉ đói. Còn muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát
sanh hại mạng. Chỉ mong biết đời sống như tùng bá, đâu
ngờ thân thể ví tựa nhà xiêu.” Đây tả cơn bệnh nặng,
tim gan hành hạ mình đau đớn dường như oán thù, muốn cắt
bỏ nó đi. Thân thể gầy ốm nằm liệt trên giường, giống
như quỉ đói. Lại đi hỏi thầy bùa thầy pháp cầu cho hết
bệnh, phải làm bò làm trâu cúng thì họ sẽ trị cho. Muốn
được sống dai lại còn giết hại sanh mạng, đó là điều
rất trái với lẽ thật. Chỉ mong đời sống của mình bền
vững lâu dài như cây tùng cây bá sẽ xanh tươi mãi mãi; đâu
ngờ thân thể khi sắp tàn ví tựa nhà xiêu, chỉ một cơn
gió nhẹ thổi qua cũng đủ sập rồi.
“Hồn
phách tuy về cõi quỉ, thi hài vẫn còn ở nhân gian, tóc lông
răng móng chưa kịp tiêu, đàm dãi máu me đều chảy trước.
Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi hám ắt xông trời xông
đất, đen nám chẳng dám nhìn, xanh bầm thật đáng tởm.”
Khi tắt thở hồn phách đi về cõi quỉ, bởi vì khi sống
không tạo duyên lành, không tạo nghiệp tốt, nên khi chết
phải đi vào cõi quỉ hay cõi địa ngục. Khi hồn phách đi
rồi thi hài vẫn còn ở nhân gian, chất cứng như tóc lông
răng móng chưa kịp tiêu, còn chất nước như đàm dãi máu
me đều chảy ra trước. Nếu thân chết chưa kịp chôn thì
sẽ rữa nát, máu mủ chảy trào, hôi hám xông trời xông đất,
ai đi qua cũng phải bịt mũi đi mau, da đen nám chẳng dám nhìn,
xanh bầm thật đáng tởm. Giả sử sắc đẹp như Tây Thi mà
chết năm ba hôm chưa chôn, cũng chỉ là cái thây ma hôi thúi.
Khi sống dường như thân thuộc ruột rà, lúc chết lại sợ
không dám đến gần nhìn kỹ, như vậy tình nghĩa gì, chỉ
là tạm bợ mà thôi.
“Chẳng
luận giàu nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì
giòi đục tửa sinh, hoặc ném ra đường quạ ăn chó xé. Người
đời đều bịt mũi đi qua, con hiếu thì lấy chiếu mền quấn
giấu.” Dù giàu hay nghèo ai ai rồi cũng chết, nếu để trong
nhà thì giòi đục tửa sinh, nếu bỏ ra ngoài đường thì
quạ ăn, chó xé, không được toàn thây. Mùi hôi thúi xông
lên, người đi ngang chịu không nổi phải bịt mũi, con hiếu
thảo thương xót kiếm mền chiếu quấn kỹ che kín lại.
“Nhặt
thu hài cốt, chôn cất thịt xương. Quan quách phó cho đóm
lửa ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm núi sông.”
Khi chôn cất xong rồi thì đêm đến thấy lửa ma trơi lốm
đốm nơi hoang dã, mồ mả để mặc nằm đó không ai lui tới,
một năm trở lại thăm một lần, đó là hiếu đễ lắm rồi.
“Khi
xưa tóc đen má ửng, ngày nay xương trắng tro đen. Khi mưa
lệ rơi thì mây sầu thê thảm, lúc gió buồn thổi thì trăng
sáng hắt hiu.” Đây mới ôn lại, khi xưa tóc đen nhánh má
ửng hồng, ngày nay thì xương trắng tro đen, xưa nay khác nhau
biết là bao nhiêu! Nấm mồ nằm giữa đồng hoang gặp lúc
mưa rơi như lệ, thì mây sầu buồn thảm vô cùng, khi gió
buồn thổi, thì trăng sáng hắt hiu cô quạnh. Khi sống con
cháu đầy nhà, chết rồi ra nằm ngoài đồng vắng một mình,
không ai lai vãng ngó ngàng, phó cho gió táp mưa sa.
“Đêm
vắng thì quỉ khóc thần sầu, năm dài thì ngựa giày trâu
đạp. Lửa đom đóm lập lòe trong đám cỏ xanh, tiếng dế
ngâm nỉ non cạnh hàng dương liễu. Bia ghi nửa chìm, rêu xanh
phủ, tiều phu giậm mãi thành lối mòn.” Khi đêm vắng nghe
những âm thanh buồn bã như tiếng quỉ khóc thần sầu. Trải
qua nhiều năm tháng, mồ mả bị ngựa giày trâu đạp, vì
các chú mục đồng thả trâu ngựa đi ăn trong đám mộ. Trong
đám cỏ xanh rậm rạp chỉ thấy lửa đom đóm chớp chớp
lập lòe, hoặc nghe tiếng dế ngâm nỉ non dưới hàng dương
liễu. Tấm bia ghi tên họ người mất lâu ngày bị chìm hết
phân nửa dưới đất, phân nửa trên còn lại bị rêu xanh
che phủ. Các chú tiều phu vạch cỏ đi, giậm mãi thành lối
mòn cho người qua lại.
“Dù
cho văn chương cái thế, giả sử tài sắc nghiêng thành, chung
cuộc đâu có đường khác, cuối cùng cũng chỉ một lối
đi.” Dù cho văn chương cái thế ai nghe cũng quí cũng trọng,
dù cho sắc đẹp nghiêng thành ai nhìn cũng mến cũng yêu, nhưng
rốt cuộc rồi đi tới đâu, cuối cùng chỉ đi tới cái chết,
không có con đường nào khác!
“Mắt
bị sắc dẫn trèo lên cây kiếm; tai theo tiếng lôi tiến lên
núi đao; lỗ mũi ngửi toàn mùi hôi hám; trong lưỡi ăn sắt
nóng nuốt hoài; thân khiếp sợ nước đồng sôi nóng dội;
ý chua cay vạc dầu sôi nung nấu. Nhân gian trọn một trăm
năm, trong địa ngục mới là sáng tối.” Hằng ngày mắt
chúng ta đắm đuối nhìn theo sắc đẹp, nên khi nhắm mắt
sức mê sắc đẹp dẫn chúng ta trèo lên cây kiếm, bị lưỡi
kiếm cắt da xẻ thịt; tai mê đắm tiếng hay, nên khi chết
nghiệp lôi trèo lên ngọn núi đao; mũi dính mùi nên nó lôi
mình đến chỗ tanh hôi nhơ nhớp; lưỡi thích vị ngon nên
phải ăn những hoàn sắt nóng; thân thích những xúc chạm
vừa ý thì bị nước đồng sôi dội trên thân; còn ý ưa
cay nghiệt với mọi người sẽ bị vạc dầu sôi nung nấu.
Đây là nói các họa do sáu căn đắm luyến sáu trần, kết
quả phải chịu những khổ đau như vậy! Ở nhân gian sống
được một trăm năm chỉ bằng một ngày một đêm trong địa
ngục chịu những khổ đau dồn dập, ở địa ngục cả ngàn
năm thì bằng ở nhân gian cả triệu năm, chịu khổ sao cho
thấu. Nếu chúng ta đắm mê theo sáu trần tạo nghiệp hung
dữ ác độc, thì phải đọa địa ngục chịu đau khổ không
biết là bao lâu, nên cái vui quá ngắn mà cái khổ quá dài.
Thế mà người đời đâu có sợ đâu có tỉnh, cứ đua tìm
cho được những gì vui thích, quên đi cái khổ lâu dài phải
chịu ở ngày mai.
Đoạn
văn trên ngài Trần Thái Tông diễn tả đời người chúng
ta từ khi mới sanh ra đến lúc già bệnh rồi kết cuộc là
chết. Sau khi chết sẽ chịu đau khổ như thế nào, Ngài đều
diễn tả đầy đủ cho chúng ta thấy rõ. Đến đây Ngài mới
đánh thức chúng ta:
“Nếu
người tác gia đủ mắt, cần phải sớm gấp hồi quan, chuyển
thân nhảy khỏi vòng sanh tử, khoảng khảy tay cắt đứt lưới
ái ân.” Nếu là người tác gia đủ con mắt sáng, tác gia
là người có trí tuệ thấy rõ được lẽ thật, có thể
hướng dẫn chỉ dạy cho người khác, đủ con mắt sáng tức
là đủ con mắt trí tuệ; “cần phải sớm gấp hồi quan”,
hồi quan là xoay lại xem xét chính mình, chữ hồi quan có giá
trị rất sâu đậm trong Phật giáo. Bởi vì chúng ta sống
mà đuổi theo sáu trần, là chúng ta lệ thuộc bên ngoài, chạy
theo cái vô thường sanh diệt. Khi bị lệ thuộc ngoại trần
rồi, chúng ta lại bị chi phối bởi những tâm niệm tham sân
si. Đuổi theo được là tham, không được thì lòng sân nổi
dậy; rồi từ cái mê muội không thấy được lẽ thật, đuổi
theo nắm bắt sáu trần, chúng ta gây tạo không biết bao nhiêu
tội nghiệp, phải chịu bao nhiêu cảnh khổ ở ngày mai. Thế
nên nếu là người trí tuệ sáng suốt, phải xoay lại nhìn
xem thân này là thật hay giả, kế đó nhìn lại xem những
tâm niệm mình là thật hay giả. Thấy rõ được bản chất
không thật của thân và những tâm niệm rồi, chúng ta mới
tìm được cái chân thật không niệm dấy khởi của mình,
đó là cái chân thật bất sanh bất diệt, mà trong nhà Thiền
gọi là “bản lai diện mục”; trở về nơi đó chúng ta
mới thoát được vòng sanh tử. Vậy nếu chúng ta muốn nhảy
khỏi vòng sanh tử, thì phải nhanh như khoảng khảy móng tay
cắt đứt hết lưới ái ân. Ái là yêu mến, là quyến luyến,
ràng buộc giữa người này với người kia, cho nên có yêu
mến là có buộc ràng! Giả sử có hai người làm bạn với
nhau, nếu mến nhau nhiều tức có sự buộc ràng. Huống nữa
hai người khác phái yêu nhau, lại thêm con cái trói buộc làm
sao gỡ nổi! Vậy nếu chúng ta quyết tâm nhảy khỏi vòng
sanh tử thì phải cắt nhanh cho đứt hết lưới ái ân.
“Dù
là nam hay nữ thảy đều tu được; dẫu rằng trí hay ngu trọn
đều có phần.” Dù là người nam hay người nữ ai cũng tu
được, dù là người trí hay người ngu cũng đều có phần,
việc tu không dành riêng cho ai. Trên đường tu cửa mở rộng,
ai cũng có thể tiến vào, nhưng với điều kiện là phải
can đảm nhìn rõ lại mình, rồi phải cắt đứt hết những
sợi dây ân ái buộc ràng.
“Nếu
chưa đạt được Phật tâm Tổ ý, hãy trước nương trì giới
tụng kinh. Đến lúc Phật cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng
phải, thì giới gì trì, kinh nào tụng.” Nếu chúng ta chưa
ngộ được tâm Phật, chưa thấu suốt được ý Tổ, thì
trước phải ráng giữ giới và tụng kinh. Đến lúc Phật
cũng chẳng phải, Tổ cũng chẳng phải, đó chính là lúc nhận
ra “bản lai diện mục” tức là mặt thật xưa nay của mình.
Đã là mặt thật xưa nay của mình thì đâu phải là của
Tổ, đâu phải là của Phật, nói của Phật là trật, nói
của Tổ là sai, cho nên nói: “Phật cũng chẳng phải, Tổ
cũng chẳng phải”, mà chính là bản lai diện mục của mình.
Sống được với cái đó rồi thì nói gì trì giới, nói gì
tụng kinh. Tại sao? Vì sống với bản lai diện mục thì không
có niệm khởi, không niệm khởi thì đâu có phạm giới. Có
niệm thì có niệm thương niệm ghét, niệm danh niệm lợi,
không có niệm thì còn gì phải trì giới. Còn tụng kinh là
nhắc lại lời Phật để tỉnh giác, nếu đã sống với cái
tỉnh giác thì nhắc lại lời Phật cũng là dư, cho nên tới
đó rồi thì còn kinh gì mà tụng. Vì thế chúng ta phải hiểu
thật rõ, đừng hiểu lầm, chưa tới chỗ mà không cần trì
giới, không cần tụng kinh, đó là nói sai không đúng lẽ
thật. Khi nào chúng ta hằng sống được với bản lai diện
mục rồi, chừng đó cũng không phải Phật, cũng không phải
Tổ, nói gì là trì giới tụng kinh.
“Nơi
sắc uẩn cũng là chân sắc, ở thân phàm cũng là thân Phật.”
Khi ấy ngay trong sắc uẩn này cũng là chân sắc, ngay nơi thân
phàm tục này cũng là thân Phật. Tại sao? Vì mê tưởng huyễn
là thật nên bị huyễn mê hoặc, khi tỉnh rồi biết là huyễn,
từ sắc huyễn thấy được cái chân thật nên gọi là chân
sắc. Còn ngay thân phàm mà chúng ta tưởng là thật, nên thân
này hoại diệt chúng ta đau khổ. Nếu ngay thân phàm này, chúng
ta nhận ra bản lai diện mục, đó là thấy thân Phật, chớ
không có đâu khác.
“Phá
sáu thức làm sáu thần thông, dạo tám khổ thành tám tự
tại.” Khi ngộ rồi thì phá sáu thức làm thành sáu thần
thông. Như sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý, do thức duyên
theo sáu trần nên thành lục tặc. Khi sáu căn không còn vọng
thức duyên theo sáu trần, thấy nghe mà không dính mắc, đó
là phá lục tặc thành lục thông, hay là phá sáu thức thành
sáu thần thông.
“Dạo
tám khổ thành tám tự tại”, tám khổ là sanh, già, bệnh,
chết, ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc và ngũ ấm
xí thạnh khổ, tức là thân năm ấm này là khổ. Khi chúng
ta mê thì có bốn cái khổ của thân: vô thường, khổ, vô
ngã và bất tịnh. Trong kinh Niết-bàn dạy, khi ngộ được
pháp thân thì được bốn tự tại là thường, lạc, ngã,
tịnh. Còn đối với tám khổ, được tám tự tại, kinh Niết-bàn
dẫn tám tự tại là:
1.-
Một thân hiện nhiều thân như số vi trần.
2.-
Một thân vi trần ở khắp cõi đại thiên.
3.-
Thân Phật lớn đến cả các thế giới.
4.-
Phật hiện vô số thân.
5.-
Sáu căn hỗ dụng.
6.-
Phật đạt được tất cả pháp mà như không được.
7.-
Phật thuyết pháp một bài kệ trải vô số kiếp.
8.-
Thân khắp các nơi như hư không.
Đây
là tám tự tại khi đạt được pháp thân.
Đoạn
khác nói về Pháp giới thứ đệ, có tám tự tại là:
1.-
Hay từ lớn mà thu lại nhỏ.
2.-
Hay từ nhỏ mà hóa ra lớn.
3.-
Hay nhẹ nhàng vượt đi trong hư không.
4.-
Hay tự tại, nghĩa là tùy muốn đi trong không, xuống nước
hay vào đất đều tự tại.
5.-
Hay có chủ tức là mình làm chủ tự tại đối với tất
cả những cái bên ngoài.
6.-
Hay đến xa tức là vừa nghĩ là đến.
7.-
Hay động tức là mình làm cả thế giới chuyển động gọi
là lục chủng chấn động, đó đều là do sức thần thông
của mình.
8.-
Tùy ý nghĩa là tùy ý muốn làm gì cũng được.
Như
vậy nếu chúng ta khéo tu thì từ lục tặc biến thành sáu
thần thông, từ tám khổ biến thành tám tự tại. Đó là
tự mình chuyển chớ không ai thay cho mình mà chuyển được,
điều này hết sức rõ vậy.
“Tuy
nói thế ấy, mà mỗi người vào trong sắc thân rồi, bỏ
đó thật khó thay.” Tuy giảng nói như vậy, nhưng trên sự
thật khi mang sắc thân này rồi muốn bỏ nó là chuyện không
phải giản đơn, thật là cay đắng.
“Hết
thảy các người! Chỉ sắc thân này lại làm sao giải thoát?
Nếu chưa giải thoát, cần phải nghe đây.” Mỗi người chúng
ta phải giải thoát sắc thân này, nhưng làm sao giải thoát?
Nếu chưa được giải thoát, cần phải nghe bài kệ sau đây:
Vô
vị chân nhân thịt đỏ au,
Hồng
hồng bạch bạch chớ lầm nhau,
Ai
hay mây cuộn, không toàn tịnh,
Sương
biếc bên trời, một núi xanh.
Bốn
câu kệ này rất là thâm thúy.
“Vô
vị chân nhân” là từ của Tổ Lâm Tế. Một hôm Tổ Lâm
Tế ở trước hội chúng nói: “Các ngươi hãy nghe, nơi trước
mặt các ngươi có vô vị chân nhân thường ra vào.” Vô vị
chân nhân là người chân thật không có ngôi vị, không có
chỗ nơi, vô vị chân nhân cũng tức là tên khác của bản
lai diện mục, từ trong cửa mặt chúng ta ra vào. Như vậy
ai cũng có vô vị chân nhân, từ khác là tâm thể thanh tịnh.
Tâm thể này không tướng mạo, nên không chỗ nơi, không ngôi
vị, đó là chân nhân, con người chân thật. Chân nhân ở
ngay nơi thân thịt đỏ au này, nơi thân thịt máu mủ này
không phải tìm kiếm nơi nào khác.
“Hồng
hồng bạch bạch chớ lầm nhau.” Hồng là đỏ, bạch là
trắng. Ngay nơi thân thịt có những hình sắc hoặc đỏ hoặc
trắng, đừng có lầm nó, nghĩa là đừng mắc kẹt ở khối
thịt đỏ au, mà phải thấy được vô vị chân nhân ở trong
đó. Nếu thấy khối thịt đỏ mang màu sắc trắng hồng rồi
có yêu có ghét đó là lầm, rồi chìm đắm trong cái lầm
mà phải khổ.
Đến
hai câu kết:
Ai
hay mây cuộn, không toàn tịnh,
Sương
biếc bên trời, một núi xanh.
Có
ai biết rằng khi mây cuốn hết chỉ có hư không hoàn toàn
trong sạch. Bên trời mù sương đã tan, chỉ còn bầu trời
trong, lúc đó ngọn núi xanh hiện sừng sững trước mắt chúng
ta.
Trong
bài kệ trên, hai câu đầu chủ yếu ngài Trần Thái Tông muốn
cho chúng ta hiểu rõ ngay nơi thân thịt hôi hám bẩn thỉu
của chúng ta có một cái chân thật sẵn ở trong ấy. Chúng
ta đừng lầm những màu sắc của thân thịt này để rồi
phải tạo nghiệp chịu khổ. Khi chúng ta hết lầm thân này,
những ý niệm đen tối đã tan vỡ, lúc đó giống như mây
bị cuộn đi chỉ còn một khoảng hư không trong sạch. Chúng
ta nhìn nơi vùng sương mù đã tan rồi một ngọn núi xanh hiện
ra rõ ràng. Ngọn núi xanh để chỉ cái gì? Sương mù để
nói cái gì? Sương mù có thể là hình dáng của khối thịt
đỏ au, hay của thân tứ đại, hay những tâm cuồng loạn
của chúng ta. Khi những tâm niệm cuồng loạn đã lặng yên
rồi, chúng ta sẽ thấy ngọn núi bất động sừng sững trước
mắt. Ngọn núi là chỉ bản lai diện mục sẵn có tự thuở
nào của chúng ta, hay nói cách khác là chỉ vô vị chân nhân
sừng sững ở trước mắt.
Qua
bài “Nói Rộng Sắc Thân”, chúng ta thấy vua Trần Thái Tông
có cái nhìn rất thấu đáo, Ngài diễn tả đầy đủ về
con người phàm tục mà chúng ta đang mê đắm. Ngài tuần tự
chỉ cảnh sanh già bệnh chết của con nguời và cuối cùng
chỉ ra một lối đi, một lẽ thật để chúng ta biết mà
tu, hầu vượt khỏi mọi mê muội lầm lẫn. Thoát khỏi các
mê muội lầm lẫn chúng ta sẽ đến chỗ giác ngộ an lành
thanh tịnh.
Đọc
bài này chúng ta thấy ngài Trần Thái Tông tuy là vua ngồi
trên ngai vàng mà Ngài có cái nhìn tường tận về bản chất
con người, không bị những tài sắc danh lợi quyến rũ đến
phải mờ mịt như những vị vua khác.