BỐN
NÚI
Dịch
Nguyên
là, tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có. Do không khởi
vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không. Vọng ấy từ
không, không hiện vọng, vọng sanh các sắc. Đã trái không
sanh không hóa, mải làm có hóa có sanh. Không sanh hóa thì không
hóa không sanh, có hóa có sanh nên có sanh có hóa. Hoặc sanh
Thánh hiền ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng. Luôn luôn
chìm đắm nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ. Mờ
mờ mịt mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng
tỉnh chẳng ngộ. Trọn là buông tâm chạy đi, đều không
nắm mũi kéo về. Khiến đến qua lại sáu đường, xuống
lên bốn núi. Bốn núi là: sanh, già, bệnh, chết. Nay lần
lượt trình bày bốn núi để lại đời sau.
KỆ BỐN NÚI
Bốn
núi cheo leo vạn khóm tùng,
Ngộ
xong chẳng có, muôn vật không.
Mừng
được ba chân lừa có sẵn,
Cỡi
lên thúc mạnh vượt cao phong.
NÚI
THỨ NHẤT
NÚI
THỨ NHẤT LÀ TƯỚNG SANH. Vì sai một niệm nên hiện đa đoan.
Gá hình hài nơi tinh huyết mẹ cha, nương khí âm dương dưỡng
nuôi thai nghén. Trong tam tài người đứng giữa, lại hàng
chí linh của muôn vật. Chẳng luận kẻ trí người ngu, đều
thuộc bào thai bao bọc; hỏi chi một người trăm họ đều
trong lò bễ mà ra. Hoặc mặt trời biểu hiện, vua thánh giáng
sanh, hoặc các sao ứng điềm, tôi hiền xuất hiện. Văn chương
quét sạch ngàn quân, võ lược chiến thắng trăm trận. Trai
cậy phong tư ném quả, gái khoe sắc đẹp nghiêng thành. Một
trận cười nghiêng nước, hai trận cười đổ thành. Đua
danh khoe đẹp, tranh lạ đấu trân, xem ra thảy đều luân hồi,
đáo để khó trốn sanh hóa.
Tướng
sanh của người là mùa xuân của năm. Hanh thông đang độ
tam dương, muôn vật rực màu tươi tốt. Một trời trong sáng,
nơi nơi liễu thắm hoa hồng; muôn dặm phong quang, chốn chốn
oanh kêu bướm lượn.
Kệ
rằng:
Trời
đất nấu nung vạn tượng thành,
Xưa
nay không mống cũng không manh.
Chỉ
sai hữu niệm quên vô niệm,
Liền
trái không sanh nhận có sanh.
Mũi
đắm các hương, lưỡi tham vị,
Mắt
mờ chúng sắc, tiếng mê tai.
Lang
thang làm khách phong trần mãi,
Ngày
cách quê hương muôn dặm trình.
NÚI
THỨ HAI
NÚI
THỨ HAI LÀ TƯỚNG GIÀ. Hình dung thay đổi, khí huyết đã
suy, dáng gầy tuổi cao, ăn uống hay sặc thường nghẹn. Tóc
xanh má đỏ đổi thành tóc bạc da gà, ngựa trúc áo hoa lại
thành gậy cưu xe cói. Dẫu rằng mắt sáng như Ly Lâu cũng
khó phân rành màu sắc; dù cho tai thính như Sư Khoáng cũng
khôn nhận rõ âm thanh. Tiều tụy như cây liễu lúc thu về,
điêu linh như đóa hoa khi xuân hết. Bóng chiều vừa ngả non
tây, dòng nước sắp chảy về biển đông.
Tướng
già của người là mùa hạ của năm. Trời nóng đá chảy
muôn vật đều khô, nắng nóng sôi vàng trăm sông sắp cạn.
Hoa tàn liễu úa, bờ lạch trong vườn há còn lưu giữ. Bướm
lượn oanh bay, dưới lá đầu cành già sắp tới.
Kệ
rằng:
Con
người kiếp sống tợ phù âu,
Thọ
yểu người trời chớ vọng cầu.
Bóng
ngả nương dâu, chiều sắp đến,
Thân
như bồ liễu tạm qua thu.
Phan
Lang thuở nọ còn xanh tóc,
Lữ
Vọng ngày nay đã bạc đầu.
Cuồn
cuộn việc đời trôi chẳng đoái,
Vâng
ô gác núi, nước trôi xuôi.
NÚI
THỨ BA
NÚI
THỨ BA LÀ TƯỚNG BỆNH. Tuổi đã già khọm, bệnh đến cao
hoang. Chân tay mỏi mệt, mạch lạc khó thông, trăm lóng rã
rời, nóng lạnh chẳng thuận. Tan mất tánh chân thường, sai
lệch nguồn điều sướng. Ngồi đứng khó khăn, co duỗi đau
đớn. Mạng dường ngọn đèn trước gió, thân như hòn bọt
trên sông. Tâm sanh bóng quỉ lô nhô, mắt thấy không hoa lốm
đốm. Hình hài gầy yếu, ai là Biển Thước thuốc thang; thân
thể hao mòn, nào kẻ Lư Nhân cứu chữa. Bạn bè luống nhọc
viếng thăm, anh em uổng sức nâng đỡ. Bệnh nặng nhiều tháng
chẳng lành, nằm liệt nhiều tuần chưa khỏi.
Tướng
bệnh của người là mùa thu trong năm. Gặp khi sương lạnh
mới rơi, đến lúc cỏ cây đều héo. Rừng rậm sum sê một
trận gió vàng đã lơ thơ; núi biếc non xanh, móc ngọc mới
sa liền trơ trọi.
Kệ
rằng:
Âm
dương trái vận vốn xoay vần,
Gieo
rắc tai ương đến thế nhân.
Đại
để có thân thì có bệnh,
Ví
bằng không bệnh cũng không thân.
Linh
đơn chớ cậy trường sanh thuật,
Lương
dược khó mong được sống bền.
Sớm
nguyện xa lìa ma cảnh giới,
Xoay
tâm về đạo, dưỡng thiên chân.
NÚI
THỨ TƯ
NÚI
THỨ TƯ LÀ TƯỚNG CHẾT. Bệnh càng trầm trọng mạng sắp
cáo chung. Tuổi thọ mong hưởng trăm năm, thân thế trở thành
giấc mộng. Thông minh trí tuệ khó trốn ngày đại hạn sắp
sang. Sức mạnh oai hùng đâu chống được khi vô thường đã
đến. Thiếp thuận vợ trinh trở thành đau thương đứt ruột;
anh nhường em kính vội nên ly biệt suốt đời. Vật mình
lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường hoa nhà rộng có làm
chi, ngọc đụn vàng kho rồi cũng bỏ. Dạ đài mù tối, luống
nghe gió bấc vi vu, tuyền hộ then gài, chỉ thấy mây sầu
ảm đạm.
Tướng
chết của con người là mùa đông trong năm. Càn khôn ứng
Thái Tuế tròn vòng, nhật nguyệt hướng Huyền Hiều hội
tụ. Âm tinh cực thịnh, khắp trời mưa tuyết bời bời, dương
khí tan dần, nước tám đức đóng băng càng lạnh buốt.
Kệ
rằng:
Cào
đất đùng đùng trận gió hanh,
Lão
ngư say tít, chiếc thuyền chành.
Bốn
bề mù mịt mây sầm bóng,
Một
dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.
Theo
lớp hạt mưa bay phấp phới,
Dồn
nhau tiếng sét nổ đì đoành.
Giây
lâu tan bụi, bên trời tạnh,
Trăng
lặn lòng sông, đêm mấy canh?
(NGÔ
TẤT TỐ)
Bão
táp cuồng phong đất bụi bay,
Lão
ngư say tít, chiếc thuyền lay.
Bốn
bề mây phủ màu đen kịt,
Một
dãy sóng gầm tiếng vang tai.
Sầm
sập trận mưa ào ạt đổ,
Ì
ầm xe sấm nổ vần xoay.
Tạm
thời bụi lắng, chân trời sáng,
Trăng
lặn lòng sông, canh mấy ai?
Giảng
BỐN
NÚI
Bốn
núi này là y cứ trong kinh, ngài Trần Thái Tông diễn tả cho
chúng ta dễ hiểu. Trong Hán tạng, kinh Tạp A-hàm bài 1147 có
nói về bốn núi. Tạng Pali kinh Tương Ưng Bộ bài 136 (Hòa
thượng Minh Châu dịch) cũng nói về bốn núi. Một hôm vua
Ba-tư-nặc đi chinh phạt loạn quân ngoài biên giới, đánh
thắng kéo quân về đến gần tinh xá của Phật ông dừng
quân lại, đích thân đến lễ Phật. Phật hỏi: Đại vương
đi đâu về xem có vẻ nhọc nhằn? Vua bạch: Con đi chinh phạt
bọn ngoại xâm, vừa chiến thắng trở về. Khi nói nhà vua
hiện ra kiêu khí của người thắng trận. Đức Phật hỏi:
Này Đại vương, nếu có người ở phương đông đến thưa
thế này: Tôi thấy một ngọn núi từ phương đông lăn lần
lần về đây, lăn đến đâu nghiền nát cỏ cây người vật
ở đó. Lại có một người phương nam tới cũng tâu: Đại
vương có một ngọn núi ở phương nam đang lăn về đây, tới
đâu nó đều nghiền nát cây cỏ người vật. Lại phương
tây, phương bắc, mỗi phương có một ngọn núi đang lăn về,
lăn đến đâu cây cỏ người vật đều bị nghiền nát. Nếu
có người báo bốn ngọn núi đang lăn về, tàn sát cây cỏ,
người, vật thì Đại vương sẽ cử đội quân nào để đi
chinh phục chúng? Nhà vua bạch: Dầu đội quân có tài trăm
trận trăm thắng đi nữa cũng không thể nào chinh phục được
bốn núi đó. Phật bảo: Bốn núi đó là sanh, già, bệnh,
chết. Dầu cho ai tài giỏi đến đâu, dũng mãnh đến đâu
cũng không thắng được, không chinh phục được sanh, già,
bệnh, chết mà đều bị chúng nghiền nát. Nghe như thế kiêu
khí của nhà vua không còn nữa. Đó là ý nghĩa bốn núi.
Trong
chúng ta ai cũng không khỏi bị bốn núi nghiền nát, chúng
ta đang thấy nó lăn từ từ gần đến mình. Như hiện nay
ba núi sanh, già, bệnh lăn tới tôi rồi, chỉ còn núi thứ
tư, núi tử nữa là kết cuộc. Như vậy ai cũng bị bốn núi
nghiền nát mà không hay và cũng không ai chống lại được
chúng. Thế nên người tu là muốn thoát bốn núi đó, không
để chúng nghiền nát. Còn người thế gian bị nó nghiền
mãi, sanh ra rồi lại bị nghiền nát, cứ như thế mà muôn
đời muôn kiếp không biết bao nhiêu lần khổ đau. Từ ý
nghĩa đó ngài Trần Thái Tông làm bài bốn núi.
“Nguyên
là tứ đại vốn không, ngũ ấm chẳng có. Do không khởi vọng,
vọng thành sắc, sắc tự chân không. Vọng ấy từ không,
không hiện vọng, vọng sanh các sắc. Đã trái không sanh không
hóa, mải làm có hóa có sanh. Không sanh hóa thì không hóa không
sanh, có hóa có sanh nên có sanh có hóa. Hoặc sanh Thánh hiền
ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng. Luôn luôn chìm đắm
nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ. Mờ mờ mịt
mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng tỉnh chẳng
ngộ. Trọn là buông tâm chạy đi, đều không nắm mũi kéo
về. Khiến đến qua lại sáu đường, xuống lên bốn núi.
Bốn núi là: sanh, già, bệnh, chết. Nay lần lượt trình bày
bốn núi để lại đời sau.”
Mở
đầu Ngài diễn tả: “Nguyên là tứ đại vốn không, ngũ
ấm chẳng có.” Đọc kinh Bát-nhã chúng ta thấy rõ tứ đại
không thật, năm ấm cũng không thật, nên nói tứ đại vốn
không, ngũ ấm chẳng có.
“Do
không khởi vọng, vọng thành sắc, sắc tự chân không”,
tức là do thể không dấy niệm khởi vọng, từ vọng biến
thành sắc chất, nên nói sắc chất gốc tự chân không, chớ
không phải riêng có. Điều này những nhà khoa học hiện đại
dễ tin, vì khi phân tích tột cùng sắc chất, họ thấy là
chân không chớ sắc chất không có cái thể riêng. Tóm lại
Ngài nói do không khởi sắc, tức là từ không rồi dấy vọng
thành sắc, sắc do vọng dấy từ chân không, nên không rời
chân không.
“Vọng
ấy từ không, không hiện vọng, vọng sanh các sắc.” Vọng
đó là từ không, không hiện ra vọng, vọng sanh ra các sắc.
Nay nói về tâm người tu, trong lúc chúng ta ngồi thiền, nếu
không nghĩ gì, lúc đó là không hay là có? Không nghĩ gì thì
thấy như không. Vừa dấy niệm là vọng, vọng cấu kết với
hình sắc nên nhớ hình này hình kia, nội tâm chúng ta rõ ràng
như vậy. Bên ngoài cũng thế, từ vọng hiện ra các hình sắc,
nên:
“Đã
trái không sanh, không hóa”, lý đáng chân không là không sanh
không hóa, nhưng vì trái với nó nên “mải làm có hóa có
sanh”, nghĩa là sanh hóa liên tục.
“Không
sanh hóa thì không hóa không sanh, có hóa có sanh nên có sanh
có hóa.” Nếu đứng về mặt không sanh không hóa thì đó
là thể, không có hóa sanh gì cả. Lục Tổ thấy được thể
đó Ngài mới nói “bản lai vô nhất vật”, không sanh không
hóa thì có vật gì? Nay vì theo có hóa có sanh, nên mọi việc
đều thành có sanh có hóa.
“Hoặc
sanh Thánh hiền ngu trí, hoặc hóa vảy cánh lông sừng.” Sanh
hóa là sanh ra người Thánh bậc Hiền, hoặc kẻ trí người
ngu sai biệt; hoặc hóa làm chim chóc, tôm cá, trâu bò, các
loại.
“Luôn
luôn chìm đắm nơi bến mê, mãi mãi trôi lăn trong biển khổ”,
vì sanh hóa nên cứ chìm đắm mãi nơi bến mê, lăn lộn trong
biển khổ không ra khỏi.
“Mờ
mờ mịt mịt nào biết nào hay, rối rắm lăng xăng chẳng
tỉnh chẳng ngộ.” Như vậy chúng ta sống trong mờ mịt lăng
xăng, không một phút giây thức tỉnh.
“Trọn
là buông tâm chạy đi, đều không nắm mũi kéo về.” Buông
tâm chạy đi là phóng tâm chạy theo ngoại cảnh, vì phóng
tâm chạy đi nên hóa hóa sanh sanh liên miên không dừng. Trái
lại nếu biết nắm mũi kéo về thì không sanh không hóa. Chúng
ta bắt đầu nắm mũi kéo về được chưa? Cố nắm nhưng
nó còn giẫy quá. Nếu kéo được thì trở về không sanh không
hóa.
“Khiến
đến qua lại sáu đường”, khi đã sanh hóa thì lăn lộn
trong sáu đường, “xuống lên bốn núi” sanh, già, bệnh,
chết. Sở dĩ có bốn núi, là vì chúng ta bỏ chân không, chạy
theo vọng tưởng, từ vọng tưởng tạo thành sắc thân, rồi
lăn lộn trầm luân trong biển khổ.
Ngài
nói tổng quát kệ bốn núi:
Bốn
núi cheo leo vạn khóm tùng,
Ngộ
xong chẳng có, muôn vật không.
Mừng
được ba chân lừa có sẵn,
Cỡi
lên thúc mạnh vượt cao phong.
Bài
kệ nghe như khó hiểu. “Bốn núi cheo leo vạn khóm tùng”
là diễn tả sanh, già, bệnh, chết, cheo leo như ngọn núi cao.
Tuy thế nếu “ngộ xong chẳng có, muôn vật không”. Nếu
ngộ được lý chân không, mới thấy muôn vật là không thật,
chỉ từ vọng sanh.
“Mừng
được ba chân lừa có sẵn” tức là mừng được có sẵn
con lừa ba chân.
“Cỡi
lên thúc mạnh vượt cao phong”, cỡi lừa ba chân chạy thẳng
lên ngọn núi cao tuyệt. Có vô lý không? Cỡi lừa bốn chân
không biết có chạy nổi lên ngọn núi không, chớ lừa ba
chân làm sao chạy được? Vì thế bài kệ này mỗi người
hiểu mỗi cách.
Con
lừa ba chân xuất xứ từ câu chuyện của ngài Dương Kỳ
Phương Hội, đệ tử ngài Từ Minh. Sử Trung Hoa ghi rõ: Có
người tới hỏi ngài Dương Kỳ: Thế nào là Phật? Ngài đáp:
Con lừa ba chân chạy tứ tung. Ngài Trần Thái Tông mượn câu
chuyện đó, nói có sẵn lừa ba chân cỡi chạy thẳng lên
ngọn núi cao phong. Trong nhà Thiền, nói đến chỗ cứu kính,
đó là chỗ vô lý hay phi lý. Tại sao? Vì tất cả lý lẽ
chúng ta bàn luận ở thế gian đều tương đối, có phải
có quấy. Nếu ai nói phải thì cho là hợp lý, nói quấy là
phi lý. Nhưng cứu kính tuyệt đối là cái phi lý, tức là
cái không suy lường được. Thường người ta nói tu là làm
lành, là giúp kẻ khổ, nhưng đối với chỗ cứu kính, tu
lại là buông, là bỏ, buông những niệm tưởng lành dữ,
bỏ những tâm thiện ác. Lành dữ thiện ác đều buông sạch
thì có lý hay phi lý? Từ cái phi lý mới đi đến chỗ cứu
kính được, còn nằm trong đối đãi thì chưa đến cứu kính.
Con lừa ba chân là chỉ cái phi lý. Đạt được cái phi lý
mới lên tận ngọn núi cao phong. Trái lại nếu chưa đạt
thì chưa lên được. Đó là ý nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền.
NÚI
THỨ NHẤT
Ngài
diễn tả núi thứ nhất, tức là tướng sanh. “Vì sai một
niệm nên hiện đa đoan.” Sai một niệm tức là từ thể
chân không dấy động, có niệm phát ra thì sanh muôn mối.
Thế nên chúng ta tu đến chỗ không còn một niệm mới là
hết mầm sanh tử. Nếu còn một niệm là hiện đa đoan, tức
là hiện đủ tất cả việc.
Từ
hiện đa đoan mới lôi thần thức “gá hình hài nơi tinh huyết
mẹ cha, nương khí âm dương dưỡng nuôi thai nghén”, do hợp
khí âm dương từ đó thai nghén thành hình.
“Trong
tam tài người đứng giữa.” Trong tam tài thiên địa nhân,
người (nhân) ở giữa rất là quan trọng.
“Lại
hàng chí linh của muôn vật”, lại người là hàng chí linh
của muôn vật.
“Chẳng
luận kẻ trí người ngu đều thuộc bào thai bao bọc.” Dù
người ngu hay kẻ trí cũng từ trong bào thai ra.
“Hỏi
chi một người, trăm họ đều trong lò bễ mà ra.” Lò bễ
là của thợ trời, trăm họ cùng ở trong đó ra, không ai ở
ngoài được.
“Hoặc
mặt trời biểu hiện vua thánh giáng sanh, hoặc các sao ứng
điềm, tôi hiền xuất hiện.” Người xưa hay nói: Mẹ nằm
mộng thấy nuốt mặt trời, đó là điềm sanh con làm vua,
hoặc thấy có vì sao rơi vào bụng thì sau sanh con là hiền
thần.
“Văn
chương quét sạch ngàn quân, võ lược chiến thắng trăm trận.”
Dầu cho người văn chương hay quét sạch cả ngàn quân, hoặc
võ giỏi đánh thắng trăm trận, cũng không thoát được cuộc
sống chết của thế gian.
“Trai
cậy phong tư ném quả.” Người nam cậy nét đẹp của mình
làm thiên hạ mê say. Đây là dẫn câu chuyện xưa ở Trung
Hoa, sách Tấn thư nói: Ông Phan Nhạc lúc còn trẻ là người
đẹp trai nhất ở thành Lạc Dương. Mỗi khi ra đường các
cô gái cầm trái cây ném vào xe ông, đi một vòng về thì
xe đầy trái. Như vậy sắc đẹp được tán thưởng nhiều,
gọi là trai cậy phong tư ném quả.
“Gái
khoe sắc đẹp nghiêng thành.” Nguyên ông Lý Diên Niên đời
Hán làm một bài ca trong đó có câu: “nhất cố khuynh nhân
thành, tái cố khuynh nhân quốc”, nghĩa là một lần ngoảnh
lại làm nghiêng thành, hai lần ngoảnh lại làm nghiêng nước.
Đây là tả sắc đẹp tuyệt trần của người nữ.
“Đua
danh khoe đẹp, tranh lạ đấu trân.” Đấu trân là đem của
báu mà so đấu nhau.
“Xem
ra thảy đều luân hồi, đáo để khó trốn sanh hóa.” Dù
đẹp dù tài thế mấy, rốt cuộc cũng luân hồi sanh hóa.
“Tướng
sanh của người là mùa xuân của năm.” Tướng sanh tương
tự như mùa xuân. Mùa xuân rất đẹp, tướng sanh cũng vậy.
“Hanh
thông đang độ tam dương, muôn vật rực màu tươi tốt.”
Tam dương là chỉ mùa xuân có ba tháng thuộc về dương, nên
gọi là dương xuân hay tam dương. Mùa xuân muôn vật đều
đẹp đẽ tươi tốt, đó là nói theo các nước có bốn mùa,
theo miền Nam chúng ta thì không phải vậy. “Một trời trong
sáng, nơi nơi liễu thắm hoa hồng, muôn dặm phong quang, chốn
chốn oanh kêu bướm lượn.” Đó là diễn tả cảnh mùa xuân.
Kệ
rằng:
Trời
đất nấu nung vạn tượng thành,
Xưa
nay không mống cũng không manh.
Chỉ
sai hữu niệm quên vô niệm,
Liền
trái không sanh nhận có sanh.
Mũi
đắm các hương, lưỡi tham vị,
Mắt
mờ chúng sắc, tiếng mê tai.
Lang
thang làm khách phong trần mãi,
Ngày
cách quê hương muôn dặm trình.
Bài
kệ này rất hay, vừa nói giáo lý, vừa nhắc nhở chúng ta
kiếp luân hồi.
Trời
đất nấu nung vạn tượng thành,
Xưa
nay không mống cũng không manh.
Muôn
hình tượng trong thế gian do âm dương trời đất mà hiện,
trước đó không có manh mối gì.
Chỉ
sai hữu niệm quên vô niệm,
Liền
trái không sanh nhận có sanh.
Con
người từ vô niệm dấy lên thành hữu niệm, đó là sai lầm,
vừa có niệm liền quên mất vô niệm. Vô niệm là không sanh,
dấy thành hữu niệm nên nhận có sanh. Vì thế khi chúng ta
nhắm mắt vừa có niệm giận liền đi trên đường đau khổ
của sân, có niệm tham thì đi đường khổ của tham, nếu
niệm tịnh được sanh về cõi tịnh. Trái lại vô niệm thì
hết sanh, tức vô sanh, thật là rõ ràng.
Mũi
đắm các hương lưỡi tham vị,
Mắt
mờ chúng sắc tiếng mê tai.
Mũi,
lưỡi, mắt, tai, bị các trần lôi kéo, nói đủ là sáu trần
lôi kéo sáu căn làm chúng ta say mê suốt cả cuộc đời. Vì
say mê nên:
Lang
thang làm khách phong trần mãi,
Ngày
cách quê hương muôn dặm trình.
Buồn
làm sao! Cứ làm khách phong trần lang thang trong vòng luân hồi,
càng đi càng xa quê hương, đi một đời là xa một dặm, đi
trăm ngàn muôn kiếp thì xa trăm ngàn muôn dặm. Nếu chạy
theo sáu trần là chấp nhận lang thang làm khách phong trần.
Trái lại không dính mắc sáu trần là kẻ xuất trần thượng
sĩ. Trong nhà Phật thường tán thán người xuất gia là bậc
xuất trần thượng sĩ. Thử hỏi hiện nay chúng ta là kẻ
xuất trần hay là khách phong trần? Tùy chúng ta lựa chọn,
nhưng chọn rồi là phải thực hành. Hai câu kết này tôi thích
nhất:
Lang
thang làm khách phong trần mãi,
Ngày
cách quê hương muôn dặm trình.
Đi
ra là mỗi ngày một xa quê hương. Hình ảnh thật rõ ràng.
Tỉ dụ quê hương chúng ta ở Đà Lạt, chỉ đi bộ thôi,
mỗi ngày đi bộ xuống miền đông, dù đi dở cũng khoảng
mấy mươi cây số. Đi năm này qua năm khác càng đi càng xa
tít, quên cả đường về. Trái lại nếu đi chừng năm, ba
cây số, giựt mình tỉnh lại, quay trở về thì rất gần.
Nếu nhớ quê hương phải trở về sớm, đừng đi nữa!
NÚI
THỨ HAI
Núi
thứ hai là diễn tả tướng già.
Đọc
bài này nghe thật buồn. “Hình dung thay đổi”, rất dễ
thấy.
“Khí
huyết đã suy, dáng gầy tuổi cao, ăn uống hay sặc thường
nghẹn.” Đó là diễn tả cảnh già rất cụ thể, nhất là
như tôi đây chứng minh điều này rất rõ.
“Tóc
xanh má đỏ đổi thành tóc bạc da gà.” Ngày trước tóc
xanh má đỏ nay đổi thành tóc bạc da gà.
“Ngựa
trúc áo hoa lại thành gậy cưu xe cói.” Ngựa trúc áo hoa
là theo sự tích xưa những đứa bé lấy cành tre làm ngựa
chạy giỡn, gọi là ngựa trúc, chúng mặc áo bông gọi là
áo hoa. Mặc áo hoa, cỡi ngựa trúc là những trò vui của trẻ
con. Nay lại thành gậy cưu xe cói. Ngày xưa ai sống đến tám
mươi tuổi được nhà vua tặng cho cây gậy có hình chim cưu
vì chim cưu ăn không mắc nghẹn, để chúc người già ăn không
nghẹn. Xe cói là dùng rơm hay cỏ lác buộc dưới bánh cho
xe chạy êm để người già đi. Gậy cưu xe cói là chỉ tuổi
già.
“Dẫu
rằng mắt sáng như Ly Lâu cũng khó phân rành màu sắc.” Thuở
xưa ông Ly Lâu mắt rất sáng, nhìn xa trăm bước vẫn thấy
được cây kim hay một hạt nhỏ. Thuở trẻ mắt sáng như
sao băng, nhưng khi già nhìn thấy lờ mờ.
“Dù
cho tai thính như Sư Khoáng cũng khôn nhận rõ âm thanh.” Sư
Khoáng ở xa nghe tiếng âm nhạc có thể phân biệt được
tai họa hay điềm lành sẽ xảy đến cho người chơi nhạc.
Tai thính như Sư Khoáng nhưng đến tuổi già cũng khó phân
rành được âm thanh.
“Tiều
tụy như cây liễu lúc thu về, điêu linh như đóa hoa khi xuân
hết”, khi xuân hết, liễu rũ hoa tàn rơi từng cánh.
“Bóng
chiều vừa ngả non tây, dòng nước sắp chảy về biển đông.”
Mặt trời sắp gác núi, nước chảy ra biển đông không trở
lại.
“Tướng
già của người là mùa hạ của năm.” Tướng già dụ như
mùa hạ trong năm. Mùa hạ thì:
“Trời
nóng đá chảy muôn vật đều khô, nắng nóng sôi vàng trăm
sông sắp cạn.” Chỉ sự nóng bức của mùa hạ.
“Hoa
tàn liễu úa, bờ lạch trong vườn há còn lưu giữ. Bướm
lượn oanh bay dưới lá đầu cành già sắp tới.” Những
gì vui thích tới đây sắp tàn không còn nữa.
Kệ
rằng:
Con
người kiếp sống tợ phù âu,
Thọ
yểu người trời chớ vọng cầu.
Bóng
ngả nương dâu, chiều sắp đến,
Thân
như bồ liễu tạm qua thu.
Phan
Lang thuở nọ còn xanh tóc,
Lữ
Vọng ngày nay đã bạc đầu.
Cuồn
cuộn việc đời trôi chẳng đoái,
Vầng
ô gác núi, nước trôi xuôi.
Phù
âu là bọt nước, kiếp sống của con người như bọt nước.
Thọ là sống lâu, yểu là chết sớm, thọ yểu ở cõi người
cõi trời cũng đừng mong cầu. Dầu sanh cõi trời được sống
lâu nhưng rồi cũng chết chớ không tránh khỏi.
“Bóng
ngả nương dâu chiều sắp đến”, bóng mặt trời đã nghiêng
về những bờ dâu, chiều sắp đến.
“Thân
như bồ liễu tạm qua thu.” Thân như cây bồ, cây liễu qua
mùa thu thì xơ xác.
Phan
Lang thuở nọ còn xanh tóc,
Lữ
Vọng ngày nay đã bạc đầu.
Phan
Lang là Phan Nhạc. Thuở nào tóc xanh đẹp như Phan Nhạc, nay
nhìn lại đầu đã bạc như Lữ Vọng. Lữ Vọng tức là Khương
Tử Nha, cũng gọi là Thái Công Vọng, hay Lã Thượng hay Lữ
Thượng. Lúc chưa gặp Văn Vương ông ngồi câu ở bến Bàn
Khê, đầu tóc bạc phơ, sau Văn Vương mời ông ra giúp nước.
Con người thuở trẻ đầu xanh khỏe mạnh bao nhiêu, nay đầu
bạc yếu đuối bấy nhiêu!
Hai
câu cuối nghe rất buồn:
“Cuồn
cuộn việc đời trôi chẳng đoái.” Đoái tức là nhìn lại,
nghĩa là mọi việc trên đời cứ trôi qua không nhìn lại,
cuối cùng không còn gì nữa.
“Vầng
ô gác núi nước trôi xuôi.” Mặt trời lặn sau núi, không
còn thấy nữa, nước ra biển đông, không biết bao giờ trở
lại. Như vậy để thấy việc đời luôn trôi qua, thuở trẻ
phô trương sắc tài, tuổi già đến dần dần, tất cả rồi
sẽ mất.
NÚI
THỨ BA
Núi
thứ ba là tướng bệnh. “Tuổi đã già khọm, bệnh đến
cao hoang”, đoạn này diễn tả cảnh già rồi bệnh. Cao hoang
là trong hông, trong lồng ngực của mình. Bệnh đến hông ngực
thì khó trị, gọi là bệnh nan y.
“Chân
tay mỏi mệt, mạch lạc khó thông, trăm lóng rã rời, nóng
lạnh chẳng thuận.” Khi bệnh thì trong thân phần nào cũng
chống trái nhau không an ổn điều hòa.
“Tan
mất tánh chân thường, sai lệch nguồn điều sướng.” Tâm
tánh người bệnh rối loạn không còn bình thường nữa. Nguồn
điều hòa trong cơ thể không còn thông suốt, mà sai lệch
đi rồi.
“Ngồi
đứng khó khăn, co duỗi đau đớn.” Ngồi đứng đều thấy
khó, co duỗi nghe đau đớn vì mang thân bệnh.
“Mạng
dường ngọn đèn trước gió, thân như hòn bọt trên sông.”
Mạng sống lúc bệnh giống như ngọn đèn trước gió, cơn
gió mạnh thổi đến đèn tắt ngay (đây chỉ đèn dầu không
phải đèn điện). Thân bệnh như hòn bọt nổi, chỉ cần
một lượn sóng dập vào thì bể nát. Đoạn này diễn tả
tướng bệnh của thân.
Đây
nói về tâm bệnh:
“Tâm
sanh bóng quỉ lô nhô, mắt thấy không hoa lốm đốm.” Khi
bệnh trầm trọng thì tâm thấy những chuyện lăng xăng ma
quái. Cho nên người già khi đau sắp chết, con cháu phải trông
ngó chăm nom luôn luôn, nếu không thì nói nhảm, mắt thấy
hoa đốm trong hư không.
“Hình
hài gầy yếu, ai là Biển Thước thuốc thang; thân thể hao
mòn, nào kẻ Lư Nhân cứu chữa.” Thân hình đã gầy yếu
có thầy thuốc nào đại tài như Biển Thước để cứu trị
hay không? Theo sách Trung Hoa, Biển Thước là thầy thuốc giỏi
nhất thời Chiến Quốc, tên là Tần Việt Nhân. Ông học được
phương bí truyền của Trường Tang Quân, đem ứng dụng và
hốt thuốc giỏi nhất vào thời đó; vì vậy nói đến thầy
thuốc giỏi ở Trung Hoa ai cũng biết chỉ có Biển Thước.
Lư Nhân là tên khác của Biển Thước.
“Bạn
bè luống nhọc viếng thăm, anh em uổng sức nâng đỡ.” Vì
đau nặng nên bạn bè chống gậy đến thăm, anh em ra sức
bồng đỡ.
“Bệnh
nặng nhiều tháng chẳng lành, nằm liệt nhiều tuần chưa
khỏi.” Bệnh lâu ngày không lành, người bệnh nằm chờ
chết, cảnh tượng rất là buồn!
“Tướng
bệnh của người là mùa thu trong năm. Gặp khi sương lạnh
mới rơi, đến lúc cỏ cây đều héo.” Tướng bệnh được
ví như mùa thu trong năm. Thu đến sương lạnh rơi, cỏ cây
bắt đầu héo vàng.
“Rừng
rậm sum sê, một trận gió vàng đã lơ thơ; núi biếc non xanh,
móc ngọc mới sa liền trơ trọi.” Mùa thu gió tây thổi,
lá cây trong rừng đều rụng hết. Mới khi nào núi biếc non
xanh, giờ đây sương móc vừa sa, lá cây rơi rụng, cành cây
chơ vơ, hòn núi trở thành trơ trọi.
Kệ
rằng:
Âm
dương trái vận vốn xoay vần,
Gieo
rắc tai ương đến thế nhân.
Đại
để có thân thì có bệnh,
Ví
bằng không bệnh cũng không thân.
Linh
đơn chớ cậy trường sanh thuật,
Lương
dược khó mong được sống bền.
Sớm
nguyện xa lìa ma cảnh giới,
Xoay
tâm về đạo, dưỡng thiên chân.
“Âm
dương trái vận vốn xoay vần.” Khí âm dương không đúng
thời tiết nên khiến có sự xoay vần bất thường.
“Gieo
rắc tai ương đến thế nhân.” Vì âm dương không điều
hòa nên con người phải bệnh hoạn.
“Đại
để có thân thì có bệnh.” Tất cả người đời có thân
đều có bệnh, chớ không riêng ai.
“Ví
bằng không bệnh cũng không thân.” Chi bằng đừng có bệnh
cũng đừng có thân, nghĩa là không có thân thì không có bệnh.
Chỉ có thân không tướng tức là pháp thân mới không bệnh.
Còn nhục thân do tứ đại hòa hợp nhất định phải bệnh.
Thế nên người tu muốn bỏ nhục thân để sống với pháp
thân không tướng.
“Linh
đơn chớ cậy trường sanh thuật, lương dược khó mong được
sống bền.” Dù có thuật trường sanh cũng không còn, dù
có thuốc hay bao nhiêu cũng không sống mãi. Như các vị tiên
ngày xưa luyện linh đơn và các thứ thuốc trường sanh, đâu
có vị nào sống mãi đến ngày nay, sống dai lắm chỉ đến
vài trăm tuổi là nhiều!
“Sớm
nguyện xa lìa ma cảnh giới.” Nếu biết không thoát được
cái chết, thì mỗi người chúng ta phải sớm nguyện xa lìa
cảnh giới ma, tức là cảnh giới sáu trần đang lôi kéo chúng
ta.
“Xoay
tâm về đạo dưỡng thiên chân” là xoay tâm trở về với
đạo để nuôi dưỡng thiên chân. Thiên chân là cái chân thật
không còn sanh diệt, cái đó sẵn có muôn đời, không phải
mới tạo nên. Nếu biết xoay tâm về đạo thì thiên chân
hiện tiền.
NÚI
THỨ TƯ
Núi
thứ tư là tướng chết.
“Bệnh
càng trầm trọng mạng sắp cáo chung. Tuổi thọ mong hưởng
trăm năm, thân thế trở thành giấc mộng.” Bệnh trầm trọng
đến giờ sắp ra đi. Khi còn mạnh, ai cũng mong sống đến
trăm tuổi, nên thường chúc nhau: Sống lâu trăm tuổi, nhưng
làm sao được. Cơn chết sắp đến, ôn lại cuộc đời, giống
như giấc mộng, tất cả những gì mình tạo dựng được,
nay chỉ là một giấc mộng thôi.
“Thông
minh trí tuệ khó trốn ngày đại hạn sắp sang. Sức mạnh
oai hùng đâu chống được khi vô thường đã đến.” Dù
thông minh trí tuệ đến đâu, tới ngày chết cũng không ai
trốn khỏi. Dù anh hùng võ tướng, khi vô thường đến cũng
phải bó tay không làm gì hơn.
“Thiếp
thuận vợ trinh trở thành đau thương đứt ruột; anh nhường
em kính vội nên ly biệt suốt đời.” Ở thế gian khi có
thê thiếp trinh thuận, đến lúc ra đi lại càng đứt ruột,
vì càng thương càng khổ. Nếu vợ chồng bất hòa khi đi lại
ít khổ hơn. Còn anh em hòa thuận kính yêu, khi sắp đi lại
càng đau đớn vì ly biệt suốt đời. Người chết đi rồi,
người sống ở lại thì sao?
“Vật
mình lăn đất, vỗ trán kêu trời. Tường hoa nhà rộng có
làm chi, ngọc đụn vàng kho rồi cũng bỏ.” Người ở lại
thì than khóc, đau khổ vô cùng, không sao tả xiết. Người
ra đi thì tường hoa nhà rộng, ngọc đụn vàng kho đều bỏ
lại, đâu có mang theo vật gì!
“Dạ
đài mù tối, luống nghe gió bấc vi vu, tuyền hộ then gài,
chỉ thấy mây sầu ảm đạm.” Một mình ra đi vào chốn
dạ đài, là nơi mù tối, gọi là âm ti, chỉ nghe gió bấc
lạnh lẽo thổi vi vu. Tuyền hộ then gài tức là cửa huỳnh
tuyền then gài đóng chặt, không cho trở lên nữa, không ai
bênh vực tiếp cứu. Lúc đó nhìn đâu cũng chỉ thấy mây
sầu ảm đạm, buồn bã làm sao! Vậy mà thế nhân không lo,
chỉ nghĩ chuyện sống, không bao giờ nghĩ đến cái chết...
“Tướng
chết của con người là mùa đông trong năm.” Tướng chết
ví như mùa đông mây sầu ảm đạm.
“Càn
khôn ứng Thái Tuế tròn vòng.” Càn khôn vũ trụ ứng với
sao Thái Tuế, đây chỉ là sao Mộc, xoay quanh mặt trời mười
hai năm mới hết một vòng gọi là Thái Tuế. Cũng như con
người sống mấy mươi năm rồi tử là một vòng, tử rồi
lại sanh giống như sao đi một vòng rồi trở lại vậy.
“Nhật
nguyệt hướng Huyền Hiều hội tụ.” Huyền Hiều cũng gọi
là sao Huyền Hào, ở phương bắc, gồm một chòm sao như: sao
Hư, sao Ngụy, sao Nữ, sao Tú. Sao Hư ở chính bắc, phương
bắc màu huyền nên gọi là Huyền Hiều, hiều còn gọi là
hào có nghĩa là hư hao, tức là nói ngôi sao xấu. Thế nên
nói: Mặt trời mặt trăng ứng hiện, ngôi sao xấu Huyền Hiều
trở về chung hợp. Vì vậy:
“Âm
tinh cực thịnh, khắp trời mưa tuyết bời bời, dương khí
tan dần, nước tám đức đóng băng càng lạnh buốt.” Nước
tám đức là bát công đức thủy, tám đức gồm có: Một
là đức trong sạch, hai là đức sanh mát, ba là đức ngọt
ngào, bốn là đức mềm nhẹ, năm là đức thấm nhuần, sáu
là đức an hòa, bảy là đức trừ đói khát, tám là đức
nuôi lớn các căn. Câu này nói: Phần âm cực thịnh nên khắp
trời mưa tuyết, khí dương tan dần nên nước tám đức bị
đóng băng lạnh buốt.
Kệ
rằng:
Cào
đất đùng đùng trận gió hanh,
Lão
ngư say tít, chiếc thuyền chành.
Bốn
bề mù mịt mây sầm bóng,
Một
dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.
Theo
lớp hạt mưa bay phấp phới,
Dồn
nhau tiếng sét nổ đì đoành.
Giây
lâu tan bụi, bên trời tạnh,
Trăng
lặn lòng sông, đêm mấy canh?
Đây
là bài dịch của Ngô Tất Tố rất hay nhất là câu cuối:
“Trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh?” Trong bài kệ này
chúng ta có thấy nói gì về chết đâu! Chỉ diễn tả hình
ảnh tượng trưng một cách bóng bẩy thôi.
Cào
đất đùng đùng trận gió hanh,
Lão
ngư say tít chiếc thuyền chành.
Đây
nói người sắp chết giống như ngư phủ đang ở ngoài sông
thả câu thả lưới xong, nằm ngủ say trên chiếc thuyền con.
Bỗng một trận bão to gió mạnh đùng đùng thổi tới, thuyền
của ông lắc lư chòng chành. Khi đó lại còn:
Bốn
bề mù mịt mây sầm bóng,
Một
dãy lô xô sóng cuộn ghềnh.
Theo
lớp hạt mưa bay phấp phới,
Dồn
nhau tiếng sét nổ đì đoành.
Vừa
giông bão, vừa sấm sét, mưa ầm ì dồn dập tới, ông ngư
phủ một mình trên chiếc thuyền con cảm nhận bao nhiêu nỗi
kinh hoàng khủng khiếp. Đây mượn hình ảnh trận bão tố
để diễn tả nỗi đau khổ của người sắp chết, bao nhiêu
thứ hiểm nguy sợ sệt dồn dập tới, con cháu bên ngoài chỉ
biết khóc thôi! Một mình mình chịu, không ai giúp được,
không ai thế được cho mình! Giống như lão ngư phủ này một
mình trên chiếc thuyền con chòng chành sắp lật úp, mà không
ai cứu giúp, cuối cùng thì:
Giây
lâu tan bụi bên trời tạnh,
Trăng
lặn lòng sông, đêm mấy canh?
Khi
trời tạnh nhìn lại chiếc thuyền ông câu đâu rồi? Nó chìm
tận đáy sông, cũng như mặt trăng lặn xuống dòng sông. Hỏi
chừng nào gặp lại ông câu? Đêm mấy canh? Tức là bao giờ
mới gặp lại? Đây là câu hỏi làm cho mình đau đớn! Khi
tắt thở để vào quan tài, khiêng ra đặt dưới mộ rồi,
thì từ giã tất cả, không bao giờ gặp lại. Vì thế câu
“trăng lặn lòng sông, đêm mấy canh” làm cho chúng tôi rất
đau xót mà thích thú.
Bài
kệ này dịch rất hay, nhưng có đôi chữ tôi chưa bằng lòng,
tôi dịch lại như sau:
Bão
táp cuồng phong đất bụi bay,
Lão
ngư say tít, chiếc thuyền lay.
Bốn
bề mây phủ màu đen kịt,
Một
dãy sóng gầm tiếng vang tai.
Sầm
sập trận mưa ào ạt đổ,
Ì
ầm xe sấm nổ vần xoay.
Tạm
thời bụi lắng, chân trời sáng,
Trăng
lặn lòng sông, canh mấy ai?
Canh
mấy rồi, hỏi thử xem ai có thể trả lời giùm!
Để
kết thúc chúng ta thấy lối diễn tả bốn núi của ngài Trần
Thái Tông rất hay, vừa khéo, vừa văn chương, người đọc
không chán mà lại thấm nhuần giáo lý. Ngài là một ông vua
cai trị muôn dân mà có thì giờ làm những bài nhắc nhở
người sau như thế này, thật là một điều hiếm có, rất
xứng đáng chúng ta bái phục. Hiện nay trong nhóm Phật tử,
người nào làm việc nuôi bảy tám đứa con được no ấm
đầy đủ là giỏi lắm rồi, đâu có thì giờ làm việc văn
chương giảng dạy như vậy.
Qua
cái nhìn của ngài Trần Thái Tông về cuộc đời, chúng ta
biết rằng không bao giờ ngai vàng và tất cả sự giàu sang
sung sướng quyến rũ được Ngài. Nhìn lại chúng ta hiện
giờ ở địa vị nghèo thiếu mà cái gì bỏ cũng không đành.
Còn Ngài ở ngai vàng mà không nhiễm, thật là hai bên khác
nhau biết bao nhiêu! Ngài là một con người như chúng ta mà
gan dạ, nhìn thấu lẽ sanh tử của cuộc đời. Chúng ta cũng
là con người mà sao mê muội quá đỗi, không thấy thấu đáo
như vậy. Thế nên chúng ta cố gắng bắt chước Ngài để
sửa để tu, đó là điều rất cần thiết cho đời mình.