NĂM
GIỚI
Dịch
VĂN
GIỚI SÁT
Phàm
các loài sanh từ trứng, thai, ẩm, hóa, tánh vẫn đồng, thấy
nghe hiểu biết đâu khác. Chỉ do tạo nghiệp kết oán, nên
thọ tên khác hiệu khác. Ngày trước vốn loài người, nay
sanh đàn giống khác nhau. Hoặc là bạn bè, hoặc là anh em.
Thay đổi áo xiêm đai mũ, biến làm mai vảy cánh lông. Vợ
quên chồng, chồng quên vợ, con trái cha, cha trái con. Đã thấy
đổi đầu khác mặt, lôi về mổ bụng chặt chân. Luống
lo tham sống sợ chết, lại không một lời kêu đau khổ. Ngươi
giết nó, nó giết ngươi, hắn ăn mày, mày ăn lại hắn, hằng
không ngày dứt, mải tạo oan trái. Kiếp kiếp trả nhau, đời
đời thù nhau.
Người
quay đầu liền đến quê nhà, kẻ phóng tâm hằng chìm địa
ngục. Sách Nho dạy: “Thi ân bố đức.” Kinh Đạo dạy:
“Ái vật háo sanh.” Phật chỉ cấm sát là giữ giới, ngươi
phải để ý tuân hành chớ phạm.
Kệ
rằng:
Cánh
lông mai vảy trọn hàm linh,
Sợ
chết tham sanh nào khác tình.
Từ
trước Thánh hiền lòng chẳng nỡ,
Đâu
cam thấy chết vẫn tham sanh.
VĂN
GIỚI TRỘM
Người
làm nhân nghĩa là quân tử, kẻ làm trộm cướp là tiểu nhân.
Người quân tử ôm lòng cứu giúp kẻ cô bần, đứa tiểu
nhân thì tham lấy tài vật. Vật của người lấy làm của
mình, mặc kệ nhiều người trách cứ, chỉ biết lợi ích
cho mình. Đâu biết giàu sang tại trời, chỉ thả ý tham cầu.
Thuốc chó, đào hầm, đục tường, khoét vách theo gót tướng
quân Sơn Dương, tập làm Lương Thượng quân tử. Nghịch trời
trái đất, dối pháp khinh hình. Khi sống thì pháp luật trừng
trị, lúc chết bị Minh Ty khảo tra.
Không
những đống vàng khối ngọc, dầu rằng cọng cỏ mảy lông.
Ngửi mùi hương sen trong ao mà Địa thần còn quở, cho vay
lấy lời Diêm vương còn phạt. Lưới trời lồng lộng, làm
thiện thì thoát, làm ác thì mang. Phép nước thênh thang, làm
việc công thì khỏi, làm việc tư thì phạm.
Kệ
rằng:
Đục
vách đào tường ý chẳng thôi,
Trăm
mưu ngàn kế khổ mong cầu.
Đời
này ví được của người đấy,
Nào
biết muôn phen kiếp ngựa trâu.
VĂN
GIỚI SẮC
Lưng
ong tóc mượt hay khiến tâm tánh say mê; sắc én mày ngài làm
cho hồn phiêu phách lạc. Đưa mắt liếc chẳng phải dao mài
mà ai không đứt ruột. Lưỡi uốn tựa sáo diều, mọi người
đều phải lắng nghe. Người mê thì nghĩa thân sơ đều dứt;
kẻ tham thì đạo đức tiêu tan. Trên thì phong giáo đắm chìm,
dưới thì khuê môn tán loạn. Bất luận phàm phu, học giả
đều say áo đẹp thích điểm trang. Kỷ cương quốc gia bị
rơi chốn Tô đài; giới thể bị chôn vùi nơi dâm thất.
Thảy
do phóng mắt đuổi theo bên ngoài, nên không xoay đầu nhìn
lại bên trong. Cởi hết lụa là che thân chỉ bày làn da bọc
thịt. Độc giác gần nữ am mà hoàn tục; Chân quân xa Thán
phụ nên thăng thiên. Người chẳng theo sắc được năm thần
thông; kẻ mê sắc thì mất các giới hạnh.
Kệ
rằng:
Má
thoảng hương mai, mặt nhụy đào,
Thấy
rồi mắt dán, ý nao nao.
Thảy
đều một đãy da hôi thúi,
Thầm
cắt ruột người chẳng dụng dao.
VĂN
GIỚI VỌNG NGỮ
Tâm
là gốc thiện ác, miệng là cửa họa phúc. Nghĩ một niệm
thì hưởng ứng không sai; nói một lời thì bóng theo chẳng
lệch. Quân tử trọng lời như biện; cổ nhân ngừa nói như
bình. Nói ra thì ngay thẳng công bằng; mở lời thì không cong
queo tà vạy. Không nói đây hay kia dở; chẳng bàn mình phải
người sai. Đâu dám khua môi múa lưỡi, cần phải giữ miệng
gìn lời. Vả nghiệp của thân là nặng, song họa của miệng
là trước. Chẳng những kẻ nói là vọng ngôn, còn khiến
người nghe làm bậy.
Đời
này bị người khinh rẻ, sau khi chết bị nghiệp kéo lôi.
Hoặc kềm sắt kéo lưỡi cam chịu chua cay. Hoặc nước đồng
sôi rót vào miệng lòng ôm đau đớn.
Kệ
rằng:
Kề
vai cười nói khua lưỡi môi,
Cứ
mãi làm người vọng ngữ thôi.
Riêng
ý cầu tài, mong người thích,
Sau
cùng khó tránh nghiệp kéo lôi.
VĂN
GIỚI RƯỢU
Người
ưa uống rượu thì đức hạnh suy kém, lời nói nhiều lỗi
lầm. Hơi nóng xông nát dạ dày, vị cay xuyên thủng gan ruột.
Rối loạn tinh thần, tâm tánh hôn mê. Chẳng nghĩ đến cha
mẹ, tội ngũ nghịch chuyên làm. Hoặc ồn náo nơi tiệm quán,
hoặc say mèm ngoài đường sá. Khi trời mắng đất, hủy Phật
chê Tăng. Miệng lảm nhảm hát ca, thân trần trụi nhảy múa.
Đã không tiếp Phật cúng dường, mà lại theo bọn mũ đen
bất chánh. Tan thân mất mạng từ đó mà sanh, mất nước
hại nhà từ đây mà có.
Bỏ
rượu thì ngàn điềm lành đồng tới, uống rượu thì trăm
họa kéo về. Đại Võ không uống rượu nên muôn họ đều
theo. Thái Khang mê rượu nên năm con đều oán. Đâu chỉ hàng
phong lưu phải răn, mà bậc đạt giả cũng cần phải tránh.
Bao nhiêu người rạng rỡ trên đời, lại bị tối tăm trong
rượu.
Kệ
rằng:
Men
bã một vò ủ nấu thành,
Bao
nhiêu người trí mất thông minh.
Chẳng
riêng tăng sĩ không gìn giới,
Mất
nước, tan nhà từ đó sanh.
Giảng
NĂM
GIỚI
Trong
bài Năm Giới ngài Trần Thái Tông nhắc nhở người cư sĩ
tại gia, nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng rất lớn với
người xuất gia. Ảnh hưởng ở hai mặt:
1)
Năm giới là căn bản của người xuất gia, nếu thọ Sa-di,
Năm giới là đầu trong Mười giới Sa-di, nếu thọ Tỳ-kheo,
bốn giới đầu trong Năm giới là Tứ Ba-la-di của Tỳ-kheo.
2)
Người xuất gia lấy Năm giới làm căn bản để hướng dẫn
Phật tử tu hành, nếu chúng ta không hiểu rành thì sự hướng
dẫn không đầy đủ. Thế nên Năm giới là nền tảng của
Phật tử tại gia, cũng là trợ duyên lớn cho người xuất
gia. Vậy Tăng Ni và Phật tử học Năm giới đều có lợi
ích.
VĂN
GIỚI SÁT
“Phàm
các loài sanh từ trứng, thai, ẩm, hóa, tánh vẫn đồng, thấy
nghe hiểu biết đâu khác. Chỉ do tạo nghiệp, kết oán, nên
thọ tên khác, hiệu khác.”
Mở
đầu ngài Trần Thái Tông chỉ rõ tai hại của sự sát sanh.
Trong bốn loài noãn sanh, thai sanh, thấp sanh và hóa sanh tuy
hình tướng khác nhau song tánh vẫn đồng, thấy nghe hiểu
biết không có khác. Chỉ do tạo nghiệp thiện ác sai biệt
nên thọ tên khác, hiệu khác, tỷ dụ như tên người, tên
súc sanh..., nghiệp có sai biệt chớ thể tánh không khác.
“Ngày
trước vốn loài người, nay sanh đàn giống khác nhau.” Như
hiện giờ cùng làm người, nhưng kẻ tạo nghiệp thiện, người
tạo nghiệp ác. Sau kiếp này, khi sanh trở lại, chúng ta hoặc
làm người hoặc làm súc sanh, hay các loài khác... Chúng ta
có phước làm người được đầy đủ sáu căn và đủ tất
cả nhu cầu, các loài khác thiếu phước hơn phải sanh làm
loài vật bị đọa đày khổ sở.
“Hoặc
là bạn bè, hoặc là anh em. Thay đổi áo xiêm đai mũ, biến
làm mai vảy cánh lông.” Trong đời này hoặc là bạn bè anh
em, qua đời khác thay đổi hình thức cũ, có người biến
thành loài rùa loài trạnh có mai, hoặc biến thành loài cá
loài trăn có vảy, hay loài chim có cánh có lông... Tuy đời
này cùng là người, song kiếp tới biến thành khác loại.
Lúc ấy còn nhớ nhau không? Thế nên:
“Vợ
quên chồng, chồng quên vợ, con trái cha, cha trái con.” Khi
xưa là vợ chồng, đổi qua kiếp khác mang hình thức khác,
nên quên nhau, cha con cũng không biết được nhau. Vì thế xảy
ra những chuyện:
“Đã
thấy đổi đầu khác mặt, lôi về mổ bụng chặt chân.”
Vì thay đổi đầu mặt, đâu còn nhớ nhau nữa, nên khi xưa
là người thân của mình, bây giờ sanh làm gà vịt, mình mổ
bụng chặt chân không chút xót thương.
“Luống
lo tham sống sợ chết, lại không một lời kêu đau khổ.”
Nghe câu này thật là đau đớn! Con vật nào cũng tham sống
sợ chết. Như khi gà vịt bị cắt cổ thì giẫy giụa, hay
bò lợn bị bắt đem làm thịt thì kêu la, chúng ta đâu có
màng tới, chúng tham sống sợ chết, lại không một lời kêu
đau khổ vì không biết nói cho người thấu hiểu. Chúng ta
không biết nỗi đau đớn của chúng nên sẵn sàng giết không
chút xót thương. Mình giết nó, nó oán hận mình. Vì vậy:
“Ngươi
giết nó, nó giết ngươi, hắn ăn mày, mày ăn hắn, hằng
không ngày dứt, mải tạo oan trái. Kiếp kiếp trả nhau, đời
đời thù nhau.” Bây giờ chúng ta giết con vật, nó không
giết được mình thì kiếp sau nó sẽ trả thù lại. Ngày
nay mình ăn nó thì ngày sau nó ăn lại mình. Cứ ăn nuốt lẫn
nhau mãi không có ngày thôi dứt nên oan trái đời kiếp nối
tiếp luôn. Như người đập đầu bò, nó oán hận, khi được
trở lại làm người, nó chỉ muốn giết lại người đã
đập nó. Tại sao người lại muốn giết người? Vì hận
đời trước đã gieo, kiếp này gặp lại chỉ muốn giết
nhau. Vậy một khi gây oán hận cho ai thì sau này mình phải
đền trả khó mà trốn tránh được. Như mình giết loài vật
để được ăn ngon thích miệng, kiếp sau nó cũng giết lại
mình để được ăn ngon thích miệng.
“Người
quay đầu liền đến quê nhà, kẻ phóng tâm hằng chìm địa
ngục.” Câu này có tánh cách thiền. Nếu biết quay đầu
trở lại liền đến quê nhà, tức là không để tâm đuổi
theo dục lạc hay sáu trần thế gian, thì chúng ta thấy được
cái chân thật của mình, đó là quê nhà muôn thuở. Quê nhà
sẵn có của mình chỉ cần một phen quay đầu nhìn lại thì
thấy, chớ không phải là xa. Còn kẻ phóng tâm hằng chìm
địa ngục. Nếu người nào hay phóng tâm chạy theo ngoại
cảnh, đó là nhân chìm trong địa ngục. Trong câu hết sức
gọn này chúng ta thấy rõ ràng hai mặt. Một bên là người
tỉnh biết quay đầu trở lại quan sát chính mình để dẹp
bỏ những vọng tưởng điên đảo, đó là người trở về
quê nhà. Một bên là kẻ mê buông tâm chạy theo ngoại cảnh,
sáu trần, đó là nhân để chìm trong địa ngục.
Ngài
Trần Thái Tông dẫn chứng: “Sách Nho dạy: Thi ân bố đức.
Kinh Đạo dạy: Ái vật háo sanh. Phật chỉ cấm sát là giữ
giới, ngươi phải để ý tuân hành chớ phạm.” Đoạn này
nói đến ba phần: Nhà Nho dạy: Làm người phải thi ân bố
đức, tức là đối với người và các loài vật chúng ta
phải đem ân đức ban rải khắp tất cả. Kinh Đạo tức Lão
giáo dạy: Ái vật háo sanh. Đối với loài vật mình phải
biết thương và biết quí sanh mạng của nó (háo sanh là thích
sanh), đừng giết hại nó. Như vậy nhà Nho với Lão giáo nói
đơn giản mà hay. Còn Phật giáo dạy thế nào? Phật chỉ
cấm sát là giữ giới, lời dạy tuy không văn chương nhưng
rất cụ thể. Không nói thương quí, không nói ban ân bố đức,
Phật chỉ bảo đừng giết. Lời nói thẳng, đơn giản và
thực tế, có tánh cách bắt buộc. Thế nên khi vào đạo,
giới đầu tiên là cấm sát sanh tức không được giết hại
chúng sanh, đó là háo sanh, đó là thi ân bố đức rồi. Vì
thế:
“Ngươi
phải để ý tuân hành chớ phạm.” Phạm giới là có tội,
phạm giới tức là sát hại chúng sanh.
Lời
nói thực tế, không phải lời nói rỗng nói suông. Thế nên
trong nhà Phật chúng ta thấy dường như có sự khắt khe bắt
buộc giữ giới. Sự thật vì muốn tâm chúng ta lương thiện,
đầy đủ phước đức nên đức Phật cấm sát sanh, chúng
ta sợ không dám làm những tội ác, đó là chúng ta ái vật,
háo sanh rồi.
Để
kết thúc, ngài Trần Thái Tông làm bài kệ:
Cánh
lông mai vảy trọn hàm linh,
Sợ
chết tham sanh nào khác tình.
Từ
trước Thánh hiền lòng chẳng nỡ,
Đâu
cam thấy chết vẫn tham sanh.
Những
loài có cánh có lông, có mai, có vảy, tất cả đều là hàm
linh. Hàm linh là những chúng sanh có chứa sẵn tánh linh nơi
mình, dù cho khác loại song đều sẵn một tánh linh. Tất cả
đều tham sống sợ chết như nhau, kể cả loài người cũng
vậy.
Những
bậc Thánh hiền ngày xưa lòng không nỡ làm cho chúng sanh chết
khi thấy chúng tham sống như mình. Chúng ta biết tham sống
không muốn chết, các loài vật cũng vậy, nếu ép chúng chết,
đó là tàn nhẫn, là ác tâm.
Đây
là bài răn về giới sát. Nếu chúng ta không có tâm giết
hại chúng sanh, đó là tâm thi ân bố đức, thương vật háo
sanh. Như thế chúng ta đã ngừa tránh được tội lỗi, không
gây oan trái để phải đền trả và chịu khổ ở đời sau.
Vì vậy đức Phật dạy muốn đời này đời sau đều an vui
thì chúng ta đừng sát hại chúng sanh.
VĂN
GIỚI TRỘM
Giới
trộm nói đủ là giới trộm cướp.
“Người
làm nhân nghĩa là quân tử, kẻ làm trộm cướp là tiểu nhân.
Người quân tử ôm lòng cứu giúp kẻ cô bần, đứa tiểu
nhân thì tham lấy tài vật. Vật của người lấy làm của
mình, mặc kệ nhiều người trách cứ, chỉ biết lợi ích
cho mình. Đâu biết giàu sang tại trời, chỉ thả ý tham cầu.
Thuốc chó, đào hầm, đục tường, khoét vách theo gót Sơn
Dương tướng quân, tập làm Lương Thượng quân tử, nghịch
trời trái đất, dối pháp khinh hình. Khi sống thì pháp luật
trừng trị, lúc chết bị Minh ty khảo tra.”
Người
biết nhân nghĩa, làm việc nhân nghĩa là người quân tử.
Kẻ trộm cướp làm những việc hại người lợi mình gọi
là kẻ tiểu nhân. Vì thế theo tinh thần nhà Nho, người quân
tử ôm lòng cứu giúp kẻ cô bần, nếu thấy ai nghèo khổ
cô đơn thì sẵn sàng giúp đỡ. Đứa tiểu nhân thì tham lấy
tài vật của người, thấy ai có lắm của nhiều tiền thì
dấy khởi tâm tham muốn giựt lấy cho được. Qua hành động
chúng ta biết rõ tâm ai là quân tử, tâm ai là tiểu nhân.
Như vậy mình cũng biết mình là quân tử hay tiểu nhân, không
phải nhờ ai phán đoán.
“Vật
của người lấy làm của mình, mặc kệ nhiều người trách
cứ, chỉ biết lợi ích cho mình.” Kẻ tiểu nhân lấy của
người làm của mình rồi mặc ai trách cứ chê bai mắng nhiếc,
miễn lấy được của thì thôi, nên nói “chỉ biết lợi
ích cho mình”.
“Đâu
biết giàu sang tại trời, chỉ thả ý tham cầu.” Theo nhà
Nho giàu sang là tại trời, theo nhà Phật giàu sang là do nghiệp
lành mà được. Kẻ tiểu nhân không biết nên buông thả ý
mình, thấy cái gì là mong cầu cái ấy, không biết hạn chế,
ngăn ngừa lòng tham rồi làm những việc tà quấy như:
“Thuốc
chó, đào hầm, đục tường, khoét vách theo gót tướng quân
Sơn Dương, tập làm Lương Thượng quân tử.” Sơn Dương
tướng quân là chỉ một số tướng cướp thời xưa ở Trung
Quốc, ẩn trên đất Sơn Dương. Còn Lương Thượng quân tử
tức là người quân tử ở trên xà nhà (lương là cây kèo,
là xà nhà). Gọi như vậy là do câu chuyện như sau: Đời Hậu
Hán có ông Trần Thực là người khá giả học thức. Một
buổi tối gia đình đang tụ họp, ông nhìn lên xà nhà thấy
chú ăn trộm nằm núp sẵn trên đó chờ tối để xuống.
Ông mới gọi tất cả con cháu đến rồi bảo: Con người
bản tánh thiện, nghĩa là con người bất thiện vị tất vốn
ác, vì tập nên thành thói xấu, thành kẻ Lương Thượng quân
tử. Người ăn trộm trên xà nhà nghe ông chủ nhà nói biết
là chỉ mình nên tuột xuống, rồi khúm núm kính sợ. Ông
Trần Thực khuyên: Anh nên bỏ nghề này để làm người lương
thiện. Người ăn trộm xấu hổ, từ đó về sau bỏ nghề
trộm. Và những người ăn trộm trong làng nghe câu chuyện
Lương Thượng quân tử cũng xấu hổ bỏ nghề luôn. Nhờ
lời khuyên dạy của ông Trần Thực mà trong làng không còn
ai làm nghề trộm đạo. Còn chúng ta nếu thấy ăn trộm thì
nói làm sao? Chắc sẽ bảo đó là kẻ tiểu nhân núp trên
xà nhà, chớ đâu bao giờ nói là người quân tử! Nhưng nhờ
gọi người ăn trộm là quân tử nên ông ấy xấu hổ đổi
thái độ và quan niệm để trở thành người tốt.
“Nghịch
trời trái đất, dối pháp khinh hình. Khi sống thì pháp luật
trừng trị, lúc chết bị Minh ty khảo tra.” Kẻ trộm cướp
là người nghịch với lòng trời, trái với ý đất, dối
pháp luật, khinh những hình phạt. Khi sống thì bị pháp luật
trừng trị, lúc chết bị Minh ty tra khảo. Chữ Minh, theo chữ
Hán nghĩa là tối, Minh ty tức là âm phủ.
“Không
những đống vàng khối ngọc, dầu rằng cọng cỏ mảy lông.”
Không phải lấy trộm một đống vàng, một khối ngọc mới
mang tội ăn trộm, mà dù một cọng cỏ, một mảy lông, người
không cho cũng không được lấy. Chúng ta thường có bệnh
nói trộm cướp là phải cái gì to lớn như đống vàng khối
ngọc chẳng hạn, còn trái cà trái ớt nhỏ xíu, đi ngang thấy
lảy bỏ vào túi không cần hỏi ai, tưởng là không có tội;
nhưng dù vật nhỏ bao nhiêu cũng do công khó nhọc của người
trồng, mình không xin người chưa cho thì không được quyền
lấy. Đây mới dẫn tích xưa:
“Ngửi
mùi hương sen trong ao mà Địa thần còn quở.” Đây là dẫn
câu chuyện một ông Sa-di đi qua hồ sen, thấy hoa nở có mùi
thơm đứng lại nhìn và ngửi mùi sen thơm. Chợt có Địa
thần xuất hiện và quở: Tại sao ông ngửi trộm hương hoa
sen của tôi? Ông Sa-di nói: Tôi chỉ ngửi mùi hương, đâu
có hại gì đến hoa của ông. Địa thần bảo: Ngửi như vậy
là đã phạm tội trộm rồi. Ngay lúc đó có đôi ba người
ào xuống hồ sen kẻ hái gương người nhổ ngó. Ông Sa-di
hỏi lại ông thần: Tôi chỉ ngửi một chút hương sen mà
ông đã quở, còn những người kia bẻ gương móc ngó, sao
ông không rầy? Địa thần nói: Ví như có người mặc chiếc
áo trắng chỉ cần dính một điểm mực nhỏ đã thấy dơ
rồi. Còn người mặc áo đen nếu dính một bệt mực to cũng
không thấy là dơ. Ông thần nói tiếp: Cũng như vậy, vì ông
là người tu thanh tịnh, nên ngửi lén một chút hương sen,
ông đã nhơ rồi, còn các người kia là kẻ phàm tục dù họ
có làm những điều tội lỗi cũng như bệt mực phết lên
chiếc áo đen không ai thấy, nên tôi không rầy. Qua câu chuyện
này chúng ta thấy người tu là phải dè dặt tối đa, đừng
nghĩ rằng người ta ăn trộm còn không sao, mình hái có trái
cà trái ớt đâu có gì quan trọng. Song thái độ người tu
phải khác hơn, dù một chuyện nhỏ cũng phải tránh, vì mình
là người trong sạch, một vết nhơ tuy nhỏ cũng làm nhơ mình
rồi. Còn người đã nhơ sẵn thì một vết nữa cũng không
thấm vào đâu.
“Cho
vay lấy lời Diêm Vương còn phạt.” Đến việc cho vay lấy
lời cũng vậy, vua Diêm Vương cũng rầy phạt, chớ không phải
dễ. Như người tu ở chùa thỉnh thoảng ngân quĩ được rộng,
cũng muốn cho vay lấy lãi, mà không ngờ việc làm đó cũng
bị quở rầy!
“Lưới
trời lồng lộng, làm thiện thì thoát, làm ác thì mang. Phép
nước thênh thang, làm việc công thì khỏi, làm việc tư thì
phạm.” Lưới trời tuy nhìn không thấy, nhưng lồng lộng
mênh mông, nếu làm lành thì không dính mắc lưới trời, còn
làm ác nhất định mắc họa bị đọa đày, không sao tránh
khỏi. Phép nước mênh mông rộng lớn, nếu làm việc công
ích lợi cho mọi người thì không phạm tội. Nếu vì tư tài
tư lợi được mình hại người thì phạm tội, chớ không
tránh được.
Kệ
rằng:
Đục
vách đào tường ý chẳng thôi,
Trăm
mưu ngàn kế khổ mong cầu.
Đời
này ví được của người đấy,
Nào
biết muôn phen kiếp ngựa trâu.
Đục
vách, đào tường là làm nghề trộm cướp, làm mãi không
muốn thôi. Bày ra trăm mưu ngàn kế để mong cầu được tài
lợi của người. Ví như đời này được hưởng, đâu có
biết muôn kiếp phải làm trâu ngựa để đền trả. Đừng
nghĩ lấy của người hưởng hết là xong, hiện giờ tưởng
như sung sướng, nhưng đời sau phải chịu khổ đau không biết
bao nhiêu lần. Vì vậy phải ngừa tránh chớ lấy của người,
đó là giữ giới trộm cướp.
VĂN
GIỚI SẮC
Giới
sắc tức là giới tà dâm đối với người tại gia, còn với
người xuất gia gọi là giới dâm dục.
“Lưng
ong tóc mượt hay khiến tâm tánh say mê; sắc én mày ngài làm
cho hồn phiêu phách lạc. Đưa mắt liếc chẳng phải dao mài
mà ai không đứt ruột. Lưỡi uốn tựa sáo diều, mọi người
đều phải lắng nghe. Người mê thì nghĩa thân sơ đều dứt;
kẻ tham thì đạo đức tiêu tan. Trên thì phong giáo đắm chìm,
dưới thì khuê môn tán loạn. Bất luận phàm phu, học giả
đều say áo đẹp thích điểm trang. Kỷ cương quốc gia bị
rơi chốn Tô Đài; giới thể bị chôn vùi nơi dâm thất.”
Đoạn
này nói tai họa của sắc đẹp. “Lưng ong tóc mượt hay khiến
tâm tánh say mê. Sắc én mày ngài làm cho hồn phiêu phách lạc.”
Đây diễn tả hình dáng của người đẹp. Đôi mày ngài,
gương mặt đẹp khiến cho người nhìn phải hồn xiêu phách
tán.
“Đưa
mắt liếc chẳng phải dao mài mà ai không đứt ruột. Lưỡi
uốn tựa sáo diều, mọi người đều phải lắng nghe.” Liếc
mắt không phải dao mà người bị đứt ruột. Khéo nói khéo
lựa lời êm dịu nên ai nghe cũng phải lắng tai.
“Người
mê thì nghĩa thân sơ đều dứt, kẻ tham thì đạo đức tiêu
tan. Trên thì phong giáo đắm chìm, dưới thì khuê môn tán
loạn.” Người mê sắc thì nghĩa thân như cha mẹ, sơ như
bà con láng giềng đều tan mất. Kẻ tham mê sắc dục thì
đạo đức tiêu tan. Trên thì gia phong và giáo dục bị mất,
trong gia đình riêng thì khuê môn tán loạn, chồng vợ bất
hòa.
“Bất
luận phàm phu, học giả đều say áo đẹp, thích điểm trang.
Kỷ cương quốc gia bị rơi chốn Tô Đài, giới thể bị chôn
vùi nơi dâm thất.” Dù kẻ phàm phu tầm thường hay người
học giả cao siêu đều say mê những chiếc áo đẹp, thích
dáng điểm trang của người khác phái. Do đó kỷ cương quốc
gia bị rơi nơi chốn Tô Đài. Tô Đài là cái đài xây cất
trên núi Cô Tô bên Trung Hoa. Ngày xưa, vua Ngô Phù Sai vì say
mê sắc đẹp Tây Thi, ngày đêm vui chơi trên Tô Đài, quên
hết việc nước, nên về sau bị Việt vương Câu Tiễn kéo
quân sang đánh, nước Ngô tan nát, vua Ngô phải chết. Còn
người tu mà đắm mê nhan sắc thì giới thể bị chôn vùi
nơi dâm thất.
“Thảy
do phóng mắt đuổi theo bên ngoài, nên không xoay đầu nhìn
lại bên trong”, mỗi giới đều có nhắc lại câu này. Đoạn
trước nói: Nếu xoay đầu liền đến quê hương, ở đây
nói: Do phóng mắt đuổi theo bên ngoài... con người say mê
sắc đẹp vì phóng tầm mắt đuổi theo những hình dáng bên
ngoài, nên không xoay đầu nhìn lại bên trong, tức là không
biết xoay trở lại quê hương mình.
“Cởi
hết lụa là che thân chỉ bày làn da bọc thịt. Độc giác
gần nữ am mà hoàn tục; Chân quân xa Thán phụ nên thăng thiên.
Người chẳng theo sắc được năm thần thông; kẻ mê sắc
thì mất các giới hạnh.” Con người chỉ có dáng bên ngoài,
lụa là che thân, rồi trang điểm cho đẹp đẽ. Nếu cởi
tất cả những che đậy bên ngoài, thì ai cũng là da thịt
bọc xương, có gì đâu mê say! Thế mà ngày xưa có một vị
tiên Độc giác vì gần nữ am, tức là nhà của người nữ,
mà bị hoàn tục. Trong kinh Phật có câu chuyện: Ngày xưa có
một vị Độc giác đi khất thực, một người nữ dâng cơm,
Ngài nhận. Nhận quen rồi lần lần có sự xúc chạm. Khi trước
mỗi lần nhận cơm xong Ngài dùng thần thông đi. Sau vì sự
xúc chạm Ngài mất thần thông trở thành người thế tục.
Đây là câu chuyện trong Luật, chúng ta thường nghe nhắc đến
vị Độc giác được vua cúng dường.
“Chân
quân xa Thán phụ nên thăng thiên.” Chân quân chỉ các đạo
sĩ tu tiên, Thán phụ là người đàn bà bằng than. Ngày xưa
có một đạo sĩ tu tiên tên Trương Đạo Lăng luyện được
nhiều pháp thuật, thuốc linh đơn và phù chú, danh tiếng đồn
khắp, số người theo học rất đông. Ông muốn thử học
trò xem ai quyết chí tu, nên lấy than gọt làm một người
nữ và hóa thành một cô gái rất đẹp, rồi cho cô tới trêu
ghẹo các đệ tử. Nếu người nào nắm tay cô gái thì tay
bị nhuộm đen. Khi trình tay lên thầy xem, vị đệ tử nào
tay bị dính đen thầy nói không xong rồi cho về nhà, người
nào tay trắng sạch thầy cho học.
Ở
đây nói Chân quân là một người học đạo tiên với Ngô
Mãnh, nhân không dính mắc phái nữ nên sau này được sanh
cõi trời. Như vậy người chẳng theo sắc được năm thần
thông, còn kẻ mê sắc thì mất các giới hạnh.
Kệ
rằng:
Má
thoảng hương mai, mặt nhụy đào,
Thấy
rồi mắt dán, ý nao nao.
Thảy
đều một đãy da hôi thúi,
Thầm
cắt ruột người chẳng dụng dao.
“Má
thoảng hương mai, mặt nhụy đào”, đây tả dáng người
nữ đẹp.
“Thấy
rồi mắt dán, ý nao nao”, thấy người đẹp thì mắt nhìn
mãi không rời, trong lòng xao xuyến nao nao.
“Thảy
đều một đãy da hôi thúi”, nhưng xét kỹ chỉ có dáng bên
ngoài, thật sự nam hay nữ, ai cũng chỉ là một đãy da hôi
thúi.
“Thầm
cắt ruột người chẳng dụng dao.” Thế mà có người bị
chết không cần dùng phương tiện, bị cắt đứt ruột không
cần dùng dao. Đây là lời nhắc nhở những ai có bệnh đắm
mê sắc đẹp thì sẽ gặp hiểm nguy như vậy.
VĂN
GIỚI VỌNG NGỮ
“Tâm
là gốc thiện ác, miệng là cửa họa phúc. Nghĩ một niệm
thì hưởng ứng không sai; nói một lời thì bóng theo chẳng
lệch. Quân tử trọng lời như biện; cổ nhân ngừa nói như
bình. Nói ra thì ngay thẳng công bằng; mở lời thì không cong
queo tà vạy. Không nói đây hay kia dở; chẳng bàn mình phải
người sai. Đâu dám khua môi múa lưỡi, cần phải giữ miệng
gìn lời. Vả nghiệp của thân là nặng, song họa của miệng
là trước. Chẳng những kẻ nói là vọng ngôn, còn khiến
người nghe làm bậy.”
Đoạn
này giải thích về lỗi của vọng ngữ.
“Tâm
là gốc thiện ác”, tâm là những ý niệm, nguồn của thiện
và ác.
“Miệng
là cửa họa phúc”, họa từ miệng mà ra, nên phải dè dặt
lời nói.
“Nghĩ
một niệm thì hưởng ứng không sai”, chỉ khởi nghĩ một
niệm là có sự hưởng ứng đúng như điều mình nghĩ, nghĩ
xấu có hưởng ứng xấu, nghĩ tốt có hưởng ứng tốt rõ
ràng.
“Nói
một lời thì bóng theo chẳng lệch”, một lời nói ra quả
báo sẽ theo không sai chạy. Lời nói lành có quả lành, lời
nói ác có quả ác theo ngay. Thế nên:
“Quân
tử trọng lời như biện”, tức là người quân tử trọng
lời nói như đinh đóng vậy. Biện là cái thành của chiếc
giường, gồm những miếng gỗ nhờ đóng đinh nên cứng lại,
ý nói người quân tử trọng lời nói như đóng đinh vào gỗ
vậy.
“Cổ
nhân ngừa nói như bình”, người xưa ngừa miệng mình như
bình. Cái bình nếu để đứng thì không đổ nước, để
nghiêng thì đổ. Vì thế chúng ta luôn luôn ngừa lời nói,
không phát ra những lời vô nghĩa hay những lời hại người.
“Nói
ra thì ngay thẳng công bằng, mở lời thì không cong queo tà
vâïy.” Người quân tử đạo đức nói lời ngay thẳng đúng
đắn, không tà vạy. Còn người thế gian thấy một đàng
nói một ngả, hoặc nói móp méo sự thật, đó gọi là nói
cong queo tà vạy. Lời nói thẳng là không nói quanh co, có thế
nào nói thế ấy.
“Không
nói đây hay kia dở, chẳng bàn mình phải người sai.” Chẳng
những người cư sĩ tại gia mà cả người xuất gia cũng phải
học thuộc câu này. Khi năm ba huynh đệ họp lại thường
bàn chuyện người này hay người kia dở gọi là bàn chuyện
thị phi. Chúng ta không nên nói chuyện hay dở của người,
cũng chẳng bàn mình phải người sai, người nói lời thô
lỗ vô phép, còn mình đối xử rất đẹp rất hay. Ít khi
nào chúng ta nhận dở về mình và khen người hay khéo, lúc
nào cũng cái ta trên hết. Cái ta hiện rõ ràng trong lời, cho
nên ít nói là hơn hết.
“Đâu
dám khua môi múa lưỡi, cần phải giữ miệng gìn lời.”
Đừng múa lưỡi phô trương mình giỏi mình khôn, cần phải
giữ miệng không nói lời sai quấy rỗng suông.
“Vả
nghiệp của thân là nặng, song họa của miệng là trước.”
Tuy nghiệp thân là nặng, song miệng cãi rầy trước rồi thân
đánh đập sau làm khổ cho nhau. Ở thế gian nếu mỗi người
biết giữ gìn miệng, thì trong nhà ít có cãi rầy đi đến
đánh nhau. Vậy ai khéo giữ miệng thì sẽ tránh được tai
họa này.
“Chẳng
những kẻ nói vọng ngôn, còn khiến người nghe làm bậy.”
Nếu mình nói dối nói sai, khiến người nghe tưởng thật,
họ làm bậy theo, đó là lỗi tại mình.
“Đời
này bị người khinh rẻ, sau khi chết bị nghiệp kéo lôi.
Hoặc kềm sắt kéo lưỡi cam chịu chua cay. Hoặc nước đồng
sôi rót vào miệng lòng ôm đau đớn.”
Ai
thường nói dối, hiện đời bị người khinh rẻ, sau khi chết
nghiệp báo lôi vào địa ngục. Nơi đó kềm sắt kéo lưỡi
cắt đi, thật là chua cay đau đớn. Lại bị đổ nước đồng
sôi vào miệng, cháy cả ruột gan. Như thế quả báo nói dối
hiện đời đã xấu, đời sau lại càng khổ đau, nên phải
ráng ngừa tránh.
Kệ
rằng:
Kề
vai cười nói khua lưỡi môi,
Cứ
mải làm người vọng ngữ thôi.
Riêng
ý cầu tài, mong người thích,
Sau
cùng khó tránh nghiệp kéo lôi.
“Kề
vai cười nói khua lưỡi môi.” Muốn dụ dỗ người nghe lời
dối trá của mình thì phải kề vai nói cười thân thiết.
“Cứ
mải làm người vọng ngữ thôi”, cứ như vậy mà làm người
nói dối mãi.
“Riêng
ý cầu tài mong người thích”, mong được tài lợi về mình
thì phải nói dối làm người ta ưa thích mới gạt được
người.
“Sau
cùng khó tránh nghiệp kéo lôi.” Đến lúc chết, bị nghiệp
lôi kéo vào địa ngục chịu những hình phạt khổ sở đau
đớn vô cùng. Quả báo trong địa ngục là do vọng ngữ vậy.
VĂN
GIỚI RƯỢU
“Người
ưa uống rượu thì đức hạnh suy kém, lời nói nhiều lỗi
lầm. Hơi nóng xông nát dạ dày, vị cay xuyên thủng gan ruột.
Rối loạn tinh thần, tâm tánh hôn mê. Chẳng nghĩ đến cha
mẹ, tội ngũ nghịch chuyên làm. Hoặc ồn náo nơi tiệm quán,
hoặc say mèm ngoài đường sá. Khi trời mắng đất, hủy Phật
chê Tăng. Miệng lảm nhảm ca hát, thân trần trụi nhảy múa.
Đã không tiếp Phật cúng dường, mà lại theo bọn mũ đen
bất chánh. Tan thân mất mạng từ đó mà sanh, mất nước
hại nhà từ đây mà có.”
Người
ưa uống rượu thì đức hạnh suy kém, lời nói nhiều lỗi
lầm. Đây là điều cụ thể vô cùng... Uống rượu nhiều
thì quên hết những điều hay lẽ phải, nên đức hạnh suy
kém, lời nói không xét nghĩ nên dễ sanh lỗi lầm.
“Hơi
nóng xông nát dạ dày, vị cay xuyên thủng gan ruột.” Uống
rượu vào nóng quá làm cho dạ dày bị loét hư, vị cay của
rượu làm gan ruột bị bệnh.
“Rối
loạn tinh thần, tâm tánh hôn mê.” Đây là tai họa của rượu:
Đức hạnh suy kém, thân thể bệnh hoạn, tinh thần tối tăm,
tất cả đều do uống rượu.
“Chẳng
nghĩ đến cha mẹ, tội ngũ nghịch chuyên làm.” Khi say sưa
rồi thì không nghĩ đến cha mẹ, vì vậy dễ sanh tội ngũ
nghịch giết hại mẹ cha...
“Hoặc
ồn náo nơi tiệm quán, hoặc say mèm ngoài đường sá.” Uống
rượu quá nhiều, nơi quán tiệm thì nói năng ồn náo cãi
vã qua lại. Hoặc say mèm đi không nổi nằm vật ngã bên lề
đường. Lúc say sưa thì:
“Khi
trời, mắng đất, hủy Phật, chê Tăng”, không coi ai ra gì,
cũng chẳng kể trời đất. “Miệng lảm nhảm hát ca” giống
người mất trí.
“Thân
trần trụi nhảy múa” ngoài đường, lũ con nít vây quanh
reo cười chế nhạo. Chỉ vì rượu mà từ con người tỉnh
biến thành người điên. Thế mà người ta lại thích làm
kẻ điên, không chịu làm người tỉnh!
Về
phần đạo đức: “Đã không tiếp Phật cúng dường mà lại
theo bọn mũ đen bất chánh.” Chẳng biết đến Phật cúng
dường, lại theo bọn bất chánh làm nghề trộm cướp.
“Tan
thân mất mạng từ đó mà sanh, mất nước hại nhà từ đây
mà có.” Tan thân mất mạng hoặc hư nhà mất nước cũng
vì rượu.
“Bỏ
rượu thì ngàn điềm lành đồng tới, uống rượu thì trăm
họa kéo về. Đại Võ không uống rượu nên muôn họ đều
theo. Thái Khang mê rượu nên năm con đều oán. Đâu chỉ hàng
phong lưu phải răn, mà bậc đạt giả cũng cần phải tránh.
Bao nhiêu người rạng rỡ trên đời, lại bị tối tăm trong
rượu.”
Nếu
không uống rượu thì ngàn điều lành đồng tới, còn uống
rượu thì trăm tai họa kéo về.
“Đại
Võ không uống rượu nên muôn họ đều theo. Thái Khang mê
rượu nên năm con đều oán.” Theo sử Trung Hoa, vua Đại Võ
do không uống rượu nên muôn họ đều theo, còn ông Thái Khang
vì mê rượu, nên năm người con đều oán trách bỏ ông.
“Đâu
chỉ hàng phong lưu phải răn, mà bậc đạt giả cũng cần
phải tránh.” Không những hàng nho nhã ngoài đời phải ngừa
rượu, mà cả bậc đạt giả tức người tu hành có đạo
đức cao cũng phải tránh uống rượu.
“Bao
nhiêu người rạng rỡ trên đời, lại bị tối tăm trong rượu.”
Người có danh tiếng giàu sang, rốt cuộc bị rượu làm cho
tăm tối. Rượu là một tai họa rất lớn lao vậy.
Kệ
rằng:
Men
bã một vò ủ nấu thành,
Bao
nhiêu người trí mất thông minh.
Chẳng
riêng Tăng sĩ không gìn giới,
Mất
nước tan nhà từ đó sanh.
Rượu
là gì? Chẳng qua là men trộn với bã nếp hoặc gạo, đổ
vào vò ủ, rồi nấu thành rượu. Thế mà bao nhiêu người
trí mất thông minh vì nó. Không phải riêng người tu sĩ uống
rượu là phạm giới, (không uống rượu là giữ giới), mà
tất cả người thế gian từ vua chúa đến quan dân nếu mê
say rượu, vua chúa thì mất nước, quan dân thì tan nhà, tất
cả đều do bệnh rượu. Trong năm giới, giới uống rượu
dường như nhẹ, mà thật là họa không thể lường. Vậy
mỗi người phải cố gắng tránh rượu, tránh được là mình
đã tiến một bước rất lớn, không gây lỗi lầm tai họa
cho mình và người.