Tựa
THIỀN
TÔNG CHỈ NAM
Dịch
Trẫm
thầm nghĩ: Phật không có nam bắc, mọi người đều có thể
tu cầu. Tánh có trí ngu, đồng sẵn giác ngộ. Vì vậy, phương
tiện dẫn dụ đám người mê, để sáng tỏ đường tắt
sanh tử, là kinh điển của đức Phật chúng ta. Đặt mực
thước cho đời, làm mô phạm người sau, là trọng trách các
bậc Thánh trước (Tổ). Cho nên Lục Tổ nói: “Những bậc
Thánh trước (Tổ) cùng Đại sư (Phật) không khác.” Nên
biết giáo pháp của Phật nhờ các bậc Thánh trước truyền
bá ở đời. Nay Trẫm đâu thể không lấy trách nhiệm các
bậc Thánh trước làm trách nhiệm của mình, giáo pháp của
Phật làm giáo pháp của mình.
Vả
lại, thuở Trẫm còn niên thiếu có chút ít hiểu biết, vừa
nghe lời dạy của Thiền sư thì tâm tư lóng lặng, bỗng dưng
thanh tịnh; nên để tâm nơi nội giáo, tham cứu Thiền tông,
dốc lòng tìm thầy, chí thành mộ đạo. Tuy ý hồi hướng
đã nẩy mầm, mà cơ cảm xúc chưa thấu suốt.
Năm
mười sáu tuổi, Thái hậu đã chán cõi đời, Trẫm nằm rơm
gối đất, khóc ra máu mắt, đau đớn nát lòng; ngoài nỗi
đau buồn này, đâu rảnh nghĩ việc khác. Chỉ vài năm sau,
Thái Tổ Hoàng đế cũng băng hà. Lòng thương mẹ chưa nguôi,
nỗi xót cha càng thống thiết, buồn thảm tràn trề khó bề
dẹp được. Trẫm nghĩ: Công cha mẹ đối với con, nuôi nấng
vỗ về không thiếu điều gì, dù con phải xương tan thịt
nát vẫn chưa đủ đáp đền trong muôn một. Huống nữa, Thái
Tổ Hoàng đế khai cơ lập nghiệp rất đỗi gian nan, trị
nước giúp đời càng hệ trọng. Người đem đất nước giao
cho ta khi còn thơ ấu, khiến ta ngày đêm canh cánh không chút
thảnh thơi. Ta lòng riêng tự bảo: Trên đã không còn cha mẹ
để tựa nương, dưới ngại chẳng xứng lòng dân mong đợi.
Phải làm sao đây? Ta suy đi nghĩ lại: Chi bằng lui về ở
chốn núi rừng, tìm học Phật pháp để hiểu rõ việc lớn
sanh tử, lấy đó đền đáp công ơn cha mẹ, chẳng hay hơn
sao? Thế là chí Trẫm đã quyết định.
Đêm
mùng ba tháng tư năm Bính Thân, niên hiệu Thiên Ứng Chính
Bình thứ năm (1236), Trẫm đổi y phục đi ra khỏi cửa cung,
bảo tả hữu rằng: “Trẫm muốn đi dạo để ngầm nghe lời
dân, biết được chí dân, mới hiểu thấu nỗi khó khăn của
họ.” Bấy giờ tả hữu theo Trẫm không quá bảy tám người.
Giờ hợi đêm ấy, Trẫm cỡi một ngựa lặng lẽ ra đi; sang
sông thẳng về hướng đông, mới nói thật lòng cho tả hữu
biết. Tả hữu ngạc nhiên, tất cả đều khóc. Giờ mẹo
hôm sau, đến bến đò Đại Than bên núi Phả Lại, sợ có
người biết, Trẫm lấy áo che mặt qua sông, đi tắt theo đường
núi. Đến tối vào nghỉ chùa Tăng Giác Hạnh, đợi sáng lại
đi. Leo trèo lặn lội, núi hiểm suối sâu, ngựa mỏi mệt
không thể tiến lên được; Trẫm bèn bỏ ngựa vin vách đá
mà lần bước, đến giờ mùi mới tới sườn núi Yên Tử.
Sáng hôm sau, Trẫm trèo thẳng lên đỉnh núi, tham kiến vị
Đại Sa-môn Quốc sư Trúc Lâm. Quốc sư vừa thấy Trẫm mừng
rỡ, ung dung bảo:
“Lão
tăng ở lâu nơi sơn dã, xương cứng mặt gầy, ăn rau đắng
cắn hạt dẻ, uống nước suối dạo cảnh rừng, lòng như
mây nổi theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ,
nghĩ đến nơi quê hèn rừng núi, chẳng hay bệ hạ mong cầu
điều gì mà đến đây?”
Trẫm
nghe nói, hai hàng nước mắt tự tràn, đáp lại Sư rằng:
“Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ
dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế
vương đời trước, thịnh suy không thường, cho nên Trẫm
đến núi này chỉ cầu làm PHẬT, chớ không cầu gì khác.”
Sư bảo:
“Trong
núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng
mà biết gọi là Chân Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này
thì tức khắc thành Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài.”
Bấy
giờ ông chú Trần Công, người em họ mà tiên quân gởi gắm
đứa con côi, sau khi tiên quân bỏ thế gian và quần thần,
Trẫm phong làm Thái sư tham dự quốc chính. Nghe tin Trẫm trốn
đi, ông liền sai tả hữu đi mọi nơi dò tìm tung tích, rồi
cùng người trong nước lên đến núi này. Gặp Trẫm, ông
thống thiết nói:
“Thần
nhận sự ủy thác của tiên quân, tôn bệ hạ làm chúa thần
dân. Lòng dân trông đợi ở bệ hạ như con nhỏ mong đợi
cha mẹ. Huống nữa, ngày nay các cố lão trong triều đều
là bề tôi thân thuộc, dân chúng sĩ thứ ai cũng vui vẻ phục
tùng. Cho đến đứa bé lên bảy cũng biết bệ hạ là cha
mẹ dân. Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nấm đất trên mồ
chưa khô, lời dặn dò còn vẳng bên tai. Mà nay bệ hạ trốn
lánh vào núi rừng, ẩn cư để mong thỏa mãn chí mình. Như
thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu thì có thể được, còn
quốc gia xã tắc thì sao? Chỉ để lời dạy suông cho đời
sau, chi bằng đem thân mình làm gương trước cho thiên hạ.
Bệ hạ nếu không nghĩ lại, chúng thần cùng người trong
thiên hạ đồng chết ngay hôm nay, quyết chí không trở về.”
Trẫm
thấy Thái sư cùng các cố lão quần thần không có ý bỏ
Trẫm, liền đem lời này tỏ bày với Quốc sư. Quốc sư cầm
tay Trẫm bảo:
“Phàm
làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm
ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình.
Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không về
sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng
xao lãng.”
Vì
thế, Trẫm cùng mọi người trở về Kinh, miễn cưỡng lên
ngôi. Khoảng hơn mười năm, những khi được rảnh rỗi, Trẫm
tập họp các vị kỳ đức để tham cứu thiền, hỏi đạo
và các kinh Đại thừa... đều nghiên cứu qua. Trẫm thường
đọc kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”,
trong khoảng để quyển kinh xuống ngâm nga, bỗng nhiên tự
ngộ. Liền đem sở ngộ này viết thành bài ca, để tên là
“Thiền Tông Chỉ Nam”. Năm này, Quốc sư từ núi Yên Tử
về KINH, TRẫM mời ở chùa Thắng Nghiêm, trông coi việc ấn
bản các kinh. Trẫm đem tập sách này trình Sư, Sư xem qua liền
tán thán rằng:
“Tâm
chư Phật ở trọn nơi đây, sao không nhân khắc in các kinh,
khắc in luôn để dạy kẻ hậu học.”
Trẫm
nghe lời này, sai thợ viết chữ chân phương, ra lệnh khắc
bản in. Chẳng những để chỉ đường mê cho hậu thế, mà
còn muốn tiếp nối công lớn các bậc Thánh nhân đời trước.
Vì thế tự làm lời tựa này.
Giảng
Qua
các tư liệu về Phật giáo Thiền tông đời Trần, chúng ta
được biết đường lối tu thiền đời Trần bắt đầu từ
vua Trần Thái Tông. Ngài là người lãnh đạo đất nước,
đồng thời là một ông vua Thiền sư. Nói đến Thiền tông
đời Trần chúng ta cần nhìn tổng quát trước, rồi đi vào
phần chi tiết sau.
Về
đời Trần, các nhà nghiên cứu sử có những phê bình khác
nhau, vì đứng từng góc độ khác nhau. Trên góc độ Khổng
giáo, các vua đời Trần có lỗi là trong thân tộc cưới gả
lẫn nhau, làm mất đi tinh thần luân lý đạo đức. Nhưng
nếu nhìn qua góc độ Phật giáo Thiền tông thì các ngài ở
địa vị vua mà có thể tu hành đạt đạo, rất xứng đáng
để chúng ta học hỏi. Đặc điểm của các Thiền sư đời
Trần là các ngài hiểu đạo, nói được và thực hành được.
Ngày nay noi gương các ngài, không phải chúng ta chỉ biết
lý thuyết suông mà phải thực hành cho được những điều
đã học. Hơn nữa trong hoàn cảnh làm vua đang cai trị đất
nước, chống ngoại xâm, hoàn cảnh hết sức khó khăn bận
rộn mà các ngài vẫn nghiên cứu Phật giáo và vẫn tu được.
Chúng ta hiện giờ dù bận rộn bao nhiêu cũng không thể so
bì được, trái lại còn phải thành tâm kính bái các ngài.
Đó là điều chúng tôi muốn nêu ra để tất cả thấy rõ
tinh thần người xưa như thế nào và chúng ta ngày nay không
thể sánh bằng.
Nói
về vua Trần Thái Tông, trước hết chúng ta phải hiểu qua
lịch sử của Ngài, phần này chúng tôi có ghi trong quyển
Thiền Sư Việt Nam:
“Trần
Thái Tông, ông vua Thiền sư (1218-1277).
Trần
Thái Tông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sanh năm
Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) triều Lý. Gia
thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức
Mặc huyện Mỹ Lộc tỉnh Hà Nam Ninh); ông cha làm nghề đánh
cá. Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực
từ đời Lý Cao Tông. Trần Cảnh mới có tám tuổi được
Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu
là Thái Tông.”
Như
vậy vua Trần Thái Tông lên ngôi năm tám tuổi, còn nhỏ chưa
biết cai trị đất nước, chú là Trần Thủ Độ thay quyền
làm Nhiếp chánh. Tuy Thái Tông ở địa vị vua, nhưng chỉ
có danh mà chưa có thực.
“Năm
Thái Tông lên hai mươi tuổi, Lý Chiêu Hoàng mười chín tuổi
đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng
Chiêu Hoàng làm Công chúa, lấy chị bà là vợ Trần Liễu
(anh ruột Thái Tông) làm Hoàng hậu. Lý do, vì Thủ Độ nôn
nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng chậm con,
chị bà đang mang thai. Trần Liễu phẫn uất nổi loạn tháng
giêng năm Bính Thân (1236).”
Đây
là hành động mà các sử gia Nho học phê phán rất nhiều.
Theo
sử năm vua Trần Thái Tông được hai mươi tuổi, bà Lý Chiêu
Hoàng mới mười chín tuổi bị giáng xuống làm Công chúa,
lại đem chị bà là vợ Trần Liễu làm Hoàng hậu, do đó
có rối loạn trong nội bộ. Đoạn sử này dẫn đến bài
học hôm nay: Tựa Thiền Tông Chỉ Nam.
Sách
vở đời Trần rất nhiều, song những tư liệu còn sót lại
không có bao nhiêu. Tỉ dụ như bài Tựa Thiền Tông Chỉ Nam
còn lại đây, tức là có quyển sách Thiền Tông Chỉ Nam mà
nay đã thất lạc. Bài tựa này bằng chữ Hán đích thân vua
Trần Thái Tông viết, chúng tôi dịch ra tiếng Việt.
“Trẫm
thầm nghĩ: Phật không có nam bắc, mọi người đều có thể
tu cầu. Tánh có trí ngu, đồng sẵn giác ngộ. Vì vậy, phương
tiện dẫn dụ đám người mê, để sáng tỏ đường tắt
sanh tử, là kinh điển của đức Phật chúng ta. Đặt mực
thước cho đời, làm mô phạm người sau, là trọng trách các
bậc Thánh trước (Tổ). Cho nên Lục Tổ nói: ‘Những bậc
Thánh trước (Tổ) cùng Đại sư (Phật) không khác.’ Nên
biết giáo pháp của Phật nhờ các bậc Thánh trước truyền
bá ở đời. Nay Trẫm đâu thể không lấy trách nhiệm các
bậc Thánh trước làm trách nhiệm của mình, giáo pháp của
Phật làm giáo pháp của mình.”
Trong
đoạn này vua Thái Tông nêu lên trọng trách của Ngài đối
với Phật pháp, tương đương với chư Tổ ngày xưa. Đức
Phật dùng tất cả phương tiện để hướng dẫn mọi người,
dù ở trình độ nào cũng có thể tiến tu. Nhưng đức Phật
chỉ trụ thế có tám mươi năm rồi nhập Niết-bàn. Từ đó
đến nay trên hai ngàn năm chúng ta biết được Phật pháp
là nhờ chư Tổ. Các ngài tiếp nối người trước chỉ dạy
người sau, lần hồi đến chúng ta ngày nay. Nếu không có
sự truyền bá đó thì chúng ta không biết đâu mà tìm hiểu
và thấy được giáo lý của Phật. Khi xưa chư Tổ lấy việc
truyền bá chánh pháp làm trách nhiệm chánh, nay nhà vua hiểu
được Phật pháp phần nào thấy mình cũng có trách nhiệm
như chư Tổ ngày trước.
“Lấy
giáo pháp của Phật làm giáo pháp của mình” tức là đức
Phật dùng chánh pháp giáo hóa mọi người và mình đang được
hấp thụ thì chánh pháp của Phật đã chuyển thành như của
mình. Từ đó tiếp nối truyền cho người sau, đó là trọng
trách của chư Tổ, đó cũng là bản ý của nhà vua, Ngài tự
đặt trách nhiệm phải làm sao truyền bá chánh pháp đến
mãi sau này.
“Vả
lại, thuở Trẫm còn niên thiếu có chút ít hiểu biết, vừa
nghe lời dạy của Thiền sư thì tâm tư lóng lặng, bỗng dưng
thanh tịnh; nên để tâm nơi nội giáo, tham cứu Thiền tông,
dốc lòng tìm thầy, chí thành mộ đạo. Tuy ý hồi hướng
đã nẩy mầm, mà cơ cảm xúc chưa thấu suốt.”
Đây
nói về vua Trần Thái Tông lúc còn bé khoảng mười hai tuổi,
hiểu biết chút ít, nhân nghe lời dạy của Thiền sư, tâm
Ngài liền lóng lặng. So lại chúng ta ngày nay hiểu biết rất
nhiều, rất đầy đủ mà nghe lời dạy của Thiền sư, tâm
mình có lắng được chút nào không? Do tâm Ngài lóng lặng,
nên liền an ổn thanh tịnh. Từ đó Ngài phát tâm tìm hiểu
nội giáo, nghiên cứu kinh điển và tham cứu Thiền tông. Ngài
hết lòng tìm thầy và chí thành mộ đạo.
“Tuy
ý hồi hướng đã nẩy mầm, mà cơ cảm xúc chưa thấu suốt.”
Thay vì hướng theo dục lạc thế gian, nhà vua xoay lại hướng
về kinh điển của Phật và học hỏi nơi các Thiền sư, nhưng
chưa được sự chỉ dạy để mở sáng con mắt đạo.
“Năm
mười sáu tuổi, Thái hậu đã chán cõi đời, Trẫm nằm rơm
gối đất, khóc ra máu mắt, đau đớn nát lòng; ngoài nỗi
đau buồn này, đâu rảnh nghĩ việc khác. Chỉ vài năm sau,
Thái Tổ Hoàng đế cũng băng hà. Lòng thương mẹ chưa nguôi,
nỗi xót cha càng thống thiết, buồn thảm tràn trề khó bề
dẹp được. Trẫm nghĩ: Công cha mẹ đối với con, nuôi nấng
vỗ về không thiếu điều gì, dù con phải xương tan thịt
nát vẫn chưa đủ đáp đền trong muôn một. Huống nữa, Thái
Tổ Hoàng đế khai cơ lập nghiệp rất đỗi gian nan, trị
nước giúp đời càng hệ trọng. Người đem đất nước giao
cho ta khi còn thơ ấu, khiến ta ngày đêm canh cánh không chút
thảnh thơi. Ta lòng riêng tự bảo: Trên đã không còn cha mẹ
để tựa nương, dưới ngại chẳng xứng lòng dân mong đợi.
Phải làm sao đây? Ta suy đi nghĩ lại: Chi bằng lui về ở
chốn núi rừng, tìm học Phật pháp để hiểu rõ việc lớn
sanh tử, lấy đó đền đáp công ơn cha mẹ, chẳng hay hơn
sao? Thế là chí Trẫm đã quyết định.”
Năm
mười sáu tuổi vua Trần Thái Tông mất mẹ, Ngài diễn tả
nỗi đau lòng rất là thống thiết, nào là nằm rơm gối đất,
khóc ra máu mắt, đau đớn nát lòng. Vài năm sau cha Ngài lại
mất, nỗi xót cha càng thống thiết, buồn thảm tràn trề,
khó bề dẹp được. Cha mẹ mất sớm, mà chưa đền đáp
được công ơn, Ngài rất là buồn khổ.
Nhà
vua lại nghĩ: “Thái Tổ Hoàng đế khai cơ lập nghiệp rất
đỗi gian nan.” Đây là lời tôn xưng ngài Trần Thừa lúc
đó làm quan đời Lý, có công giúp vua dẹp loạn. Nay Trần
Thái Tông lên ngôi nên tôn xưng cha là Thái Tổ Hoàng đế.
Nhà Trần vì có công cầm quân dẹp loạn, nên được nhà
Lý trọng dụng cho ở trong cung và phong chức lớn. Do đó ngài
Trần Cảnh được đem vào cung để kế thừa ngôi nhà Lý.
Vậy ngài Trần Cảnh lên ngôi là do công lao khai cơ lập nghiệp
rất là gian khổ của ông cha. Nay được giàu sang quyền thế
lãnh đạo cả đất nước, Ngài nhớ công ơn cha mẹ sâu dầy,
dầu cho tan thân mất mạng cũng không đền đáp được. Giờ
đây nhà vua còn nhỏ tuổi mà phải lãnh đạo toàn quốc không
biết có đủ khả năng để đảm đang trách nhiệm hay không,
nên Ngài mới nghĩ:
“Ta
lòng riêng tự bảo: Trên đã không còn cha mẹ để tựa nương,
dưới ngại chẳng xứng lòng dân mong đợi. Phải làm sao đây?”
Trên đã mất cha mẹ, dưới lại e không làm tròn bổn phận
đối với dân, bây giờ phải làm sao? Ngài nghĩ ra kế duy
nhất:
“Ta
suy đi nghĩ lại: Chi bằng lui về ở chốn núi rừng, tìm học
Phật pháp để hiểu rõ việc lớn sanh tử, lấy đó đền
đáp công ơn cha mẹ, chẳng hay hơn sao?”
Ngài
là vua mà suy gẫm như vậy, giúp cho chúng ta thêm một sức
mạnh trên đường tu. Ngài không dám nghĩ mình gánh vác việc
nước để đền ơn cha mẹ, mà nghĩ chỉ có đi tu, hiểu rõ
việc lớn sanh tử mới đủ đền đáp công ơn cha mẹ. Ngài
nhìn và hiểu Phật pháp rất sâu, nên Ngài quyết định đi
tu. “Thế là chí Trẫm đã quyết định.”
“Đêm
mùng ba tháng tư năm Bính Thân, niên hiệu Thiên Ứng Chính
Bình thứ năm, Trẫm đổi y phục đi ra khỏi cửa cung, bảo
tả hữu rằng: ‘Trẫm muốn đi dạo để ngầm nghe lời dân,
biết được chí dân, mới hiểu thấu nỗi khó khăn của họ.’
Bấy giờ tả hữu theo Trẫm không quá bảy tám người. Giờ
hợi đêm ấy, Trẫm cỡi một ngựa lặng lẽ ra đi; sang sông
thẳng về hướng đông, mới nói thật lòng cho tả hữu biết.
Tả hữu ngạc nhiên, tất cả đều khóc. Giờ mẹo hôm sau,
đến bến đò Đại Than, bên núi Phả Lại, sợ có người
biết, Trẫm lấy áo che mặt qua sông, đi tắt theo đường
núi. Đến tối vào nghỉ chùa Tăng Giác Hạnh, đợi sáng lại
đi. Leo trèo lặn lội, núi hiểm suối sâu, ngựa mỏi mệt
không thể tiến lên được; Trẫm bèn bỏ ngựa vin vách đá
mà lần bước, đến giờ mùi mới tới sườn núi Yên Tử.”
Khi
đã quyết chí, Ngài liền lặng lẽ ra đi lúc ban đêm. Từ
trong cung cấm đi ra rất khó, nên Ngài phải thay đổi y phục
và dẫn theo một ít kẻ tả hữu, giả nói là đi để thầm
nghe lời than oán của dân, để biết rõ nỗi khổ của họ.
Thầy trò âm thầm ra đi, theo hướng đông đi thẳng về phía
núi Yên Tử. Qua khỏi sông Ngài mới nói thật với tả hữu
là Ngài đi lên núi tu và cho tất cả trở về, mọi người
đều khóc. Một mình một ngựa ra đi, sáng hôm sau Ngài đến
bến đò Đại Than, lấy áo che mặt qua sông, đi tắt theo đường
núi. Nơi nào mệt mỏi, Ngài dừng nghỉ, đến tối nghỉ lại
chùa Tăng Giác Hạnh(Chùa Tăng Giác Hạnh là chùa của chư
Tăng, tên chùa là Giác Hạnh.), sáng lại ra đi. Leo trèo lặn
lội, khi đến gần núi Ngài phải bỏ ngựa theo vách đá mà
lần bước. Đường đi hết sức khó khăn hiểm trở, Ngài
chịu bao nhiêu gian khổ như vậy cốt lên đến núi Yên Tử
để học đạo, vì núi này được nổi danh là có nhiều Thiền
sư đắc đạo. Thế nên người tu muốn cho có công hạnh và
thấu hiểu đạo đức thường phải lên núi Yên Tử tìm thầy.
Lại nữa Ngài là vua, muốn yên tu cần phải trốn đi xa mới
tránh khỏi bị phát giác và mời trở về triều đình. Núi
Yên Tử cách xa thành Thăng Long mấy trăm cây số, một đoạn
đường khá dài chắc không ai tìm đến được. Nhưng không
ngờ vẫn có người tìm đến!
“Sáng
hôm sau Trẫm trèo thẳng lên đỉnh núi, tham kiến vị Đại
Sa-môn Quốc sư Trúc Lâm. Quốc sư vừa thấy Trẫm mừng rỡ,
ung dung bảo: “Lão tăng ở lâu nơi sơn dã, xương cứng mặt
gầy, ăn rau đắng cắn hạt dẻ, uống nước suối, dạo cảnh
rừng, lòng như mây nổi theo gió đến đây. Nay bệ hạ bỏ
ngôi nhân chủ, nghĩ đến nơi quê hèn rừng núi, chẳng hay
bệ hạ mong cầu điều gì mà đến đây?”
Sáng
hôm sau nhà vua lên đến đỉnh núi gặp vị Đại Sa-môn Quốc
sư Trúc Lâm. Sách khác để tên là Quốc sư Phù Vân, có lẽ
do Ngài nói rằng: “Lão tăng ở lâu nơi sơn dã, xương cứng
mặt gầy, ăn rau đắng cắn hạt dẻ, uống nước suối, dạo
cảnh rừng lòng như mây nổi...” Mây nổi tức là phù vân,
vì vậy sau gọi hiệu Quốc sư là Phù Vân. Người tu ở núi
rừng thì xương cứng mặt gầy, ăn rau đắng cắn hạt dẻ,
mà lòng thênh thang không dính mắc như mây nổi. Đây là diễn
tả tinh thần của Quốc sư Trúc Lâm, lòng thênh thang không
có gì trói buộc được. Nhìn lại chúng ta ngày nay, ăn chén
bột chiều mà đã thở than, ở cảnh núi rừng mà lòng còn
dính mắc, thật không xứng đáng chút nào!
Quốc
sư lại nói tiếp: “Nay bệ hạ bỏ ngôi nhân chủ, nghĩ đến
nơi quê hèn rừng núi, chẳng hay bệ hạ mong cầu điều gì
mà đến đây?”
“Trẫm
nghe nói, hai hàng nước mắt tự tràn, đáp lại Sư rằng:
‘Trẫm còn thơ ấu vội mất hai thân, bơ vơ đứng trên sĩ
dân không chỗ nương tựa. Lại nghĩ sự nghiệp các bậc đế
vương đời trước, thịnh suy không thường, cho nên Trẫm
đến núi này chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác.”
Vua
Thái Tông quyết chí đến đây chỉ cầu thành Phật, chớù
không cầu gì khác giống như Lục Tổ thuở trước. Tại sao
khi Quốc sư hỏi, nhà vua lại khóc, hai hàng nước mắt tự
tràn, chắc Ngài có tâm sự uẩn khúc chi đây?
Trong
sử ở đoạn trước, chúng ta được biết ông Trần Thủ
Độ ép vua Thái Tông phải phế bỏ Hoàng hậu Chiêu Thánh,
giáng làm Công chúa, lại ép lấy người chị của Công chúa
đang là vợ của Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông), đem
về làm Hoàng hậu. Đối với người hạnh tốt biết đạo
mà phải làm việc không hợp đạo lý này, nhà vua rất là
đau đớn, không thể nào ngồi yên được. Nhưng ở đây với
Quốc sư Ngài chỉ nêu lý do là vì mất mẹ mất cha, không
nơi nương tựa và nghĩ mình không xứng đáng để cho muôn
dân trông đợi, còn lý do thầm kín Ngài nói ra không được,
nên khi mở miệng là tràn nước mắt, đau đớn nát lòng.
Đọc tới đây chúng ta mới thấm nỗi đau của Ngài, làm
vua mà bị ép buộc, không cãi lại được nên chỉ còn
chuyện đi tu là tròn hơn hết, khỏi bị tiếng xấu, cũng
khỏi bị nỗi khổ tâm ray rứt. Thế nên Ngài quyết chí đi
tu để đền ơn cha mẹ, xong bổn phận mình không bị ai phê
bình chê trách.
Khi
nghe nhà vua thưa như vậy, Quốc sư bảo: “Trong núi vốn không
có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là
chân Phật. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành
Phật, không nhọc tìm cầu bên ngoài.”
Đây
là câu chỉ thẳng không giấu giếm chút nào. Nhà vua lên núi
để cầu làm Phật, mà Phật ở đâu? Phật không phải ở
trong núi mà ở ngay nơi tâm. Tâm lặng lẽ mà hằng biết đó
là chân Phật, Phật thật. Nhận được tâm này tức khắc
thành Phật, nghĩa là ngay đó biết mình có Phật, chớ không
phải liền thành Phật với đủ thần thông diệu dụng. Không
nhọc tìm cầu bên ngoài là chỉ thẳng Phật nơi Ngài rồi.
Qua
câu chuyện đối đáp giữa vua Trần Thái Tông và Quốc sư,
chúng ta thấy nỗi đau đớn của một ông vua phải bỏ ngai
vàng lên núi xin tu và lời của vị Quốc sư ngộ đạo, Ngài
không nói quanh co mà chỉ thẳng chỗ tột cùng cho người cầu
đạo.
Nhà
vua tưởng được an ổn tu hành, không ngờ lại gặp khó khăn.
“Bấy
giờ ông chú Trần Công, người em họ mà tiên quân gởi gắm
đứa con côi, sau khi tiên quân bỏ thế gian và quần thần,
Trẫm phong làm Thái sư tham dự quốc chính. Nghe tin Trẫm trốn
đi, ông liền sai tả hữu đi mọi nơi dò tìm tung tích, rồi
cùng người trong nước lên đến núi này. Gặp Trẫm, ông
thống thiết nói:
“Thần
nhận sự ủy thác của tiên quân, tôn bệ hạ làm chúa thần
dân. Lòng dân trông đợi ở bệ hạ như con nhỏ mong đợi
cha mẹ. Huống nữa, ngày nay các cố lão trong triều đều
là bề tôi thân thuộc, dân chúng sĩ thứ ai cũng vui vẻ phục
tùng. Cho đến đứa bé lên bảy cũng biết bệ hạ là cha
mẹ dân. Vả Thái Tổ bỏ thần mà đi, nấm đất trên mồ
chưa khô, lời dặn dò còn vẳng bên tai. Mà nay bệ hạ trốn
lánh vào núi rừng, ẩn cư để mong thỏa mãn chí mình. Như
thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu thì có thể được, còn
quốc gia xã tắc thì sao? Chỉ để lời dạy suông cho đời
sau, chi bằng đem thân mình làm gương trước cho thiên hạ.
Bệ hạ nếu không nghĩ lại, chúng thần cùng người trong
thiên hạ đồng chết ngay hôm nay, quyết chí không trở về.
”
Vua
Trần Thái Tông bị đặt trong thế bất khả kháng. Giả sử
vua có quyết chí tu mà quần thần cùng các bô lão kéo lên
núi đòi chết ngay tại đó nếu nhà vua không chịu trở về
kinh, thử hỏi làm sao Ngài yên tu cho được? Thật là điều
kiện hết sức khó khăn.
Ông
Trần Thủ Độ lên đến núi gặp được nhà vua nói thật
thống thiết. Ông nhận sự ủy thác của tiên quân tức là
của ngài Trần Thừa, tôn ngài Trần Cảnh lên làm chúa thần
dân khi mới tám tuổi. Đến bây giờ nhà vua hai mươi tuổi
được dân chúng tin tưởng trông đợi coi như cha mẹ. Lại
nữa ngày nay các cố lão trong triều đều là bầy tôi thân
thuộc, tức là chỉ những vị quan lớn tuổi trong triều ủng
hộ nhà vua đều là dòng họ nhà Trần, còn tất cả người
dân đều trông đợi phục tùng.
“Vả
lại Thái Tổ bỏ thần mà đi, nấm đất trên mồ chưa khô,
lời dặn dò còn vẳng bên tai. Mà nay bệ hạ trốn lánh vào
núi rừng, ẩn cư để mong thỏa mãn chí mình.”
Lời
ông Trần Thủ Độ rất tha thiết. Người anh là ngài Trần
Thừa vừa mất, đất mồ chưa khô. Nhà vua mất mẹ lúc mười
sáu tuổi, mất cha khoảng mười tám tuổi, đến năm nay hai
mươi tuổi lại tính chuyện đi tu, nên nói đất trên mồ
cha chưa khô.
Ông
lại nói tiếp: “Như thần nghĩ, bệ hạ tính kế tự tu thì
có thể được, còn quốc gia xã tắc thì sao?” Riêng nhà
vua đi tu thì có thể được, nhưng trách nhiệm làm vua thì
sao? Quốc gia xã tắc giao cho ai? Đây là một câu hỏi làm
nhà vua rối trí.
Kế
ông lại trách: “Chỉ để lời dạy suông cho đời sau, chi
bằng đem thân mình làm gương trước cho thiên hạ.” Nếu
nhà vua đi tu, rồi đem những lời dạy của Phật và chư Tổ
ra nhắc nhở, thì ông Trần Thủ Độ cho đó là những lời
dạy suông, không thực tế. Chi bằng làm vua, lấy thân mình,
lấy tài đức mình làm gương để dạy dân, hướng dẫn dân,
đó mới là cụ thể, mới là thực tế hơn. Nghe đến đây
nhà vua rủn chí, thật là khó xử.
Ông
lại nói thêm một câu cuối, khiến nhà vua phải chịu thua:
“Nếu bệ hạ không chịu về, chúng thần cùng người trong
thiên hạ đồng chết ngay hôm nay, quyết chí không trở về.”
Câu nói quyết liệt này làm nhà vua không còn cách gì thối
thác được.
Đến
đây vua Trần Thái Tông mới kể:
“Trẫm
thấy Thái sư cùng các cố lão quần thần không có ý bỏ
Trẫm, liền đem lời này tỏ bày với Quốc sư. Quốc sư cầm
tay Trẫm bảo:
“Phàm
làm đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm
ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm tâm của mình.
Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không về
sao được. Song phần nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng
xao lãng. ”
Lời
dạy của Quốc sư rất là thấu đáo. Phàm làm vua phải lấy
ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, nhà vua làm việc
gì không vì quyền lợi riêng tư mà phải hợp với sự mong
mỏi của người dân. Lấy tâm thiên hạ làm tâm của mình,
lòng dân trông đợi điều gì, nhà vua phải làm sao cho dân
được thỏa mãn, như vậy mới thật là một đấng minh quân,
một vị vua chân chánh.
“Nay
thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ không về sao
được.” Ý muốn của dân là đón nhà vua trở về, thì thôi
vua phải trở về. “Song phần nghiên cứu nội điển, mong
bệ hạ đừng xao lãng.” Quốc sư lại dặn dò, tuy về làm
vua nhưng Ngài nhớ đừng quên phần nghiên cứu kinh điển
tu hành.
“Vì
thế, Trẫm cùng mọi người trở về kinh, miễn cưỡng lên
ngôi. Khoảng hơn mười năm, những khi được rảnh rỗi, Trẫm
tập họp các vị kỳ đức để tham cứu Thiền, hỏi đạo
và các kinh Đại thừa... đều nghiên cứu qua. Trẫm thường
đọc kinh Kim Cang đến câu ‘ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’,
trong khoảng để quyển kinh xuống ngâm nga, bỗng nhiên tự
ngộ. Liền đem sở ngộ này viết thành bài ca, để tên là
‘Thiền Tông Chỉ Nam.”
Khi
trở về kinh, Ngài lên ngôi vua một cách miễn cưỡng, không
có chút gì thích thú. Trong khoảng hơn mười năm, từ hai mươi
tuổi đến lúc ba mươi mấy tuổi, những khi rảnh rỗi Ngài
mời các Thiền sư đầy đủ đức hạnh đến để hỏi đạo
và tham cứu về Thiền, Ngài học và nghiên cứu qua các kinh
điển Đại thừa. Khi đọc kinh Kim Cang đến câu “ưng vô
sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Ngài để quyển kinh xuống, ngâm
nga câu ấy tức là lập đi lập lại đôi ba lần, bỗng nhiên
Ngài ngộ. Tại sao Ngài lập đi lập lại đôi ba lần? Vì
Ngài đã đọc kinh Pháp Bảo Đàn, biết Lục Tổ ngộ nơi
câu này, nên khi đọc đến đây Ngài chú tâm, để quyển
kinh xuống và nhẩm đi nhẩm lại câu ấy, bỗng dưng Ngài
ngộ. Chỗ ngộ của Ngài và chỗ ngộ của Lục Tổ giống
nhau hay khác nhau?
Nói
về Lục Tổ, có hai lần ngộ. Lần ngộ thứ nhất: Khi gánh
củi đem ra chợ bán, Lục Tổ đi ngang một căn nhà nghe có
người tụng kinh Kim Cang, đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm”, bỗng dưng Ngài ngộ. Ngài mới hỏi người tụng:
Kinh đó tên gì, phát xuất từ đâu? Được biết đó là kinh
Kim Cang, do Ngũ tổ Huỳnh Mai dạy thọ trì. Câu kinh Ngài ngộ,
nói cho đủ là: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ
thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ
tâm.” Lục Tổ phát tâm đi tu, gởi mẹ già ở lại rồi
thẳng đến Huỳnh Mai tìm Ngũ Tổ. Gặp được Ngũ Tổ rồi
Ngài ở công quả trong nhà trù cho đến tám tháng...
Lần
ngộ thứ hai: Một đêm Ngũ Tổ bảo Lục Tổ lên thất và
giảng kinh Kim Cang cho Ngài nghe. Đến câu: bất ưng trụ sắc
sanh tâm... ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, Lục Tổ liền
đại ngộ, mới nói lớn lên rằng:
Đâu
ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh,
Đâu
ngờ tánh mình vốn không sanh diệt,
Đâu
ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ,
Đâu
ngờ tánh mình vốn không dao động,
Đâu
ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp.
Ngang
đó Ngũ Tổ truyền y bát cho Ngài làm vị Tổ đời thứ sáu.
Như
vậy Lục Tổ ngộ lần đầu Ngài phát tâm đi tu, ngộ lần
sau Ngài được truyền y truyền y bát. Tuy cùng một câu kinh
mà lần ngộ trước khác lần ngộ sau, lần trước gọi là
giải ngộ hay tiểu ngộ, lần sau gọi là chứng ngộ hay triệt
ngộ hay đại ngộ. Khi mới đi tu Lục Tổ đến với Ngũ Tổ,
Tổ hỏi: Ông là người miền Nam quê mùa, đến đây cầu
vật gì? Ngài đáp: Cầu thành Phật. Tổ hỏi: Người dân
quê mùa như ông làm sao thành Phật được? Ngài đáp: Người
tuy có nam bắc, nhưng Phật tánh không có nam bắc. Đây là
Lục Tổ đã giải ngộ rồi, thấy rõ mình có Phật nên mới
đối đáp được. Ngũ Tổ biết người này có khả năng nên
mới bảo xuống nhà trù đi. Sau đó Lục Tổ có làm bài kệ:
“…Bản lai vô nhất vật…” v.v...
Giải
ngộ là có khả năng biết được mình có Phật, biết được
lý đạo rất thâm sâu, song phiền não chưa hết. Như ở Thiền
viện đây thỉnh thoảng cũng có một ít người giải ngộ
nhưng phiền não vẫn còn, chưa được triệt ngộ như lần
thứ hai của Lục Tổ, tuy có khả năng thấy biết đúng như
thật, nhưng hành chưa đúng, vì còn phiền não! Mới giải
ngộ mà tưởng triệt ngộ là lầm. Trường hợp vua Thái Tông
khi ngâm nga câu kinh, bỗng nhiên tự ngộ, đây là tương đương
với chỗ ngộ ban đầu của Lục Tổ. Nhà vua ngộ rồi biết
mình có Phật, tin điều đó rõ ràng nên Ngài viết quyển
Thiền Tông Chỉ Nam, để nói lên sự thấy biết của Ngài.
Chúng ta phải hiểu chỗ ngộ này mới thấu được ý sâu
xa của người tu Thiền, nếu không, nghe nói ngộ là quá hay
rồi, mà sao lâu lâu cũng còn dở. Trong nhà Thiền thường
nói tiểu ngộ thì nhiều vô số, lâu lâu ngộ một ít, còn
đại ngộ thì đôi ba phen. Tiểu ngộ là sáng lên những vấn
đề nhỏ, còn sáng lên việc lớn gọi là đại ngộ.
Nhìn
rộng ra, trong kinh Kim Cang ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: Người
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm sao hàng phục
được tâm, làm sao an trụ được tâm? Phật dạy: Bất ưng
trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh
tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Tức là muốn hàng phục
tâm mình để thành tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác,
thì không nên trụ nơi sắc, không nên trụ nơi thanh hương
vị xúc pháp (nghĩa là không nên trụ nơi sáu trần). Vậy
phải làm sao? Nên không chỗ trụ mà sanh tâm Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, tức là không nên dính mắc sáu trần mà
phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thâm nhập được
lý này nên vua Trần Thái Tông mới soạn thành bài Sáu Thời
Sám Hối, đó là sám hối sáu căn. Thế nên trọng tâm của
sự tu là đừng dính mắc sáu trần thì tâm an trụ, tâm an
trụ tức là tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Hiện
nay Tăng Ni hay Phật tử thử trọn một ngày đừng dính sáu
trần thì tâm có an không? Không dính sáu trần thì tâm tự
an rồi! Nếu còn chạy theo trần này dính mắc trần kia, như
khỉ vượn buông nhánh này chụp nhánh khác thì tâm đâu có
an. An trụ là không dính sáu trần, thì sáu trần đâu có quyền
gì xâm phạm đến mình! Mình là mình nó là nó, mình ở đây,
nó ở ngoài kia. Như sắc ở ngoài con mắt, mình ngó lơ thì
không dính mắc, như tiếng người nói, mình nghe rồi buông
đừng bám vào, thì sắc thanh đâu có xâm phạm đến chúng
ta được. Chỉ vì mắt dính với sắc trần, tai dính với
thanh trần... nên chúng ta bị sáu trần lôi kéo đắm chìm
trong sanh tử đời đời kiếp kiếp. Ngay bây giờ đừng dính
sáu trần thì tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức
tâm Phật hiện ra. Trái lại nếu còn dính mắc thì tâm chúng
sanh hiện ra. Dính mắc là chúng sanh, không dính mắc là Phật,
Phật với chúng sanh gần kề nhau. Như vậy chúng ta thấy việc
tu hết sức là đơn giản, không phải gian lao cực khổ gì.
Chỗ
dạy tu của Lục Tổ khi trước và của vua Trần Thái Tông
gần đây rất gần với nhau. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, trọng
tâm Lục Tổ dạy tu là phải ứng dụng ba cái Vô: một là
Vô niệm vi tông, hai là Vô tướng vi thể, ba là Vô trụ vi
bản.
Vô
niệm vi tông, tức là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi
mùi v.v... mà không khởi niệm chạy theo, chớ không phải ngồi
một chỗ đè nó xuống thành vô niệm. Đối với sáu trần
không có niệm chạy theo, pháp tu này rất gần với chỗ sáu
căn không dính mắc sáu trần, vì khởi niệm mới dính mắc
phải không? Thế nên Tổ dạy vô niệm là chủ của sự tu.
Vô
tướng vi thể là gì? Thể của muôn sự muôn vật là không
có tướng. Thấy triệt theo tinh thần Bát-nhã thì các pháp
tánh không, duyên hợp huyễn có. Sự vật có hình tướng là
từ nhân duyên kết hợp, nên không có tự thể. Nói các pháp
tánh không tức là không có tướng thật. Vậy muốn không
dấy niệm chạy theo sáu trần, thì phải thấy sáu trần chỉ
là giả tướng, là tướng không. Biết được tướng không
là thấy được thể của các pháp.
Vô
trụ vi bản (Trụ là dính mắc). Không dính mắc sáu trần
là gốc của sự tu. Nếu khéo tu từng ngày từng giờ đừng
dính mắc sáu trần, thì tâm mình hoàn toàn thanh tịnh an ổn,
Phật bảo đó là trụ tâm, đó là tâm Bồ-đề.
Như
vậy chỗ nhìn của Lục Tổ khi trước, và của ngài Trần
Thái Tông sau này tuy cách mấy trăm năm mà đã có chỗ gần
nhau. Cho nên người tu khi ngộ rồi dù là trăm ngàn vị, nhưng
lời nói đều không sai biệt.
Đọc
đoạn này chúng ta thấy ngài Trần Thái Tông tuy là vua mà
đã giải ngộ được lý đạo, NGÀI ĐEM CHỗ Sở NGộ VIếT
THÀNH BÀI CA “THIềN TÔNG CHỉ NAM” Để CHỉ DạY NGƯờI
SAU. ĐIềU này làm cho lòng tin chúng ta càng thêm vững mạnh.
Nhưng rất tiếc là toàn quyển đã thất lạc, chỉ còn sót
lại bài tựa.
“Năm
này, Quốc sư từ núi Yên Tử về kinh, Trẫm mời ở chùa
Thắng Nghiêm, trông coi việc ấn bản các kinh. Trẫm đem tập
sách này trình Sư, Sư xem qua liền tán thán rằng:
‘Tâm
chư Phật ở trọn nơi đây, sao không nhân khắc in các kinh,
khắc in luôn để dạy kẻ hậu học.’
Trẫm
nghe lời này, sai thợ viết chữ chân phương, ra lệnh khắc
bản in. Chẳng những để chỉ đường mê cho hậu thế, mà
còn muốn tiếp nối công lớn các bậc Thánh nhân đời trước.
Vì thế tự làm lời tựa này.”
Nhà
vua trình quyển Thiền Tông Chỉ Nam cho Quốc sư xem, xem xong
Quốc sư tán thán nói: “Tâm chư Phật ở trọn nơi đây.”
Tức là những lời diễn tả đó là đúng tâm chư Phật. “Sao
không khắc in để chỉ dạy cho người sau?” Do nghe lời này
nhà vua cho khắc bản in. Nhưng rất tiếc quyển sách đã mất,
chúng ta chỉ biết được lời tựa. Qua lời tựa chúng ta
thấy rõ vua Trần Thái Tông đã giải ngộ về Thiền và Giáo
năm Ngài được hơn ba mươi tuổi. Từ chỗ ngộ đó Ngài
soạn viết rất nhiều sách để người sau học hiểu. Học
Ngài chúng ta hiểu được tâm tư nguyện vọng tha thiết chỉ
dạy người sau của Ngài.