TRẦN
THÁI TÔNG
Ông
Vua Thiền Sư
(1218
- 1277)
Trần
Thái Tông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa, sanh năm
Mậu Dần niên hiệu Kiến Gia thứ tám (1218) triều Lý. Gia
thế ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay là xã Tức
Mặc huyện Mỹ Lộc tỉnh Hà Nam Ninh); ông cha làm nghề đánh
cá. Nhờ có công dẹp loạn, họ Trần dần dần có thế lực
từ đời Lý Cao Tông. Trần Cảnh mới có tám tuổi được
Lý Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, lấy hiệu
là Thái Tông.
Năm
Thái Tông lên hai mươi tuổi, Lý Chiêu Hoàng mười chín tuổi
đang là Hoàng hậu, bị Trần Thủ Độ ép Thái Tông giáng
Chiêu Hoàng làm Công chúa, lấy chị bà là Thuận Thiên, vợ
Trần Liễu (anh ruột Thái Tông) làm Hoàng hậu. Lý do, vì Thủ
Độ nôn nóng Thái Tông có con để kế thừa, mà Chiêu Hoàng
chậm con, chị bà đang mang thai. Trần Liễu phẫn uất nổi
loạn tháng giêng năm Bính Thân (1236).
Do
nhiều nỗi khổ và lòng ray rứt bất an, lúc mười giờ đêm
ngày mồng ba tháng tư năm 1236, vua Thái Tông bỏ ngai vàng,
trốn lên núi Yên Tử đi tu. Vua đem theo một số tùy tùng,
nói đi để nghe dư luận dân gian, biết rõ sự thật cho dễ
bề trị nước. Sang sông, đoàn người đi về phía đông.
Bấy giờ vua mới nói rõ ý định đi tu với các người tùy
tùng và bảo họ trở về. Mọi người đều ngạc nhiên và
khóc lóc. Vào khoảng sáu giờ sáng hôm sau vua đến bến đò
Đại Than ở núi Phả Lại. Trời sáng, sợ người nhận ra,
vua lấy vạt áo che mặt mà qua đò, rồi theo đường tắt
lên núi. Đến tối, vua vào nghỉ trong chùa Giác Hạnh, đợi
sáng lại đi. Khó khăn trèo núi hiểm, lội suối sâu, con ngựa
đã yếu không thể lên núi được nữa, vua phải bỏ ngựa
vịn vào các tảng đá mà đi. Khoảng hai giờ trưa mới đến
chân núi Yên Tử. Sáng hôm sau, vua lên thẳng đỉnh núi và
vào tham kiến Thiền sư Trúc Lâm (có lẽ Thiền sư Đạo Viên).
“Thấy
Trẫm, Quốc sư mừng rỡ. Người ung dung bảo Trẫm: Lão tăng
ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng mặt gầy, ăn rau răm,
nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen,
lòng nhẹ như đám mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến
đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ đến cảnh
quê mùa rừng núi, hẳn là muốn tìm cầu gì ở đây cho nên
mới đến, phải không? Trẫm nghe lời thầy hỏi, hai hàng
nước mắt ứa ra, liền thưa với thầy rằng: Trẫm còn thơ
ấu, đã sớm mất mẹ cha, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không
có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế
vương đời trước hưng phế bất thường, cho nên mới vào
đây, chỉ muốn cầu thành Phật, chớ chẳng muốn tìm gì
khác. Thầy đáp: Trong núi vốn không có Phật, Phật ở trong
tâm ta. Nếu tâm lắng lặng trí tuệ xuất hiện, đó chính
là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc
thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên
ngoài.”
(Bài
tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam)
Hôm
sau, Trần Thủ Độ đem các quan lên núi Yên Tử đón vua về
kinh. Bài tựa Thiền Tông Chỉ Nam, Thái Tông viết: “Thấy
Trẫm, Trần Công thống thiết nói: Tôi chịu lời ủy thác
của Tiên quân, phụng sự nhà vua trong việc làm chủ thần
dân. Nhân dân đang mong đợi bệ hạ như con đỏ trông đợi
cha mẹ. Huống chi ngày nay các vị cố lão trong triều đều
là họ hàng thân thích, sĩ thứ trong nước ai nấy đều vui
vẻ phục tùng, đến đứa trẻ lên bảy cũng biết nhà vua
là cha mẹ dân. Vả lại Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi,
hòn đất trên nắm mồ chưa ráo, lời dặn dò bên tai còn
văng vẳng, thế mà bệ hạ đã lánh vào chốn núi rừng ẩn
cư để cầu thỏa lấy ý chí riêng của mình. Tôi dám nói
rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì
được, nhưng còn quốc gia xã tắc thì sao? Nếu để lời
khen suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm
người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghĩ lại,
quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết cả
trong ngày hôm nay, quyết không trở về.
Trẫm
nghe Thái sư và các quần thần bô lão đều không chịu bỏ
Trẫm, cho nên mới đem lời Thái Sư mà bạch lại với Quốc
sư, Quốc sư cầm tay Trẫm mà nói: Phàm làm đấng nhân quân,
thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình,
và tâm thiên hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đón
bệ hạ về, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên sự nghiên
cứu nội điển xin bệ hạ đừng phút nào quên.
Bởi
vậy Trẫm với mọi người trong triều mới trở về kinh,
miễn cưỡng mà lên lại ngôi báu. Ròng rã trong mười năm
trời, mỗi khi có cơ hội việc nước nhàn rỗi, Trẫm lại
tụ họp các bậc kỳ đức để học hỏi đạo thiền. Các
kinh điển của các hệ thống giáo lý chánh, không kinh nào
là Trẫm không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cang,
một hôm đọc đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”,
buông kinh xuống chiêm nghiệm, bỗng hoát nhiên tự ngộ...”
Thái
Tông là ông vua chăm học, trong bài tựa Kinh Kim Cang Tam-muội
ông viết: “Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường
lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều. Công việc thì
có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được bao
lăm. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, Trẫm cố học hành
thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm, cho nên ban đêm
đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách; học sách
Nho rồi còn học kinh Phật.” Thái Tông quả là ông vua cần
mẫn hiếu học, không buông mình theo dục lạc.
Chẳng
những thế, Thái Tông lại là ông vua anh hùng. Năm 1257 giặc
Mông Cổ xâm lăng đất nước. Thái Tông đích thân tham gia
chỉ huy nhiều trận, có mặt ở cả mọi nơi nguy hiểm, khiến
quân sĩ đều nức lòng chiến đấu. Kết quả quân ta đã
đánh tan quân xâm lược, giặc Mông Cổ tháo thân chạy về
Vân Nam vào đầu năm 1258. Đây là ông vua vừa đạo đức
vừa anh hùng, làm sáng rỡ những trang sử oai hùng của dân
tộc Việt Nam.
Sau
cuộc chiến, đất nước thái bình, Trần Thái Tông nhường
ngôi cho con năm 1258 lên làm Thái thượng hoàng. Từ đây Thái
Tông vừa làm cố vấn cho con, vừa lo nghiên cứu tu Thiền.
Đến lúc vua Trần Thánh Tông đủ sức đảm đang việc nước,
ông lui về lập am Thái Vi ở vùng rừng núi Vĩ Lâm cố đô
Hoa Lư để an dân lập ấp và tu hành.
Thái
Tông bệnh, nhân nuôi bệnh cha, Thánh Tông thưa: “Chân không
và ngoan không là đồng hay khác?” Thái Tông bảo: “Hư không
là một, chỉ vì tâm mình mê ngộ nên có chân và ngoan. Thí
như phòng nhà mở cửa thì sáng, đóng cửa thì tối, sáng
tối chẳng đồng mà phòng nhà là một.”
Hôm
sau, Quốc sư Đại Đăng vào thăm thưa: “Bệ hạ bệnh chăng?”
Thái Tông nói: “Tứ đại là bệnh, cái này xưa nay sanh tử
không can hệ, mà dính kẹt trong bệnh hoạn sao?”
Khoảng
mấy hôm sau, Thái Tông lặng thinh không nói, đuổi hết kẻ
hầu hạ, đem việc nước dặn dò Thánh Tông. Thánh Tông muốn
nhờ hai Quốc sư Phù Vân (Đạo Viên), Đại Đăng nói pháp
xuất thế cho Thái Tông nghe. Thái Tông gằn giọng bảo: “Đến
trong đây, bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thương,
thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật
bốn mắt nhìn nhau, sáu đời Tổ sư thối thân có phần. Dù
Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết diệu đều là lời
thừa, có ích gì đối với cái này?”
Nói
xong, Ngài lặng lẽ thị tịch, nhằm năm Đinh Sửu niên hiệu
Bảo Phù thứ năm, thọ sáu mươi tuổi.
Ngài
còn lưu lại những tác phẩm:
1.
Thiền Tông Chỉ Nam
2.
Kim Cang Tam-muội Kinh chú giải
3.
Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi
4.
Bình Đẳng Lễ Sám Văn
5.
Khóa Hư Lục
6.
Thi Tập.