Chương
5
Duyên
khởi Siêu Việt
Bước
I:
Lý duyên khởi là trọng tâm của Phật pháp, chỉ cho ta thấy
các nhân quả ở nội tâm và ngoại vật. Có hai lý thuyết
tách biệt, rõ ràng về duyên khởi. Một thuyết được
nhiều người biết đến gọi là lý duyên khởi tục đế
(lokiya paticca samuppàda). Thuyết nầy chú giảng về bánh
xe luân hồi sinh tử (samsàra), khởi đầu bằng vô minh, qua
vòng luân chuyển của ba giai đoạn trong cuộc sống: quá khứ,
hiện tại và tương lai—từ vô minh đến tái sinh và tử.
Trong vòng luân chuyển đó, chỉ có một cánh cửa để thoát
ra, đó là khoảng giữa của thọ và ái. Tất cả các
giai đoạn khác của lý duyên khởi đều là nhân quả tự
nhiên. Ta phải biết chấp nhận các lạc thọ và khổ
thọ, chứ không phải muốn bám víu, chạy đuổi theo thứ
nầy mà ghét bỏ thứ kia, nếu không ta khó mong tìm được
cánh cửa giải thoát kia—ta sẽ tiếp tục đi trong vòng sinh
tử luân hồi (samsàra) không dừng dứt. Sự tu hành giúp
ta đạt được xả thọ là đỉnh cao nhất của mọi cảm
thọ, để ta không còn phải lệ thuộc vào các cảm xúc của
mình. Khi nào ta còn lệ thuộc vào các cảm thọ, ta còn
chưa thực sự được tự do. Phật pháp hướng ta đến
tự do giải thoát, bao gồm cả sự độc lập. Trong quá
trình tư duy ta khởi tạo nghiệp, vì thế ta phải quán sát
các tư tưởng, không thể để mặc chúng.
Hành Thiền là để làm chủ được tâm, để nó không còn
dở trò với ta. Khi ta còn chưa có khả năng điều phục
tâm hành, thì nghiệp của ta còn bao gồm cả thiện và ác.
Vì tham muốn (ái) không ngừng len lỏi vào tâm, ta luôn bị
đau khổ (dukkha), là điều mà Đức Phật thuyết là diệu
đế thứ nhất và thứ hai, đó là, “Khổ (dukkha) hiện hữu”,
và “Nguyên nhân duy nhấtø của Khổ là –ái”. Khổ
khiến cuộc sống của ta không trọn vẹn, khiến ta phải tìm
kiếm một thực tại tốt đẹp, siêu việt hơn.
Do đó Đức Phật đã chỉ cho ta thấy những mắt xích nhân
quả của lý duyên khởi siêu việt (lokuttara paticca samuppàda),
không luân chuyển theo một vòng tròn. Trái lại, nó đi
theo một đường thẳng từ hiện tại đến giải thoát.
Lý duyên khởi trình bày theo hình một vòng tròn cho ta thấy
rõ hơn việc ta bị vướng vào trong chiếc lưới của nghiệp
quả.
Đức Phật thuyết giảng về lý duyên khởi siêu việt như
là mười hai bước kế tiếp nhau từ kiếp sống hiện tại
đến Niết bàn (nibbàna). Tất cả giáo lý của Đức
Phật cũng như mục đích duy nhất của việc tu thiền, là
để nâng tâm thế tục của ta lên trạng thái tâm Niết bàn.
Niết bàn là trạng thái tâm ai cũng có thể đạt
đến (nếu không ta đâu cần phải thực hành), nhưng nó bị
che phủ bởi ái dục. Theo truyền thống, những ngọn
nến ta đặt trên bàn thờ, chính là biểu tượng của tâm
giác ngộ.
Nếu chúng sanh không sẵn có khả năng thành đạo, thì bốn
mươi lăm năm thuyết pháp của Đức Phật thật là uổng phí.
Sau khi giác ngộ dưới gốc cây bồ đề, Đức Phật đã chứng
nghiệm được trạng thái hoan hỷ của tâm Niết bàn.
Sau một tháng, Ngài dự định loan báo tin nầy đến mọi người,
nhưng Ngài chợt nhận ra chúng sanh không dễ dàng hiểu được
chân lý thậm sâu nầy, và điều đó sẽ làm Đức Phật buồn
lòng. Kinh sách chép rằng, sau đó một vị đại Phạm
thiên ở cõi trời tên là Sahampati, đã đến cầu xin Đức
Phật hãy giảng pháp vì lợi ích của chư thiên và chúng sanh.
Đức Phật đã dùng thiên nhãn của mình để quán sát.
Thế tôn nhận thấy rằng cũng có những người ít bị uế
nhiễm, vì thế Ngài quyết định thuyết pháp.
Lúc nào và bao giờ cũng có những người có thể nương theo
lời dạy của Đức Phật để đạt đến được Niết bàn.
Chúng ta ngày nay cũng có những vấn đề, những khả năng,
và sự tín tâm như bao chúng sanh từ bao đời. Tất cả
những gì chúng ta đã hành theo giáo lý Đức Phật, đều có
mục đích tối hậu là để đạt đến Niết bàn. Ta
phải tâm tâm niệm niệm rằng ta cần phải tháo dở màn vô
minh che đậy tâm giác ngộ. Duyên khởi siêu việt bắt
đầu lúc duyên khởi tục đế chấm dứt, nói rõ ra tức là
khổ chấm dứt.
Khổ không chỉ là các tai họa, sự đau đớn, hay những điều
bất như ý. Nó bao gồm tất cả và còn nhiều hơn thế
nữa. Đó là lý do tại sao từ ngữ Pali nầy rất khó
dịch cho đúng; nó hàm chứa quá nhiều ý nghĩa. Nghĩa
chánh yếu của dukkha là sự thiếu khả năng để tìm được
sự thỏa mãn tuyệt đối ở bất cứ nơi nào trên thế gian.
Chỉ khi nào ta có thể hiểu được như thế, ta mới không
còn khổ đau.
Khi nào ta còn tìm kiếm sự toại nguyện, thỏa mãn ở thế
gian nầy –từ sự tử tế hay biết ơn của người khác,
từ những hoàn cảnh thuận lợi, từ tri thức, từ các nghiệp
thiện của mình- ta sẽ còn phải thất vọng, vì lẽ đơn
giản là chúng đều vô thường. Anicca (vô thường),
dukkha (khổ) và anattà (vô ngã) là ba đặc tính của tất
cả vạn pháp. Chừng nào ta còn có ý nghĩ rằng có thể
tìm được điều gì đó trên thế gian nầy khiến ta được
hoàn toàn hạnh phúc, mãi mãi trường tồn, thì ta còn khổ
đau mãi. Vì không tìm được, nên ta phải khổ đau.
Chúng ta tìm nơi nầy, kiếm nơi kia, bỏ nơi nầy, đến chốn
khác, thay người thương, đổi món ăn, thay tôn giáo, đổi
cách hành thiền, cách thực tập, và rồi điều gì sẽ xảy
ra? Không có gì cả ngoài những nỗi thất vọng.
Trong từ ngữ Pali, việc tìm kiếm nầy được gọi là papanca,
có nghĩa là sự biến hóa. Chính thiên nhiên cũng chứa
đựng muôn hình vạn vẻ. Thử nghĩ xem có bao nhiêu loại
cây, giống chim, hoa, sinh trùng, bao nhiêu màu sắc, bao khác
biệt ở con người ở khắp mọi nơi. Tất cả chúng
ta không ai giống ai, dù tất cả đều là con người.
Vạn vật luôn biến hóa. Nếu ta cứ chạy theo chúng,
là ta chạy đuổi theo những gì không phải là ta. Chỉ
bấy nhiêu đó cũng đủ khiến ta phải khổ. Sự tìm
kiếm đó chứng tỏ có cái gì đó trống vắng, thiếu hụt
trong nội tâm khiến ta phải tìm cách lấp đầy. Ta cần
nhận thức rõ được điều đó. Nếu không ta sẽ mãi
tìm kiếm ở bên ngoài qua các căn trần hầu lấp đầy trạng
thái trống rỗng, hụt hẫng trong nội tâm. Cách đó không
giúp ta thực hiện được mong muốn của mình; chỉ khi ta nhận
thức được rằng chính nội tâm ta mới cần phải được
làm tròn đầy, lúc đó ta mới bắt đầu tìm đến con đường
tâm linh.
Khi còn chưa nhận thức rõ được điều đó, khổ đau còn
khiến ta phản ứng theo thói quen. Trước hết là đổ
lỗi cho người khác. Đó là cách nhiều người thường
áp dụng, vì cách đó có vẻ là dễ nhất. Tuy nhiên,
làm thế không ích lợi gì, vì nếu một sự phiền não, khổ
đau nào đó chưa được thực sự giải quyết, thì nó lại
tiếp tục xảy ra. Cuộc sống tạm bợ của ta ở thế
gian nầy giống như nơi trường lớp, nếu ta không vượt
qua được kỳ thi, ta cứ phải học đi học lại lớp đó
mãi. Khổ đau mà ta chưa khuất phục được lại đối mặt
với ta như kỳ thi sát hạch phải trải qua.
Một phương cách khác mà ta thường dùng để đối phó với
khổ đau là trốn chạy. Không nhất thiết phải là một
cuộc trốn chạy thực sự, dầu hành động đó cũng không
hiếm. Mà chúng ta có thể dùng sách báo, TV, phim ảnh,
chuyện phiếm để nhận chìm mọi cảm giác.
Một phản ứng khá thông dụng khác nữa để đối phó với
khổ đau (dukkha) là tự thán, dầu rằng hành động đó hoàn
toàn vô ích, phản tác dụng vì nó khiến ta càng thêm đau
khổ. Vì hay tự than thân trách phận thì dễ dẫn đến
tuyệt vọng, trầm cảm. Đến nỗi có người thực sự
bám víu vào sự khổ đau của mình. Dầu có khuyên họ
cách thóat ra khỏi khổ đau, họ cũng từ chối, tại sao vậy?
Vì họ cảm thấy thực sự sống, cảm thấy như họ đang
làm chủ sự phiền não, khổ đau của mình, khiến họ cảm
thấy có một đời sống tình cảm phong phú, dầu là tiêu
cực.
Khổ là vị thầy tốt nhất của chúng ta. Dầu có
van xin, nó cũng không buông tha ta. Nếu ta nài nỉ một
vì thầy chúng sanh: “Tôi không được khỏe”, “Tôi đau
lưng”, “Sáng nay tôi không ngồi dậy được “, vị thầy
có thể trả lời: “Thật đáng tiếc, nhưng nếu bạn muốn
về nghỉ, cứ tự nhiên”. Nếu ta nói với khổ
những điều như thế, nó sẽ trả lời: “Được, nhưng bạn
đi đâu thì tôi theo đó”. Không có cách gì để thoát
khỏi khổ đau, trừ khi và cho đến khi ta chuyển đổi các
phản ứng của mình. Điều đó có nghĩa là ta phải đối
mặt với khổ đau, phải nhìn rõ được bản chất của nó
–bản chất tự nhiên của cuộc sống, và không có gì hơn
thế. Sở dĩ ta dễ bị lầm lạc vì trong cuộc sống
ta cũng có được những lúc vui sướng, các cảm giác khóai
lạc, nên ta nghĩ nếu ta có thể duy trì được hạnh phúc
nầy thì khổ đau sẽ không bao giờ đến nữa. Chúng
ta cố gắng mãi để thực hiện điều nầy, nhưng cuối cùng
rồi ta cũng nhận thấy rằng các dục lạc không thể kéo
dài mãi, vì chúng phải chịu sự chi phối của định luật
vô thường. Vậy mà tất cả các xã hội nhân loại đều
xây dựng trên khái niệm nầy –rằng hạnh phúc, khoái lạc
có thể được duy trì. Vì thế ta tiếp tục tìm kiếm,
khám phá những điều mới lạ, vì tất cả mọi người quanh
ta đều làm thế.
Chúng ta quên rằng các dục lạc phát sinh là do sự xúc chạm
của các giác quan, do đó vô thường; nếu không, chúng sẽ
trở thành những cảm giác khó chịu, khổ sở nhất dù đó
là nếm, xúc, thấy, nghe, ngữi hay nghĩ. Có vài cảm giác
có thể kéo dài hơn, nhưng tất cả đều phải chấm dứt
trước khi chúng trở thành một cực hình đối với ta.
Vậy mà ta lại dựa vào các xúc chạm để làm cho cuộc sống
của ta được hạnh phúc, sung sướng. Sau khi đã hoài
công cố gắng, có lẽ cuối cùng ta cũng nhận ra rằng, các
cảm thọ do xúc chạm mang đến không chỉ thoáng chốc, mà
còn không bao giờ vẹn toàn, ngay trong những giây phút dễ
chịu nhất, ta vẫn còn thấy thiếu cái gì đó. Chúng không
bao giờ mang đến cho ta sự thỏa mãn hoàn toàn, và đó là
khổ.
Sự tu tập, hành thiền có thể đến một lúc nào đó khiến
ta tin rằng mình có thể được toại nguyện trên con đường
tâm linh. Nhưng niềm tin nầy cũng có thể bị sai lạc
nếu ta không thể chấp nhận rằng ngay trong lãnh vực nầy
khổ cũng có mặt cho đến lúc ta có thể chuyển hoá tất
cả. Đức Phật thuyết rằng trên đường hành đạo
có bốn loại người. Loại người có nhiều phiền não,
khổ đau, cần nhiều thời gian hơn để đạt được kết
quả gì. Loại thứ hai cũng mang nhiều khổ, nhưng có
thể đạt được kết quả nhanh chóng hơn. Loại thứ
ba có nhiều thiện nghiệp (sukkha), nhưng cũng cần nhiều thời
gian để đạt được kết quả gì. Loại cuối cùng có
nhiều thiện nghiệp (sukkha), và có thể đạt được kết
quả nhanh chóng. Nếu chúng ta không thuộc vào loại cuối
cùng vừa kể, thì ta phải biết chịu đựng, chấp nhận những
hoàn cảnh bất như ý sẽ xảy đến cho chúng ta trong kiếp
sống nầy.
Niết bàn cao siêu hơn cuộc sống, còn khổ đau thuộc về
cuộc sống. Nếu ta có thể chấp nhận trọn vẹn điều
nầy, thì ta sẽ không còn khổ đau. Đó là khía cạnh
quan trọng nhất để hiểu được nghĩa của khổ đau.
Một khi tri kiến đó thấm nhuần cuộc sống của ta, ta mới
có thể bước lên phía trước để thừa hưởng nhiều thiện
nghiệp (sukkha) trên con đường đạo. Thân khổ là
điều không ai chối cãi được. Ngay chính Đức Phật
cũng thọ thân khổ. Thân khổ là điều phải chấp nhận,
nhưng tâm ta cũng phản ứng theo, nên khi thân đau đớn, tâm
cũng đau như thế. Những bậc giác ngộ dầu không thể
tránh thân bịnh, thân khổ nhưng tâm họ không khổ. Thân
ta quá mỏng manh, quá dễ bị hư hoại, bịnh tật, chết chóc,
nên lúc nào thân cũng có vấn đề, lúc thì vì tuổi già,
khi là cảm sốt, đau lưng, đau răng. Lúc nào ta cũng phải
quan tâm đến thân, nhưng tâm không cần phải bị ảnh hưởng
lây.
Trong cõi giới đau khổ nầy, ta cũng cần phải chấp nhận
rằng thân ta không bao giờ hoàn hảo. Người lớn tuổi
có thể dễ chấp nhận điều nầy hơn là tuổi trẻ.
Đức Phật gọi đó là ‘sự si mê của tuổi trẻ”, và
nhà biên kịch Bernard Shaw nói rằng: “Những người trẻ lãng
phí tuổi thanh xuân”.
Thân luôn cần được chăm sóc, quan tâm vì lúc nào nó cũng
có thể tan rã. Khi ta đã có thể nhận ra đó là một
trong những yếu tố gây ra khổ đau trong cuộc sống, thì ta
cũng có thể nghiệm ra rằng có thể tốt hơn là không tái
sinh với thân xác nữa. Khi đã có khái niệm đó rồi,
thì cảm giác nôn nóng (samvega) phát sinh, đúng hơn là sự
nôn nóng phải tu tập. Thân cần được cho ăn uống,
tiêu hóa luôn. Thân cần được chăm sóc sạch sẽ, được
nghỉ ngơi, móng tay, móng chân, tóc, răng, da cần được giữ
gìn; thân cần được thuốc men khi cần thiết. Lúc nào
thân cũng là mối quan tâm của ta. Khó có thể nói rằng
thân nầy mang đến cho ta sự khóai lạc.
Khi còn trẻ, người ta khó nhận ra điều đó, vì thân còn
khỏe mạnh, không có đau bịnh. Nhưng thử tưởng tượng
nếu ta có thể ngồi thiền mà không có thân. Có phải
là dễ dàng hơn nhiều không? Có thể điều đó khiến
ta nhận ra rằng có thân thật là khổ.
Tuy nhiên, Đức Phật dạy rằng cõi người là cõi giới tốt
nhất để đạt được giác ngộ , vì ở đó có nhiều đau
khổ –nhất là với thân- để thúc đẩy ta tu tập.
Tuy nhiên ta cũng có sự sung sướng (sukkha) tạo nên thế cân
bằng giúp ta có thể tu tập. Trong cõi giới thấp hơn,
khổ đau (dukkha) quá lớn khiến sự tu tập không thể thực
hiện được. Trong cõi giới cao hơn, thì sự sung sướng
(sukkha) tràn đầy khiến nỗi nôn nóng phải tu tập biến mất.
Quanh ta cũng có các vị chư thiên (devas) tu hành, nhưng đó
là thiểu số. Dĩ nhiên là với chúng sanh cũng thế, số
người biết tu tập, hành thiền cũng quá ít.
Dường như thân luôn đòi hỏi ta điều nầy, điều kia, nhưng
ta cần phải biết rằng chính là các phản ứng của tâm đã
mang đến cho ta khổ đau. Hãy trở về với cảm giác
khó chịu dấy khởi khi tọa thiền, ta sẽ nhận thấy ngay,
nếu ta không phản ứng theo các cảm thọ nầy, ta sẽ không
có khổ đau. Đây là điều thực tập rất quan trọng,
mà thỉnh thoảng ta cũng cảm nhận được. Chúng ta không
cần phải cầu mong sẽ được giải thoát khỏi khổ đau trong
tương lai, ngay hiện tại chúng ta cũng có cơ hội thực hiện
điều đó. Không khó khăn gì ta cũng nhận thấy các cảm
giác khó chịu chỉ làm ta khổ sở vì ta không muốn chấp
nhận chúng, vì ta mong muốn chúng phải khác đi. Nhưng
nếu chúng ta chấp nhận chúng đúng như bản thể của chúng,
một cảm giác khó chịu cũng chỉ là một cảm giác, như thế
ta sẽ không còn khổ đau.
Trong thuyết lý duyên khởi siêu việt rõ ràng Dukkha (Khổ)
được coi là trọng điểm, là đỉnh cao, vì trong lời dạy
của Đức Phật về sự giác ngộ giải thoát, đau khổ cũng
được nhắc đến nhiều nhất. Điều đầu tiên Đức
Phật dạy là: “Có một sự thật tuyệt đối về khổ”.
Điều nầy thường bị hiểu lầm khiến người ta cho là đạo
Phật yếm thế, chỉ nhấn mạnh đến khía cạnh đau đớn,
khổ sở, bất hạnh của nhân lọai. Sự thực trái ngược
lại. Giáo lý của Đức Phật giúp cho ta nhìn nhận khổ
đau một cách thực tế và chỉ cho ta phương cách để giải
thoát khỏi khổ đau.
Người ta cũng thường lầm tưởng rằng giáo lý của Đức
Phật dạy rằng mọi khổ đau sẽ chấm dứt nếu ta tu tập
thiền định, hay thay đổi cách nhìn. Không phải thế.
Khổ đau vẫn tồn tại; chỉ có kẻ khổ đau là không còn
nữa. Đó là giáo lý duyên khởi siêu việt.
Đức Phật đã nói: “Có hành động, nhưng không có người
thực hiện; có khổ đau, nhưng không có người đau khổ, có
con đường nhưng không ai dấn bước, có Niết bàn nhưng không
ai đạt được”. Nếu có ‘cái tôi’ nào đó muốn
đạt được Niết bàn, thì điều đó không bao giờ xảy ra.
Nói như thế giống như một câu thoại đầu nghịch lý trong
thiền, nhưng về sau, ta sẽ hiểu rõ hơn.
Tất cả chúng ta đều đã từng nếm trải thực tế của
cuộc sống bất như ý, vì ít khi ta hoàn toàn thỗ mãn với
cuộc sống của mình. Chúng ta đều có những kinh nghiệm
trong quá khứ khiến ta phải hối tiếc là chúng đã xảy ra.
Lại có những điều ta mong xảy ra thì chúng không bao giờ
đến. Cách tốt nhất để đón nhận khổ đau là bằng
lòng biết ơn, coi rằng nó xảy ra là để dạy cho ta những
bài học rất quan trọng. Cầu mong khổ đau chấm dứt
chỉ vô ích. Vì chúng vô thường, đằng nào chúng cũng
sẽ qua đi, nhưng nếu ta không học được điều gì từ những
bài học đó, thì khổ (dukkha) sẽ trở lại y như cũ.
Nếu ta học được kinh nghiệm nầy, thì khổ đau lại xuất
hiện trong một tình huống mới, cho đến khi ta nhận chân
được khổ, không gì hơn là sự hiện hữu trong vũ trụ.
Khổ không riêng dành cho ai. Không ai bị chọn lựa phải
hứng chịu một đau khổ nào đó. Nó chỉ xảy ra.
Sự chấp nhận “nó chỉ xảy ra” là bước đầu tiên tiến
đến giác ngộ. Khổ là như thế. Có những người
dầu sống sung sướng, vẫn cảm nhận được khổ đau.
Trái lại có nhiều người sống rất khổ sở, nhưng không
bao giờ nhận biết điều đó, chỉ biết oán trách hoàn cảnh.
Họ trách chính quyền, đổ cho bom đạn, nền kinh tế.
Có bao nhiêu thứ để người ta đổ lỗi. Dầu nếu soi
xét lại cuộc sống của mình, họ sẽ thấy họ cần học
từ kinh nghiệm đó để trưởng thành hơn. Mỗi ngày
chúng ta đều có cơ hội để học, vì đâu có mấy ai trải
qua một ngày không có khổ đau.
Khổ không nhất thiết chỉ thuộc về phần thể xác, dầu
rằng chính khía cạnh đó giúp ta thấy rõ sự liên hệ giữa
diệu đế thứ nhất và thứ nhì, do đó ta có thể dùng những
kinh nghiệm đó để tu tập. Cái mốc nối đó là ái
dục, lòng ham muốn có hay muốn không có. Đây hầu như
là lý do chung của tất cả mọi khổ đau, phiền não của
chúng ta. Khi đã biết rõ nguồn gốc của khổ đau, ta
có thể quán xét xem điều gì khiến ta ham muốn thứ nầy,
ghét bỏ thứ kia. Từ đó ta có thể huân tập để thay
đổi các cách phản ứng của ta, để có thể giúp ta sống
thuận theo con đường đạo. Khi ta vẫn còn phải xử
dụng tâm trí quẩn quanh với lòng ham muốn thứ nầy hay ghét
bỏ thứ khác, ta không có tự do xử ûû dụng năng lực của
mình để tu tập tinh tấn.
Có lần tôi tổ chức một khóa tu thiền cho các thanh thiếu
niên, và tôi muốn họ có kinh nghiệm tự thân về việc diệt
trừ đau khổ. Tôi mời họ tham dự một cuộc thể nghiệm.
Tôi yêu cầu họ hãy quán xét xem có điều gì đang làm cho
họ phiền não, không bằng lòng; rồi hãy buông bỏ lòng ước
muốn hay ý ghét bỏ, dù chỉ trong giây lát, sau đó xem thử
nỗi khổ đau (dukkha) của họ có biến mất không.
Hôm sau, tôi hỏi họ đã thể nghiệm chưa. Một cô gái
trả lời rằng mình đã, nên tôi yêu cầu cô chia xẻ kinh
nghiệm của mình. Cô bảo từ lúc đến tham dự khóa
tu thiền, cô đã ao ước có được quả chuông nhỏ với cái
đế đầy màu sắc của tôi; thật ra, cô đã suy nghĩ xem làm
sao tạo ra các thứ đó, mua các vật liệu ở đâu hay tìm
mua ở nơi nào. Sau khi nghe tôi giảng về khổ (dukkha),
cô nhận ra rằng những ý tưởng đó đã làm cô khổ đau
và bực bội. Vì thế, cô quyết định xả bỏ ước
muốn sở hữu cái chuông, đế chuông và các thứ trang sức
khác, giờ thì cô thấy rất an lạc.
Tôi đề nghị các bạn hãy thử nghiệm xem. Dĩ nhiên,
các nhu cầu vật chất dễ dàng được thỏa mãn ở phương
Tây, nhưng chúng ta cũng có thể quay vào, quán xét nội tâm,
xem điều gì đã khiến ta phiền não, hay điều gì chiếm lĩnh
tâm hồn ta khiến ta lo lắng, không an. Có phải là chuyện
tương lai? Khía cạnh nào của tương lai? Quán xét
trong giây lát, rồi hãy buông bỏ suy tưởng đó. Khi buông
bỏ rồi, ta sẽ thấy dễ chịu làm sao. Khi đã thực
tập như thế được giây lát, ta có thể thực hiện nhiều
lần sau nầy, ở nhiều lúc khác nhau. Đó là một kinh
nghiệm đáng cho ta thử, nhất là khi ta có thể khám phá ra
điều gì tiềm ẩn trong ta tiếp tục gây đau khổ cho ta, một
tác nhân liên tục gây đau khổ. Kinh nghiệm được điều
đó mới đáng kể, chứ không phải sự nghĩ suy.
Chúng ta có thể so sanh việc nầy với việc nếm thử mùi
vị một trái xoài. Nếu điều cố gắng diễn tả cho
ai đó về mùi vị nầy, chúng ta chỉ có thể nói: “Mùi vị
rất ngon; rất thơm, rất ngọt, mềm, nhiều nước”.
Nhưng liệu người nghe có thực sự biết mùi vị của quả
xoài? Chỉ khi thật sự nếm thử, họ mới thực sự
biết nó như thế nào. Biết nó không phải là trái mận
hay trái đào, mà là trái xoài, rõ ràng khác nhau. Cũng
thế đối với tất cả những lời dạy của Đức Phật;
chúng ta phải tự mình thực tập. Chúng ta đã có được
những lời hướng dẫn rõ ràng, dứt khoát của Đức Phật,
đó là điều thiết yếu. Khi chúng ta đem những lời
nầy ra áp dụng mà không lồng ghép thêm quan điểm của mình,
ta sẽ thực sự hiểu những kinh nghiệm nầy, từ đó đạt
được tri kiến giác ngộ. Đó là lý do tại
sao lời dạy của Đức Phật rất quan trọng đối với chúng
ta –chỉ khi nào ta đem chúng ra thực hành. Biết được
giáo lý Phật pháp là bước đầu tiên, kế tiếp là phải
nhập tâm các giáo lý đó, bước thứ ba là phải thực hành
những giáo lý đó để có thể tìm ra chân lý cho chính mình.
Ba giai đoạn nầy giúp ta đạt được trí tuệ.
THAM
VẤN
Thiền
Sinh (TS): Xin Ni Sư khai triển thêm làm sao mà cái
khổ do hiện hữu lại trở thành con đường đạo, chấm dứt
khổ. Ni Sư đã có giảng về điều nầy, nhưng con muốn
chắc chắn rằng mình đã thấu triệt, vì con rất dễ quên.
Thí dụ, khi con cảm thấy đau đớn nơi thân, thì dễ nói:
“Đây chỉ là thân giả tạm, tôi sẽ già, sẽ chết”.
Nhưng khi cái đau là ở tâm, con thường tự nhủ: “Ta phải
tu tập vì ta đau khổ quá”. Nhưng đôi khi sự thực
tập đi sai đường. Làm cho vấn đề trầm trọng thêm.
Đó là điều con muốn được khai triển thêm.
AYYA
KHEMA (AK): Trước hết hãy để tôi hỏi em: Khi
em nói “thực tập”, có phải ý em là ngồi xuống tọa thiền?
TS:
Dạ.
AK:
Thực tập, tu tập, không chỉ có tọa thiền. Còn
nhiều điều hơn thế nữa.
TS:
Ni Sư có thể giúp con triển khai thêm vài khía cạnh nào đó.
AK:
Khi tâm đau đớn, khổ sở, mà em có thể ngồi xuống tọa
thiền được mới là điều đáng ngạc nhiên. Lúc đó
tâm thật khó trụ vào đề mục thiền quán nào.
TS:
Thưa Ni Sư, con ngồi xuống với ý định tọa thiền nhưng
thực ra là ngồi xuống để soi lại nỗi đau của mình.
AK:
Đúng vậy. Những lúc đó ta chỉ có thể quán tưởng.
Tìm một nơi không có ai quấy rầy để ngồi xuống, chú tâm
vào nỗi đau để tìm nguyên nhân, tại sao nó phát khởi lên.
Đừng dựa vào những lý do như: “Tại vì người nầy người
kia nói thế nầy, thế kia” –đó chỉ là những nguyên nhân
giả tạo. Đó có thể là tác động, ngòi nổ, nhưng
không phải là lý do khiến tâm phiền não, đau đớn nếu như
trong ta không có một điều gì đó khiến ta phải phản ứng
lại nó. Tốt hơn là phải tìm ra những tác động bên
ngoài trước, là những điều có lẽ ta đã quá quen thuộc.
Có thể là cảm giác bất lực, lo lắng cho tương lai –bất
cứ điều gì cũng được. Sau đó phải quán xét lại
nội tâm tìm xem lý do nào khiến ta có những phản ứng mang
đến khổ đau. Lý do đó chắc chắn phải là: “Tôi
không muốn nó như thế”. Không có lý do gì khác hơn.
Nhưng tại sao chúng ta không muốn sự việc xảy ra như thế?
Câu trả lời thông thường là: “Vì cái tôi bị đụng
chạm”. Tất cả mọi quán sát cuối cùng cũng dẫn đến
“cái tôi”, nhưng không ích lợi gì nếu ta chỉ nói: “Tôi
biết đó là vì cái ngã của tôi”, rồi tiếp tục đau khổ.
Tuy nhiên, nếu ta quán xét cả quá trình từ nguyên nhân tác
động, đến phản ứng của cá nhân, rồi tìm hiểu lý do
tại sao ta phản ứng như thế, để hiểu rằng chính các phản
ứng của ta khiến ta khổ, không phải là tác động bên ngoài.
Tôi có một phương châm: “Đừng đổ lỗi cho tác động
bên ngoài”. Đừng bao giờ cho phép tâm ta dựa vào tác
động bên ngoài; nhưng phải luôn luôn quán xét xem ai là người
phản ứng, phản ứng ra làm sao. Nếu ta không nhận ra
rằng việc phản ứng lại những tác động là ở tại chúng
ta, thì ta lại tiếp tục lập lại những phản ứng đó mãi,
giống như một bản in của máy tính. Cứ nhấn cùng một
nút bấm, thì cùng một bản in hiện ra, cho đến khi ta nhận
ra rằng không có gì hơn là cùng một cái nút bị bấm, và
rằng ta đã in ra cùng một bản in. Chúng ta có thể tự
mình dừng lại. Lúc đầu, việc làm nầy có thể khiến
ta đau đớn khó chịu vì phải nhìn lại mình một cách khác.
Ta không cần phải có ý tưởng phóng đại về những cái
tốt hay xấu của mình. Ta chỉ cần tập biết chấp nhận
sự việc như chúng đã xảy ra. Tóm lại, ngồi xuống
chiếu thiền vào những lúc như thế rất tốt, nhưng cố thiền
quán thì không ích lợi gì; tốt hơn nên quán tưởng.
Đề mục để ta quán tưởng sẽ là: “Nguyên nhân khiến
tâm phiền não”.
TS:
Thưa, Ni Sư đã giảng khá rõ rằng tâm phiền não, khổ đau
chỉ là do phản ứng của ta, và con cũng hiểu đó là do cái
ngã muốn tự vệ, nhưng biết thế hình như cũng chưa đủ,
vì nó lại xảy ra. Đúng ra, khi nó lại xảy ra, con còn
cảm thấy khổ đau gấp bội vì biết trước rằng nó sẽ
xảy ra, nhưng không thể tự làm chủ mình.
AK:
Nghĩa là sau khi đã qua quá trình quán xét, nhận biết được
rằng tất cả chỉ là phản ứng của cái ngã, mà vẫn tiếp
tục phản ứng như thế? Điều đó tự nhiên thôi.
Những gì ta biết và những gì ta có thể thực hiện rất
khác xa. Phải trải qua nhiều lần như thế trước khi
ta có thể nói: “Hãy buông xả, không có gì đáng bận
tâm”. Cần phải có thời gian. Chúng ta biết có
nhiều thứ ta chưa thể thực hiện được, nhưng cái biết
đó là niềm hy vọng duy nhất rằng có lúc ta sẽ thực hiện
được, còn không biết thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ bắt
đầu. Nếu ta nhận biết rằng đó chỉ là do cái ngã
cần được che chở, vuốt ve, dần dần ta có thể dứt bỏ
được nhu cầu được chấp nhận từ các yếu tố bên ngoài.
Lúc đó chúng ta có thể tự quay vào nội tâm để tìm xem
thực sự có một cái tôi ở đó không, hay chỉ là do cái
thức của ta, do suy tưởng của ta tạo nên. Một ngày
nào đó ta sẽ nhận ra rằng không có gì cả. Dĩ nhiên
lúc đó, ta cũng không còn có nhu cầu tìm kiếm những sự
hỗ trợ từ bên ngoài nữa.
Ngay cả trong quá trình huân tập, ta cũng nhận thấy rằng
sự hỗ trợ cho nội tâm đã tăng trưởng thêm qua việc hành
thiền, rằng ta không còn mãi tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên
ngoài. Một trong những vấn đề con người thường phải
đối mặt trong cuộc sống là luôn phải tìm kiếm một chỗ
dựa tình cảm, nhưng không tìm được ai thích hợp. Sức
mạnh của nội tâm, cộng với việc giảm thiểu ái dục giúp
ta giải quyết vấn đề đó qua những tiến bộ trong việc
hành thiền.
Khi chúng ta tiếp tục hành thiền, quán xét nội tâm và quán
tưởng, dần dần chúng ta sẽ tạo ra những cái nhìn mới,
khiến dòng chảy của cuộc đòi cũng đổi thay. Điều
đó sẽ xảy ra nhanh hay chậm, những chuyển biến nơi ta lớn
nhỏ thế nào cũng khó đoán. Điều đó tuỳ thuộc vào
lòng quyết tâm của mỗi người, tuỳ thuộc tâm có bị ô
nhiễm bởi quá nhiều định kiến, làm cản trở sự tiến
bộ của ta.
TS:
Ni Sư đã giảng về năm uẩn (Khandhas). Ở phần nào trong
năm uẩn, ta có thể bước ra khỏi vòng luân hồi sinh tử?
AK:
Câu trả lời nằm ở những bước tiếp theo trong thuyết duyên
khởi. “Nhìn sự vật như chúng thực sự là”, là một
tri giác ta có thể đạt được qua sự hành thiền.
Nói một cách thực tế, khi một cảm giác khó chịu dấy khởi,
dầu đó là ở thân hay ở tâm, ta có thể nhận ra rằng đó
chỉ là một cảm giác, đó không phải là ‘tôi’ hay ‘của
tôi’. Ta không yêu cầu nó đến, nó tự đến, thế
thì tại sao ta nghĩ nó thuộc về ‘ta’? Từ đâu ra
cái suy tưởng về ‘tôi’ và ‘của tôi’? Dần dần
ta nhận ra rằng chúng ta nghĩ về ‘tôi’ và ‘của tôi’
la do thói quen, rằng chúng ta có thể thay đổi cách suy nghĩ
của mình, nhưng dĩ nhiên điều đó cần nhiều thực tập,
cần có thời gian. Cảm thọ, thí dụ, là một mảng quan
trọng, cần được thực tập.
Không ai muốn bị bịnh, nhưng thân không thể tránh khỏi bịnh.
Như thế làm sao có việc làm chủ thân nầy, nếu nó vẫn
cứ thế nầy, thế kia dầu ta không muốn? Nếu chúng
ta thực sự làm chủ một cái gì, ta phải có quyền xử dụng
nó tùy thích –bỏ đi, xử dụng, hay tặng cho người khác,
bất cứ gì ta thích –vì nó thuộc về ta. Vậy thì thân
nầy là sao? Nó làm những việc ta không muốn, vậy mà
ta vẫn nghĩ nó thuộc về mình. Đây là những điều
quan trọng cần quán tưởng trong quá trình hành thiền của
ta. Thí dụ, khi thiền quán, ta có thể quán một trong
năm uẩn (Khandhas) hay nhiều hơn, xem chúng sinh diệt như thế
nào. Chúng ta có thể cảm nhận thân trong tư thế ngồi
thiền, khi những cảm giác khó chịu dấy khởi do ngồi lâu;
lúc đó ta có thể tự hỏi, “Đó phải là tôi không?
Nó có thuộc về tôi không? Tại sao tôi nói đó là tôi?
Do đâu tôi có suy nghĩ đó?” Đó là một cách để đối
trị năm uẩn. Năm uẩn (khandhas) là trụ chống của ảo
tưởng về ngã vì tất cả những khái niệm về cái ngã đều
xoay quanh năm uẩn.
Một phương cách khác là quán xét nội tâm xem chúng ta có
thể tìm được gì ngoài năm uẩn. Một khi đã chắc
là không còn gì khác, ta có thể hỏi: “Cái mà tôi luôn cho
rằng thuộc về của tôi ở đâu?” Đây là những suy
nghĩ có thể dùng làm đề tài trong thiền quán. Nói vậy
đã trả lời được câu em hỏi chưa?
TS:
Dạ có. Con rất cảm khích khi được nghe Ni Sư bảo rằng
chúng ta có thể bước ra khỏi cái vòng của mười hai duyên
khởi ở điểm giữa thọ và ái. Con tự hỏi nếu chúng
ta có thể dứt ra ở một trong năm uẩn, có phải đơn giản
hơn không vì chỉ có năm uẩn (khandhas) nhưng có tới mười
hai phần trong lý duyên khởi.
AK:
Dĩ nhiên rồi. Mười một bước còn lại là những kết
quả tự nhiên của các nhân duyên. Chúng ta không thể
làm gì khác hơn. Một khi vô minh có mặt, thì ngã tưởng
chỉ có một con đường ra, đó là, giữa thọ và ái.
Trong khi đối với năm uẩn, thọ là cái mà ta sống bám víu
vào. Vì thế điều phục thọ có thể là một quá trình
tiến bộ quan trọng nhất. Khi khổ thọ dấy khởi, ta
cần tập nhận ra rằng nó không thuộc về ta, do đó ta không
cần phải phản ứng. Nhưng không phải bằng cách đè
nén hay bất cần. Đó là điều nguy hiểm, vì ta có thể
đè nén cảm thọ của mình khá dễ dàng bằng cách hướng
tâm đến một nơi khác. Nhưng làm thế là ta chối bỏ
các cảm thọ. Xả chỉ có thể phát khởi khi ta biết
chấp nhận cảm thọ của mình mà không phản ứng, khi ta biết
rằng dầu cảm thọ có phát khởi, nó không phải là ‘của
ta’.
Ở cửa ra đó, giữa thọ và ái, là cái ta cần huân tập.
Ta muốn các khổ thọ biến mất, nhưng nều chúng có dấy
khởi, ta chỉ cần để chúng qua đi, thì sẽ không có phiền
não, không có khổ đau (dukkha). Có rất nhiều phương
cách giúp ta thoát ra khỏi ảo tưởng để có cái nhìn
thực sự về ngã như là –một kẻ lừa đảo, kẻ thù số
một của tất cả mọi người.
TS: Cùng nằm trong đề tài đó: Con thắc
mắc thiền minh sát (vipassana) có thể giúp gì trong quá trình
tách biệt phản ứng ra khỏi các cảm thọ. Ni Sư đã
có nói về quán tưởng.
AK:
Con đang hỏi về các phương pháp, phải không? Cảm thọ
và phản ứng luôn xảy ra trong đời sống hằng ngày của
ta, vì thế thực hành chánh niệm là rất cần thiết.
Chữ vipassana có nghĩa là tuệ giác, cái thấy rõ ràng.
Nó không ám chỉ một phương pháp nào. Nó là mục đích,
là lý do cho con đường tu tập của chúng ta, là một trong
hai con đường hành thiền, nhưng danh từ đó không ám chỉ
một phương pháp đặc biệt nào.
Vipassana, hay tuệ giác, có thể phát sinh do tự soi rọi nội
tâm, hay thiền quán, nhưng không nhất thiết phải như thế,
cũng không phải là thích hợp cho tất cả mọi người.
Đức Phật đã so sánh Pháp như một con rắn. Nếu bạn
nắm nó ở đằng đuôi, chắc chắn sẽ bị nó cắn; ta phải
nắm ở phía sau đầu rắn mới được an toàn. Ta cũng
phải biết áp dụng Pháp cho đúng cách để không bị tổn
thương. Tự quán xét, nghĩa là chánh niệm, theo dõi thế
giới bên trong của riêng ta, có thể giúp chúng ta hiểu về
con người hơn.
Cho đến thời điểm nầy, tôi chỉ mới nói đến chánh niệm
trên thân (kayanupassana). Bước thứ hai là vedananupassana
(chánh niệm trên cảm thọ), và tôi sẽ hướng dẫn các em
phương pháp nầy. Dĩ nhiên chỉ có phương pháp thôi không
thể đem đến cho chúng ta trí tuệ, cũng như chỉ quán về
tâm từ không đủ để đảm bảo ta sẽ có lòng từ.
Trên con đường đạo, phương pháp rất hữu ích, nhưng chánh
niệm nội tâm mới thật tối cần –chánh niệm về bãn ngã,
về các phản ứng, vễ những cảm thọ nơi thân hay nơi tâm;
sự nhận thức về ngã như một kẻ diễn trò, và cuối cùng
là tự hỏi xem cái ngã có cần thiết hay không. Việc
làm đó khiến ta phải chánh niệm suốt ngày dài. Quán
niệm rằng năm uẩn (khandhas) là không phải ‘tôi’, hay thân
nầy vô thường, là những bước tiến trên đường đạo,
nhưng điều quan trọng nhất là phải luôn chánh niệm trong
cuộc sống hằng ngày.
TS:
Dường như tất cả chúng ta đều có nhận thức rồi đến
phản ứng. Các phản ứng có phải là một phần của
cái ngã? Chắc rằng chúng ta không có cách gì loại bỏ
các nhận thức của mình. Về các cảm giác, con không
biết chắc là chúng thuộc về nhận thức hay phản ứng.
AK:
Không thuộc về cái nào cả. Nó như thế nầy đây.
Trước nhất phải có sự xúc chạm bởi các giác quan, rồi
từ đó sinh ra cảm giác. Sau khi cảm giác phát sinh, ta
mới có nhận thức, rồi thức sinh ra hành, tức là các phản
ứng. Khi ta ngồi xếp bằng, trước hết ta có sự xúc
chạm do việc ngồi; sau đó một cảm giác khó chịu có thể
phát sinh; rồi đến nhận thức nói rằng, “Đau”; rồi phản
ứng: “Tôi không thích rồi, máu tôi có thể bị ngưng lưu
thông; Tôi biết chắc rằng không cần thiết phải làm thế
nầy; tốt hơn tôi nên ngồi trên ghế” –hoặc bất cứ
thứ gì tâm có thể nghĩ ra. Chúng ta tạo ra tất cả
những chuỗi phản ứng. Giữa cái nghĩ, “Đau”, và
“Tôi muốn khỏi đau” là nơi ta có thể bước ra. Nói
thế có giải thích được gì không? Quan trọng là cầân
theo dõi chỉ có thế khi tọa thiền vì ngay ở đó ta có một
cơ hội tốt để thử nghiệm các phản ứng của ta.
TS:
Con nghĩ chúng ta đi đến cùng một kết luận. Chánh niệm
sẽ giúp ta biết được cái đau, biết những gì đang xảy
ra, rồi cũng nhờ chánh niệm, chúng ta có mặt ngay giây phút
đó, chúng ta không thể nghĩ đến bước kế tiếp là chạy
trốn cái đau.
AK:
Đúng vậy. Chánh niệm cũng giống như cái thắng xe.
Nếu ta lái xe mà không có thắng, thì cũng như đi tự tử.
Trái lại nếu xe có thắng, khi đến các ngõ ngách nguy hiểm
ta có thể đạp thắng; lái chậm lại để có thể quay tay
lái sang hướng khác, tránh sự nguy hiểm. Đối với chánh
niệm cũng thế. Khi chúng ta xử dụng chiếc thắng chánh
niệm, chúng ta chậm lại, có thời gian để xem việc gì đang
xảy ra. Chúng ta không cần phải thốt lên, “Tôi không
chịu nổi anh/em nữa, tôi phải đi đây”. Chúng ta chỉ
chậm lại, nhận biết đây là một khúc quanh nguy hiểm mà
đổi hướng. Chánh niệm làm chúng ta chậm lại để
có thể nhìn lại mình, để thấy rõ mình hơn. Điều
đó không có nghĩa là chúng ta đã có thể giải quyết mọi
vấn đề. Đức Phật thường khuyên các đệ tử của
Ngài thân cận với thiện hữu tri thức, những người có
thể giúp ta tiến trên con đường đạo. Đức Phật đã
lập lại điều đó nhiều lần; do đó, chúng ta có thể suy
ra rằng nếu chúng ta vẫn chưa thoát ra khỏi những tình huống
khó xử điều đó cũng tự nhiên thôi, nhưng ít nhất chúng
ta không phản ứng một cách vô thức, theo bản năng, chỉ
đem lại đau khổ cho cả hai bên.
TS:
Thưa Ni Sư, con muốn tìm hiểu thêm về ý nghĩa của sinh, và
dưới cái nhìn của giải thoát giác ngộ, cái gì đã
được sinh ra? Chúng ta có thể nói gì về sinh?
AK:
Tôi nghĩ truyền thống Nguyên Thủy và Đại thừa có
khác nhau về vấn đề nầy. Tôi chỉ có thể giải thích
theo cái nhìn Nguyên thủy là tông phái của tôi. Trong
thuyết duyên khởi siêu việt ta thấy rằng vô minh (avijja),
tiếp theo bằng nghiệp hay tâm hành (sankhara), kết quả là
thức tái sinh (vinnana). Thức tái sinh là do ‘muốn
được tái sinh’. Trong tâm thức đó, ái đã tiềm ẩn
trong các nghiệp quả. Cái mà ta coi là tái sinh hay sinh là ‘ước
muốn được hiện hữu’, cộng với nghiệp thức và nghiệp
quả. Ta không thể khẳng định theo quan điểm tuyệt
đối rằng một con người đã được tái sinh; dầu có vẻ
là như thế. Theo quan điểm tương đối là một người
đã được sinh ra. Theo tuyệt đối thì không có gì được
tái sinh trừ nghiệp thức (karmic residue) Tôi nghĩ là theo
truyến thống Đại thừa, còn có quan điểm về tự nguyện
tái sinh. Bên Nguyên thuỷ thì không nói đến vấn đề
đó.
TS:
Nghiệp hành (karmic formations) sẽ duyên sinh; qua thực hành thiền
chúng ta nhận thấy tính cách không thật của tâm và thân,
do đó khi thật sự không phải tái sinh có thể hiễu rằng
không có gì đã từng được sinh ra. Hay một điều gì
đại loại như thế, thưa Ni Sư?
AK:
Không hẳn đúng. Chúng ta được sinh ra. Điều mà
chúng ta khám phá ra qua quá trình tu tập giác ngộ là không
có gì đáng để chúng ta có mặt ở đây; và khi chúng ta đã
có khả năng vượt qua hiện hữu, thì không còn sanh, không
có diệt. Người đang có mặt ở đây hôm nay, người
đã được sinh ra, khám phá ra rằng cái ‘ý muốn được
có mặt’ ở đây hoàn toàn không cần thiết. Đúng ra,
đó là một sai lầm của tâm, một lỗi lầm chết người,
rồi cuối cùng cũng chấm dứt bằng cái chết.
Quán
Từ Bi
Trước
khi bắt đầu, hãy chú tâm vào hơi thở trong chốc lát.
Giờ
hãy xem mình như người bạn thân nhất của chính mình, hãy
dành cho bản thân sự quan tâm, lo lắng, lòng ưu ái như bạn
vẫn dành cho người bạn thân thiết nhất của mình.
Hãy rộng vòng tay với bản thân như với người bạn thiết
của mình.
Hãy
hướng đến người ngồi cạnh bạn. Hãy xem họ là bạn
thiết của mình, dành cho họ tình thương, sự lo lắng, cảm
thông.
Hãy
xem tất cả mọi người đang có mặt như bạn thiết của
mình, dành cho họ sự ưu ái, cảm thông, tình bằng hữu, sự
quan tâm. Đón họ trong vòng tay bằng hữu thắm thiết.
Hãy
là bạn thiết của cha mẹ mình. Hãy dành cho họ sự
quan tâm, lòng ưu ái, đón họ trong vòng tay thân hữu thắm
thiết, cho họ biết ta lo lắng, quan tâm cho họ đến nhường
nào.
Hãy
hướng tới quyến thuộc của bạn. Hãy là bạn thiết
của họ. Dành cho họ sự quan tâm, lòng ưu ái, thương
yêu, che chở họ trong vòng tay thân thiết của mình.
Hãy
hướng đến tất cả bằng hữu của bạn. Hãy cho họ
biết bạn là bạn thiết của họ. Hãy dành cho họ tình
thương, che chở họ trong vòng tay thân hữu.
Hãy
nghĩ đến người bạn có hiềm khích hay thấy khó hòa hợp.
Hãy trở thành bạn thiết của họ, để cởi bỏ mọi vướng
mắc trong lòng. Hãy mở vòng tay thương yêu, thông cảm
đến với họ.
Hãy
mở rộng lòng đến với càng nhiều người càng tốt, dù
họ ở gần hay ở xa. Hãy để lòng quan tâm, lo lắng,
thưởng yêu, thông cảm trải rộng đến mọi nơi, hãy che
chở họ trong vòng tay thân hữu.
Hãy
chú tâm trở về nơi bạn. Cảm nhận niềm hạnh phúc
được làm bạn thiết với chính bản thân. Sự hài hòa,
tự tại mà bạn cảm nhận được là do biết chấp nhận
bản thân, lo lắng cho bản thân, hoan hỉ với sự hiện hữu
của mình, như là một người bạn thiết.
Cầu
mong tất cả mọi chúng sanh đều là bằng hữu của nhau.