|
|
c
DUY-MA-CẬT
SỞ THUYẾT KINH
Tam
Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn sang Hán
Tỳ
Kheo Thích Duy Lực Dịch Từ Hán Sang Việt
Từ
Ân Thiền Ðường Santa Ana, Hoa Kỳ Xuất Bản 1991
Phẩm
Phật Quốc
Thứ
Nhất
Tôi
nghe như vầy: Một thuở Phật tại Tỳ Da Ly, vườn Am La Thọ,
với chúng đại Tỳ kheo tám ngàn vị, Bồ Tát ba mươi hai
ngàn vị, là những vị có tiếng tăm, đề đã thành tựu
trí hạnh đại thừa, do oai thần chư Phật kiến lập, làm
hộ pháp thành, thọ trì chánh pháp. Pháp âm oai hùng như sư
tử rống, danh đồn khắp mười phương, người đời không
cầu thỉnh, mà các ngài sẵn sàng làm bạn, giúp cho an vui,
khiến Tam Bảo hưng thịnh nối tiếp mãi. Hàng phục ma oán,
ngăn dẹp các ngoại đạo, lìa hẳn tất cả các chướng ngại
ràng buộc, tâm thường an trụ nơi vô ngại giải thoát, tổng
trì định niệm, luôn luôn biện tài, sáu Ba La Mật và sức
phương tiện đều đầy đủ cả, cho đến vô sở đắc mà
chẳng khởi pháp nhẫn, hay tùy thuận chuyển pháp luân bất
thối, khéo giải pháp tướng, thấu biết căn cơ chúng sanh.
Vì đại chúng đắc sức vô sở úy, dùng công đức trí huệ
để tu tâm, tướng tốt đệ nhất, xả bỏ tất cả trang
sức tốt đẹp trong đời, danh tiếng cao xa vượt hẳn núi
Tu Di, lòng tin vững chắc như kim cương, pháp bảo soi khắp
như mưa cam lồ, âm thanh thuyết pháp vi diệu đệ nhất, dứt
các tà kiến và nhị biên, thâm nhập duyên khởi, chẳng còn
tập khí. Liễu đạt diệu nghĩa các pháp, khéo biết tâm sở
hành của chúng sanh, siêu việt số lượng, chẳng có gì để
so bằng. Dùng thập lực vô úy, mười tám pháp bất cộng,
sức tự tại huệ của Phật, đóng bít tất cả cửa nẻo
ác thú, hiện thân sanh nơi lục đạo, làm Ðại Y Vương khéo
trị các bệnh, khiến chúng sanh thành tựu vô lượng công
đức, khiến vô lượng Phật quốc đều trang nghiêm trong sạch,
kẻ nghe đều được lợi ích. Những việc làm của các Ngài
đều chẳng uổng phí, các công đức như thế đều hoàn toàn
viên mãn. Bậc Bồ Tát như: Ðẳng Quán Bồ Tát, Bất Ðẳng
Quán Bồ Tát, Ðẳng Bất Ðẳng Quán Bồ Tát, Ðịnh Ðại
Tự Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, cho đến
Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Bồ Tát, v.v...
tất cả ba mươi hai ngàn vị. Còn có Phạm Thiên Vương cùng
một tên Thi Khí mười ngàn vị từ bốn thiên hạ đến nơi
Phật ở mà nghe pháp. Còn có Ðế Thích muời hai ngàn vị
cũng từ bốn thiên hạ đến dự pháp hội. Ngoài ra còn có
Ðại Oai Lực Chư Thiên, Long Thần Dọa Xoa, Càn Thát Bà, A
Tu La, Khán Na La, Ma Hầu La Già, các Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu
Bà Tắc, Ưu Bà Di, v.v... đều đến dự pháp hội. Lúc ấy,
Phật vì vô lượng đại chúng thuyết pháp, ví như chúa núi
Tu Di hiện nơi biển lớn, trải tòa sư tử, oai đức che trùm
tất cả đại chúng. Bấy giờ , tại thành phố Tỳ Da Ly có
một trưởng giả tên là Bửu Tích, cùng với năm trăm vị
trưởng giả cầm Bửu Cái đến nơi Phật, cung kính đảnh
lễ, mỗi mỗi đều dùng Bửu Cái của mình cúng dường Phật.
Nhờ oai thần Phật khiến các bửu cái hợp thành một bửu
cái, trùm khắp đại thiên thế giới, tất cả núi sông đất
đai, cho đến các thiên cung, long cung, thần cung và nhật nguyệt
đều hiển hiện trong bửu cái, và chư phật thuyết pháp trong
mười phương cũng hiện trong bửu cái. Lúc ấy, tất cả đại
chúng thấy thần lực của Phật như thế, đều tán thán là
việc chưa từng có, nên chấp tay lễ Phật, chiêm ngưỡng
chẳng nháy mắt. Trưởng giả Bửu Tích liền tụng bài kệ
trước Phật rằng:
-
Mắt trong dài rộng
như hoa sen,
-
Tâm sạch đã vượt
các Thiền định.
-
Tịnh nghiệp lâu
đời chẳng kể xiết,
-
Tịch diệt đảnh
lễ dắt chúng sanh.
-
Ðã thấy thần biến
của đại thánh,
-
Phổ biến hiển
hiện mười phương cõi.
-
Chư Phật thuyết
pháp ở trong đó,
-
Tất cả chúng sanh
đều thấy nghe.
-
Pháp lực của Phật
vượt quần sanh,
-
Thường dùng pháp
tài thí tất cả.
-
Hay khéo phân biệt
các pháp tướng,
-
Mà nơi đệ nhất
nghĩa chẳng động.
-
Ðối với các pháp
được tự tại,
-
Cho nên đảnh lễ
Pháp Vương này.
-
Thuyết pháp chẳng
hữu cũng chẳng vô,
-
Vì do nhân duyên
các pháp sanh.
-
Vô ngã, vô tạo,
vô thọ giả,
-
Những nghiệp thiện
ác cũng chẳng mất.
-
Phật lực hàng ma
từ nay khởi,
-
Kẻ đắc cam lồ
Phật đạo thành.
-
Vô tâm, vô úy, vô
thọ hành,
-
Mà được dẹp hết
các ngoại đạo.
-
Thường chuyển pháp
luân nơi đại thiên.
-
Pháp ấy bổn lai
vốn trong sạch,
-
Trời người đắc
đạo đó là chứng.
-
Tam bảo vì thế
hiện trong đời,
-
Dùng diệu pháp nầy
độ chúng sanh.
-
Thọ rồi chẳng
lui thường tịch lặng,
-
Ðộ thoát sanh tử
Ðại Y Vương.
-
Kính lễ pháp hải
đức vô lượng,
-
Khen chê chẳng động
như Tu Di.
-
Ðồng bực thương
xót kẻ lành dữ,
-
Tâm hành bình đẳng
như hư không.
-
Ðược nghe Pháp
Bảo ai chẳng kính,
-
Nay dâng Thế Tôn
lọng mọn này.
-
Ðại thiên thế
giới hiện trong đó,
-
Cung điện chư thiên
và long thần.
-
Cho đến Càn Thát
Bà, Dạ Xoa,
-
Mọi vật thế gian
đều thấy rõ.
-
Phật hiện biến
hóa đại bi này,
-
Chúng thấy hy hữu
đề tán thán.
-
Nay con đảnh lễ
Tam Giới Tôn,
-
Ðại Thánh chỗ
nương của mọi loài,
-
Tịnh tâm quán Phật
đều hoan hỉ,
-
Ðược gặp Thế
Tôn ngay trước mình,
-
Ấy là thần lực
pháp bất cộng,
-
Phật dùng một âm
để thuyết pháp.
-
Chúng sanh hiểu biết
theo mỗi loài,
-
Ðều cho Thế Tôn
thuyết vì mình.
-
Ấy là thần lực
pháp bất cộng,
-
Phật dùng một âm
để thuyết pháp.
-
Chúng sanh hiểu biết
theo mỗi loài,
-
Phổ biến thọ hành
được lợi ích,
-
Ấy là thần lực
pháp bất cộng,
-
Phật dùng một âm
để thuyết pháp.
-
Hoặc có khiếp sợ
hoặc hoan hỉ,
-
Hoặc sanh nhàm chán
hoặc dứt nghi.
-
Ấy là thần lực
pháp bất cộng,
-
Ðảnh lễ Ðức
Phật đại tinh tấn.
-
Ðảnh lễ bậc đặng
vô sở úy,
-
Ðảnh lễ trụ nơi
pháp bất cộng,
-
Ðảnh lễ tất cả
Ðại Ðạo Sư,
-
Ðảnh lễ hay dứt
mọi trói buộc.
-
Ðảnh lễ đã đến
bờ bên kia,
-
Ðảnh lễ hay độ
những thế gian.
-
Ðảnh lễ lìa hẳn
việc sanh tử,
-
Thấu tướng khứ
lai của chúng sanh.
-
Ðối với các pháp
được giải thoát,
-
Chẳng nhiễm việc
đời như hoa sen.
-
Thường khéo vào
nơi hạnh không tịch,
-
Liễu đạt pháp
tướng vô quái ngại,
-
Ðảnh lễ hư không
vô sở y.
Bấy giờ, trưởng
giả Bửu Tích thuyết kệ xong, bạch Phật rằng: Bạch Thế
Tôn! Năm trăm trưởng giả này đều đã phát tâm Vô Thượng
Chánh Ðẳng Chánh Giác, nguyện nghe sự trong sạch của cõi
Phật, mong Thế Tôn giảng về hạnh Tịnh Ðộ của Bồ Tát.
Phật bảo: Ớ Lành thay! Bửu Tích! Khéo vì chư Bồ Tát hỏi
Như Lai về hạnh Tịnh Ðộ. Lắng nghe! Lắng nghe! Khéo ghi
nhớ lấy, ta sẽ vì ngươi mà thuyết. Lúc ấy, Bửu Tích và
năm trăm vị trưởng giả vâng lời Phật dạy mà lắng nghe.
Phật bảo Bửu Tích: Tất cả chúng sanh là cõi Phật của
Bồ Tát. Tại sao? Bồ Tát tùy sự giáo hóa chúng sanh mà nhận
lấy cõi Phật, tùy sự điều phục chúng sanh mà nhận lấy
cõi Phật, tùy chúng sanh nên theo quốc độ nào vào trí huệ
của Phật mà nhận lấy cõi Phật, tùy chúng sanh nên theo quốc
độ nào phát khởi căn tánh Bồ Tát mà nhận lấy cõi Phật.
Tại sao? Bồ Tát nhận lấy cõi Phật trong sạch đều vì muốn
xây dựng nhà cửa nơi khoảng đất trống thì tùy ý vô ngại,
nếu xây dựng giữa hư không trọn chẳng thể được. Bồ
Tát cũng thế, vì thành tựu chúng sanh, nên nguyện nhận lấy
cõi Phật nơi hư không vậy. Bửu Tích nên biết: TRỰC TÂM
là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những
chúng sanh chẳng xiểm khúc đến sanh quốc độ đó. THÂM TÂM
là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh
công đức viên mãn đến sanh quốc độ đó. BỒ ÐỀ TÂM
là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh
tu Ðại Thừa đến sanh quốc độ đó. BỐ THÍ là tịnh độ
của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh hay hỉ xả
đến sanh quốc độ đó. TRÌ GIỚI là tịnh độ của Bồ
Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh hành Thập Thiện đã
mãn nguyện đến sanh quốc độ đó. Ă NHẪN NHỤC là tịnh
độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh trang nghiêm
ba mươi hai tướng đến sanh quốc độ đó. TINH TẤN là tịnh
độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh siêng
tu mọi công đức đến sanh quốc độ đó. THIỀN ÐỊNH là
tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh
nhiếp tâm chẳng loạn đến sanh quốc độ đó. TRÍ HUỆ là
tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh
được chánh định đến sanh quốc độ đó. TỨ VÔ LƯỢNG
TÂM là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng
sanh thành tựu Từ Bi Hỉ Xả đến sanh quốc độ đó. TỨ
NHIẾP PHÁP là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật,
nhiếp chúng sanh tu giải thoát đến sanh quốc độ đó. PHƯƠNG
TIỆN là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng
sanh nơi tất cả phương tiện vô ngại đến sanh quốc độ
đó. BA MƯƠI BẢY PHẨM TRỢ ЀO là tịnh độ của Bồ Tát,
khi Bồ Tát thành Phật, người tu tứ niệm xứ, tứ chánh
cần, tứ thần túc, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát
chánh đạo đến sanh quốc độ đó. HỒI HƯỚNG TÂM là tịnh
độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, được tất cả
quốc độ công đức viên mãn. GIẢI THOÁT BÁT N€N là tịnh
độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, trong quốc độ
chẳng có tam ác, bát nạn. TỰ GIỮ GIỚI H€NH, CHẲNG KHINH
CHÊ NGƯỜI PHÁ GIỚI là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát
thành Phật, trong quốc độ chẳng có danh từ Phạm Giới Cấm.
THẬP THIỆN là tịnh độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật,
chúnh sanh chẳng chết yểu, lại được giàu sang, quyến thuộc
chẳng chia lìa, thanh tịnh hạnh, lời nói thành thật, thường
dùng lời dịu dàng, khéo giải hòa người kiện cáo nhau, lời
nói ra ắt hữu ích, chẳng ganh tỵ, chẳng sân hận, đầy
đủ chánh kiến v.v... đều đến sanh quốc độ đó. Như thế
Bửu Tích! Bồ Tát tùy theo TRỰC TÂM mà khởi hạnh, tùy theo
sự khởi hạnh thì được THÂM TÂM, tùy sự thâm tâm thì
ý được điều phục, tùy sự điều phục thì được nói
và hành như một, tùy sự nói hành như một thì hay hồi hướng,
tùy sự hồi hướng thì có phương tiện, tùy sự phương tiện
được thành tựu chúng sanh, tùy sự thành tựu chúng sanh thì
cõi Phật trong sạch, tùy cõi Phật trong sạch thì thuyết pháp
trong sạch, tùy sự thuyết pháp trong sạch thì trí huệ trong
sạch, tùy sự trí huệ trong sạch thì tâm họ trong sạch,
tùy tâm trong sạch thì tất cả công đức trong sạch. Cho nên
Bửu Tích! Nếu Bồ Tát muốn đắc tịnh độ, nên tịnh tâm
họ, tùy nơi tâm tịnh thì Phật độ tịnh. Bấy giờ Xá Lợi
Phất thừa oai thần của Phật mà nghĩ rằng: Nếu Bồ Tát
tâm tịnh thì Phật độ tịnhế. Vậy Thế Tôn khi còn làm
Bồ Tát, tâm ý bất tịnh sao, mà Phật độ bất tịnh như
thế! Phật biết Xá Lợi Phất nghĩ vậy liền bảo rằng:
Ý ngươi thế nào? Nhật nguyệt bất tịnh ư mà kẻ mù chẳng
thấy? Bạch Thế Tôn! Ấy là lỗi của người mù, chẳng phải
lỗi của nhật nguyệt. Xá Lợi Phất! Vì chúng sanh có tội
chướng nên chẳng thấy quốc độ nghiêm tịnh của Như Lai,
chứ chẳng phải lỗi của Như Lai. Xá Lợi Phất! Tịnh độ
ta đây mà ngươi chẳng thấy. Lúc ấy, Loa Kế Phạm Vương
nói với Xá Lợi Phất rằng: Chớ nghĩ như thế, cho cõi Phật
đây là bất tịnh. Tại sao? Tôi thấy cõi Phật của Thích
CA Mâu Ni thanh tịnh như Tự Tại Thiên Cung. Xá Lợi Phất nói:
Sao tôi thấy cõi này toàn là gò nỗng, hầm hố, chông gai,
sỏi sạn đất đá, núi non nhơ nhớp đầy dẫy như thế!
Loa Kế Phạm Vương nói: Ðấy là do tâm của Ngài có cao thấp,
không nương theo trí huệ của Phật nên thấy cõi này chẳng
thanh tịnh đó thôi. Thưa Ngài Xá Lợi Phất! Bồ Tát đối
với tất cả chúng sanh thảy đều bình đẳng, thâm tâm thanh
tịnh, y theo trí huệ của Phật thì mới thấy được cõi
Phật này thanh tịnh. Lúc đó, Phật dùng ngón chân nhấn xuống
đất, tức thì Tam Thiên Ðại Thiên Thế Giới liền hiện
ra vô lượng thất bửu trang nghiêm, cũng như cõi vô lượng
công đức bửu trang nghiêm của Phật Bửu Trang Nghiêm. Tất
cả đại chúng tán thán việc chưa từng có và đều thấy
mình ngồi trên bửu liên hoa. Phật bảo Xá Lợi Phất: Ă Ngươi
hãy xem cõi Phật này nghiêm tịnh chăng? Xá Lợi Phất bạch
Thế Tôn: Vâng ạ! Con xưa nay vốn chẳng thấy chẳng nghe,
nay cõi Phật đều hiện rõ trang nghiêm thanh tịnh. Phật bảo
Xá Lợi Phất: Cõi Phật ta thường thanh tịnh như thế! Nhưng
vì muốn độ người thấp kém, nên thị hiện cõi đầy nhơ
nhớp xấu xa bất tịnh đó thôi. Ví như chư thiên ăn cơm
chung trong một bửu bát, mà tùy theo phước đức của họ
thấy cơm có khác. Cũng thế, Xá Lợi Phất! Nếu người tâm
tịnh bèn thấy cõi này công đức trang nghiêm. Khi Phật hiện
ra cõi này nghiêm tịnh, năm trăm vị trưởng giả đều đắc
Vô Sanh Pháp Nhẫn, tám mươi bốn ngàn người Ðều phát tâm
Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Phật thu nhiếp thần túc,
thì thế giới trở lại như cũ, ba mươi hai ngàn chư thiên
và người biết pháp hữu vi đều là vô thường, xa lìa trần
cấu, được pháp nhãn tịnh, tám ngàn Tỳ kheo chẳng còn chấp
thọ các pháp, kiết lậu đã hết, tâm ý được mở mang.

|