|
cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Tham
Hưởng Thọ
Thì
Cần Gì Xuất Gia
Ðừng
cố tình nói dối, đừng làm những chuyện như "bịt tai mà
ăn cắp chuông."
Người
xuất gia nhất định phải có một nền tảng tu hành cho vững
vàng. Nền tảng vững vàng là gì? Tức là nghiêm thủ giới
luật. Người xuất gia phải cần học thuộc lòng "Tứ Phân
Luận" tức là Luật Sa-di, Luật Tỳ-kheo, Luật Tỳ-kheo-ni,
Kinh Phạm Võng, v.v... rồi nghiên cứu tường tận, thì mới
đủ tư cách làm người xuất gia.
Nếu
nền tảng không vững vàng, suốt ngày hết nghĩ đến tiền
bạc lại nghĩ đến sắc dục thì "thân tuy xuất gia, nhưng
tâm không nhập đạo." Như thế thì xa cách đạo trăm ngàn
dặm. Những người xuất gia nầy ở trong Phật-giáo làm chuyện
bại hoại, không thể thừa nhận họ là người xuất gia đặng.
Người
xuất gia không được đi phan duyên cái nầy, đi phan duyên
cái khác, cũng không được đơn độc đi ở một ngôi chùa
nhỏ, kêu cư sĩ lại hộ pháp. Ðơn độc tiếp thọ đồ cúng
dường, hành vi như vậy không hợp với qui luật của đức
Phật chế định. Nếu như mình có những hành vi nầy, thì
phải mau mau sửa đổi, bởi vì:
Thí
chủ nhất lạp mễ, trọng nhược Tu Di Sơn.
Thực
liễu bất tu Ðạo, bì mao đãi giác hoàn.
Nghĩa
là:
Hạt
gạo thí chủ cho, nặng bằng núi Tu Di.
Ăn
xong chẳng tu Ðạo, đeo sừng, đội lông trả.
Thuở
xưa người chân chính tu đạo, ở nhà tranh, tự mình cày ruộng,
tự mình ăn; tuyệt đối không nhờ vào ngoại duyên. Vì mục
đích diệt lòng tham, nên họ ở nhà lá mà tu hành. Hoặc giả
họ bế quan, vì muốn làm cho học vấn và đạo đức mình
được chắc thật. Nếu như chân chính tu Ðạo, thì có thể
ở một mình đơn độc, nhưng không thể đơn độc tiếp thọ
sự cúng dường của cư sĩ. Làm vậy là đem Chính-pháp biến
thành Mạt-pháp, cũng là phá hoại Phật-giáo.
Hiện
tại người tu hành thích đơn độc tu ở nơi tịnh xá. Tại
sao vậy? Bởi vì nếu họ không giữ giới luật thì chẳng
có người nào thấy, phạm qui củ cũng không có ai biết được,
có thể tùy tâm sở dục, muốn làm gì, chẳng có ai quản
thúc, được tự do tự tại, có thể nói rằng không có ràng
buộc gì cả. Hoặc giả có kẻ khác thì ở trong tịnh xá
của mình chiêu tập một số cư sĩ, lại nói là làm pháp
này hội nọ, nhưng thực tế chỉ là mượn áo nhà Phật,
nhờ vào danh Phật để kiếm miếng ăn mà thôi.
Có
những người xuất gia, không dùng tiền cúng dường của cư
sĩ vào những việc Phật sự, ngược lại lợi dụng tiền
đó đi mua những vật xa xỉ, xe hơi, làm những điều ích
lợi riêng tư. Hoặc giả là mua T.V., rồi ngày ngày coi T.V.,
quên lãng cả việc tụng kinh sớm tối. Hoặc giả là mua tủ
lạnh để chứa những thức ngon vật lạ. Nói tóm lại, họ
đắm trước sự hưởng thụ, tham đồ vật, tham sung sướng.
Phong khí hiện tại chính thật là như vậy. Họ đem tính chất
khổ hạnh của Phật-giáo hoàn toàn biến cải, thật là cô
phụ sự khổ tâm của Ðức Thích Ca Mâu Ni Phật xưa kia vậy!
Có
người nói: "Sinh ra trong thời đại nầy, mình cần phải coi
T.V., cần phải biết tin tức quốc tế, nếu không thì là
đui mù, câm điếc không biết gì cả." Bạn biết những chuyện
ngoài đời rồi thì sao? Biết được chuyện ngoài đời, đến
lúc chết có tránh được chăng?
Có
người lại nói: "Người tu hành có thể tránh được cái
chết hay sao?" Bạn tu hành, tới khi chết cũng phải chết,
song trước khi chết tâm mình sáng suốt, tuyệt đối không
phiền não, không rối ren, an nhiên mà chết. Nếu mình không
tu hành, tới lúc chết thì cũng chết vậy; nhưng chết một
cách hồ đồ, mơ màng, mê muội. Không nhớ nam, cũng nhớ
bắc, lòng không thanh tịnh, ôm hận mà chết. Ðó là chỗ
khác biệt, quý-vị có biết chăng?
Ðối
với người tu hành chân chính, lúc chết tâm họ rất sáng
suốt, biết mình từ đâu tới và sẽ đi về đâu; rõ ràng
không có mơ hồ gì cả, không quên đi bản lai diện mục của
mình. Người không tu hành lúc tới thì mơ màng, khi đi thì
lại càng hồ đồ, cả một đời mê muội. Họ không biết
gì lý do gì mình tới, rồi vì sao đi. Cũng không biết từ
đâu lại, rồi đi về đâu. Hoàn toàn mù mịt.
Mục
đích xuất gia là liễu sinh thoát tử, không phải vì hưởng
thụ. Nên khi đã đi tu rồi cần gì tham lam vật chất hưởng
thụ? Có lòng tham hưởng thụ thì cần gì xuất gia? Tôi chủ
trương rằng bất luận ai muốn đơn độc trụ một ngôi ch@¹a
nhỏ để tìm cách hưởng thụ, thì chi bằng hoàn tục cho
rồi. Bởi vì sao? Bởi vì hoàn tục so với đơn độc trụ
mṀt chùa nhỏ tốt hơn nhiều, không tạo nên những tội
nghiệp vừa kể. Ðiểm đó hy vọng quý-vị đại chúng chú
ý.
Nói
rằng người tu hành đơn độc trụ nơi một chùa nhỏ mục
đích không phải là để tu hành mà tại tham đồ hưởng thụ
cúng dường, câu nói đó nhất định có nhiều người không
muốn nghe. Tôi không cần biết quý-vị có muốn nghe hay không,
tôi vẫn nói vì nghĩ đến tiền đồ của Phật-giáo. Nên
chi nói ra, khiến người khác khó chịu. Thêm một lần nữa:
"Phàm là người xuất gia thích hưởng thụ, không có sự tu
trì, thì bất quá chỉ đội lốt thầy tu thôi." Hy vọng các
đạo hữu khuyến khích lẫn nhau, nhắc nhở lẫn nhau, đừng
cố tình nói dối, đừng làm chuyện như "Bịt tai mà ăn cắp
chuông." Lấy vải thưa che mắt thánh.
Giảng
ngày 11 tháng 11 năm 1983
Người
Xuất Gia
Phải
Tụng Ba Bộ Kinh
Nếu
bạn lý hội cảnh giới ba bộ kinh này thì mới không uổng
làm tín đồ Phật-giáo.
Ba
bộ kinh đó là gì? Ðó là Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm,
và Kinh Pháp Hoa. Ba bộ kinh nầy là do Ðức Thích Ca Mâu Ni
Phật kim khẩu nói ra, Ngài A-Nan Tôn Giả thuật lại, sau đó
viết lên lá bối hầu lưu truyền trong thế gian, trở thành
bộ kinh điển mà người Phật-giáo đồ phải học và tụng.
Người
xuất gia và tại gia ở Vạn Phật Thánh Thành đều phải học
tụng thuộc ba bộ kinh nầy. Tối thiểu là thuộc Kinh Lăng
Nghiêm, hoặc là hai bộ hoặc là ba bộ, đó là điều lý tưởng.
Nếu như liễu giải kinh nghĩa, không thể chỉ ở trên mặt
chữ thôi, nếu như không cầu sự thâm giải thì không ích
lợi gì. Nếu như bạn có thể lý hội được cảnh giới
của ba bộ kinh nầy thì mới không uổng làm một tín đồ
Phật-giáo.
Lúc
Phật ba mươi tuổi thì Ngài ngồi dưới cội bồ-đề đắc
thành chánh giác. Suốt hai mươi mốt ngày nhập định, Ngài
vì Pháp Thân Ðại-sĩ mà thuyết bộ Kinh Ðại Phương Quảng
Phật Hoa Nghiêm; bộ kinh nầy bao quát tam tạng mười hai bộ,
thuyết rõ cảnh giới viên dung vô ngại của vạn sự vạn
vật trên vũ trụ này, cũng có thể gọi là "Cảnh giới của
nhất chân Pháp-giới."
Lúc
Phật sáu mươi hai tuổi, Tôn-giả A-Nan do quá chú trọng đến
học vấn, đa văn, xao lãng chuyện tu trí nên Tôn-giả không
may bị cô con gái của bà Ma Ðăng Già dùng chú của trời
Phạm Thiên làm khốn, thiếu chút nữa là phá giới thể. Phật
phải dùng thần Chú Lăng Nghiêm cứu Ngài A-Nan thoát khỏi
nữ nạn, rồi thuyết Kinh Ðại Phật Ðảnh Thủ Lăng Nghiêm
cho Ngài A-Nan. Kinh nầy là kinh khai trí huệ, hiển minh đạo
lý. Nếu khai triển chân lý trong kinh, nhất định trí huệ
của ta sẽ bao la, rộng lớn như biển cả.
Lúc
Phật bảy mươi hai tuổi thì Ngài ở trên núi Linh Sơn trong
Hội Pháp Hoa, vì các bậc đại A-La-Hán, đại Bồ-tát, diễn
thuyết đạo lý "Một Phật Thừa", cũng là đạo lý làm thế
nào thành Phật. Lúc bấy giờ do những người theo pháp Tiểu-thừa
bỏ tâm hướng nhỏ hẹp đổi ra chí hướng rộng rãi, được
chư Phật thọ ký tương lai thành Phật, nên Kinh Diệu Pháp
Liên Hoa được xem là Kinh dạy thành Phật.
Nếu
kẻ tu bắt chước học sinh, hết lòng chăm chỉ đọc sách,
thì Tam-tạng mười hai bộ kinh rất dễ học thuộc. Song sau
khi xuất gia có kẻ tưởng rằng mình đã đầy đủ rồi,
rằng niệm Phật, tham thiền, học Giáo, trì giới, trì chú
là đủ rồi, do đó không học hỏi kinh điển, bởi vì họ
xem nhẹ tính chất trọng yếu của chuyện học kinh. Nên kẻ
đời sau thì không bằng người đời trước; tạo thành tập
quán biếng nhác. Ðó chính là điều bất hạnh của Phật-giáo.
Nếu như mình không cấp thời chỉnh đốn lại quan niệm sai
lầm đó, thì tiền đồ Phật-giáo không biết sẽ đi về
đâu.
Giảng
ngày 12 tháng 11 năm 1983
Bốn
Ðạo Tràng ở Tây-Phương: Mỹ và Gia-Nã-Ðại
Bốn
Ðại Bồ-Tát đến Phương-tây để hoằng dương Phật-pháp,
giúp đạo Phật phát triển rực rỡ.
Ở
Trung Hoa có bốn đạo tràng:
1.
Núi Ngũ Ðài tại tỉnh Sơn Tây là đạo tràng của Ngài Văn
Thù Sư Lợi Bồ-tát.
2.
Núi Nga My tại tỉnh Tứ Xuyên là đạo tràng của Ngài Phổ
Hiền Bồ-tát.
3.
Núi Cửu Hoa tại tỉnh An Hội là đạo tràng của Ngài Ðịa
Tạng Bồ-tát.
4.
Núi Phổ Ðà tại tỉnh Triết Giang là đạo tràng của Ngài
Quán Âm Bồ-tát.
Bây
giờ ở Mỹ và Gia-Nã-Ðại (Canada) là hai nước lớn cũng
có bốn đạo tràng thuộc về Tổng-hội Phật-giáo Pháp-giới,
đây là căn cứ địa để hoằng Pháp.
1.
Vạn Phật Thánh Thành là đạo tràng của Ngài Quán Thế Âm
Bồ-tát, tôn Quán Thế Âm Bồ-tát làm chủ, Ðịa Tạng Bồ-tát
làm phụ.
2.
Ở Los Angeles là đạo tràng của đức Ðịa Tạng Bồ-tát,
tôn Ngài Ðịa Tạng Vương Bồ-tát làm chủ, Quán Thế Âm
Bồ-tát làm phụ.
3.
Tại Seatle là đạo tràng của Phổ Hiền Bồ-tát, tôn Phổ
Hiền Bồ-tát làm chủ, Văn Thù Bồ-tát làm phụ.
4.
Tại Vancouver là đạo tràng của Văn Thù Bồ-tát, tôn Ngài
Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát làm chủ, Phổ Hiền Bồ-tát làm phụ.
Bốn
đại Bồ-tát đến phương tây để hoằng dương Phật-pháp,
giúp Phật-giáo phát triển rực rỡ. Mỗi người, ai tin Phật-giáo
thì có thể tiêu trừ tham, sân, si (tam độc). Không tham, không
sân, không si thì tâm địa sẽ sáng suốt, thế giới sẽ hòa
bình, mãi mãi không còn chiến tranh nữa.
Những
ai muốn triều bái Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát thì mời tới Vancouver.
Nếu muốn triều bái Phổ Hiền Bồ-tát thì mời tới Seatle.
Nếu muốn triều bái Quán Thế Âm Bồ-tát thì mời tới Vạn
Phật Thánh Thành. Nếu muốn triều bái Ðịa Tạng Vương Bồ-tát
thì mới tới Los Angeles. Hy vọng các Phật-tử có tâm kiên
thành cung kính triều bái tứ đại Bồ-tát, và dụng công
tu học Phật-pháp.
Xuất
Gia là Chuyện
của
Bậc Ðại Trượng Phu
Ðại
trượng phu là kẻ có tinh thần kiên nhẫn không thối lui,
khắc phục hết mọi gian khổ.
Ở
đời, xuất gia là chuyện hết sức hy hữu, cũng là chuyện
con người khó thấu đáo. Vì sao xuất gia thì nhất định
phải chịu khổ? Bởi vì xuất gia thì không còn làm chuyện
nam nữ luyến ái, không được khiêu vũ, và cũng không được
ăn uống chơi bời nhậu nhẹt. Phàm nếu muốn trở thành bậc
xuất chúng anh tài thì phải nhẫn chịu những điều người
khác không thể nhẫn chịu được, phải chấp nhận nổi khổ
mà người khác không thể nhận nổi. Chỉ có tu luyện như
vậy mới thành thân kim cang bất hoại. Cho nên nói:
Bất
kinh nhất phiên hàn triệt cốt,
Chẩm
đắc mai hoa phổ tỷ hương?
Nghĩa
là:
Không
qua một lần lạnh thấu xương,
Sao
đặng hoa mai nở ngát hương?
Người
xuất gia tâm cần chuẩn bị: Xuất gia là vì muốn liễu sinh
thoát tử; muốn vĩnh viễn không còn thọ nổi khổ của sinh
tử luân hồi. Dù đối diện với đủ thứ khổ ải vẫn
không lo sợ, càng khổ càng tốt. Khi đụng đến đau khổ
chớ đầu hàng, cải biến ý hướng ban đầu, tìm cách trở
đầu thối chuyển. Mình cần phải có tinh thần kiên nhẫn,
bất thối, phải khắc phục mọi khổ sở gian nan, đó mới
là bậc đại trượng phu. Cho nên xuất gia không phải là chuyện
mà mọi người ai cũng làm được, dù là tướng tá chưa chắc
đã làm đặng. Do đó nói rằng: "Xuất gia là chuyện của
thần thánh," không phải là chuyện của những thứ ruồi muỗi
tép riêu. Có câu rằng:
Thọ
khổ tức liễu khổ, hưởng phước thị tiêu phước.
Nghĩa
là:
Chịu
khổ mới hết khổ, hưởng phước là tiêu phước.
Quý-vị
coi các vị cao tăng đại đức thời xưa đều do tu khổ hạnh
mà giác ngộ. Không vị Tổ-sư nào do sự hưởng thọ sung
sướng mà khai ngộ cả. Quý-vị lùng khắp bộ Ðại Tạng
Kinh cũng không tìm được vị nào cả.
Chúng
ta cần phải có tâm nhẫn nại thì mới được lợi ích nơi
pháp hỷ sung mãn. Phải có tâm khắc khổ thì mới đắc trí
huệ giác ngộ. Không thể đi ngược lại với Phật-đạo.
Mình phải luôn luôn nhiếp tâm chuyên ý dụng công, đem tâm
niệm thu hồi trở lại, không có vọng tưởng vẫn vơ, đó
chính là quản thúc "tâm như ngựa, ý như khỉ." Ðừng để
tâm mình chạy theo ngoại cảnh.
Khi
xuất gia tu Ðạo thì trước hết phải trừ khử lòng tham,
phá bỏ sân hận, diệt đi si mê. Tận trừ sạch sẽ ba thứ
độc đó thì trí huệ tự nhiên hiện tiền. Làm sao có thể
quét sạch những thứ đó một cách triệt để? Tức là dùng
Giới, Ðịnh, Huệ (tam vô lậu học) để làm công cụ. Giới
thì trị được tham, Ðịnh thì trị sân, huệ thì trị si.
Cho nên người xuất gia gọi là "Sa-Môn." Sa-Môn dịch ra nghĩa
là "Cần Tức," tức là "Cần tu Giới, Ðịnh, Huệ, tức diệt
tham, sân, si." Tức là siêng năng giữ Giới, Ðịnh, Huệ, trừ
diệt tham, sân, si. Nếu mọi người ai cũng hết tham sân si,
thì thế giới sẽ hòa bình.
Giảng
ngày 18 tháng 11 năm 1983
Phật
Tánh Là Bổn Nguyên
Của
Tất Cả Chúng Sanh
Lúc
ban sơ, vũ trụ mênh mông, bắt đầu khai thiên lập địa,
thời chẳng có người, chẳng có chúng sinh, chẳng có thế
giới, căn bản chẳng có gì cả. Nhưng từ từ đến cái kiếp
thành thì bắt đầu có chúng sinh. Thử hỏi chúng sinh từ
đâu lại? Có người nói từ nơi loài khỉ tiến hóa mà thành.
Nhưng khỉ từ đâu tiến hóa ra? Nếu như loài khỉ tiến hóa
thành người, thì sao bây giờ không thấy các loài khỉ tiếp
tục biến thành người? Ðây chẳng qua là học thuyết của
những kẻ không có trí thức. Nếu như thế tại sao họ không
nói rằng người có thể do chuột biến thành, hoặc là những
con vật đầy lông lá tiến hóa ra! Làm sao họ có thể biết
rằng con chuột không phải là loài người biến thành? Tất
cả những loại bay, nhẩy, lội dưới nước, động vật,
thực vật; cho đến những loài có cánh trên trời; dưới
biển những loài cá, cua, tôm, ếch cùng loài người là những
có khí huyết; hoặc là loại thảo mộc. Tổ tiên các thứ
phi, tiễn, động, thực ở đâu mà ra? Tất cả đều lưu xuất
từ nơi Phật tánh.
Ở
trong trời đất thì thiên địa có cái đặc tính là sinh sinh
bất tức, hóa hóa vô cùng; không ngừng sinh hóa. Bởi vì có
Phật tánh, nếu không có Phật tánh mọi thứ đều bị hủy
diệt, chỉ có Phật tánh là trải qua trăm ngàn vạn năm mà
không diệt, luôn luôn trường tồn. Bởi vì do Phật tánh nên
mới có biến hóa thành mười Pháp giới. Mười Pháp giới
này cũng không ngoài cái niệm tâm, cái niệm tâm này tức
là Pháp tánh, cũng là một cái tên khác của Phật tánh; cho
nên con người do Phật tánh mà biến hóa thành, súc sinh do
con người đọa lạc mà thành, trong mười pháp giới này mình
có thể thấy một cách rõ ràng vậy. Kẻ ngu si thì cho rằng
tổ tiên người là loài khỉ, Hồi giáo nói rằng tổ tiên
là heo, Ấn Ðộ cho bò là thần; đó tức là biên kiến; chỉ
biết chỉ biết một chút mà không biết toàn thể một cách
triệt để, làm thế giới trở thành mê hoặc. Những người
đó còn viết sách lập thuyết, có kẻ nói rằng khoa học,
có kẻ nói rằng triết học, phân chia môn loại. Kỳ thật
đó chính là nhàn cư vi bất thiện, ăn xong thiếu chuyện làm,
nên mới nói những chuyện mê hoặc kẻ khác. Cứu cánh, như
vậy con người ở đâu mà có? Quý vị coi thử con gà ở đâu
mà ra? Con gà có trước hay trứng có trước? Nếu không có
gà thì làm sao có trứng, mà nếu như không có trứng thì cũng
không thể có gà được! Ðó là chuyện của con gà không ra
cái lý tự nhiên của nó. Như con người thì đàn ông có trước
hay đàn bà có trước? Như đàn ông có trước thì đàn ông
từ nơi bụng mẹ mà ra, nếu như đàn bà có trước thì phải
có đàn ông mới có thai được. Bởi vì thời gian trải qua
lâu dài, loài người chúng ta quên đi chuyện này như thế
nào, không ai tìm hiểu nữa.
Vạn
sự vạn vật, căn bản đều là do nơi Phật Tánh, tự 'có'
mà hóa thành 'vô', từ nơi vô mà biến thành 'có', sinh sinh
bất tức, hóa hóa vô cùng; cho nên càng hóa thì càng nhiều,
giống như những thứ sâu bọ nẩy nở trong gạo vậy, càng
ngày càng nhiều. Ở nơi cái chỗ vô tình mà sinh ra hữu tình.
Phật Tánh thì có thể từ nơi không biến thành có, biến
ra tất cả các loài chúng sinh, nhân loại cũng là cái đạo
lý như vậy. Nếu như khỉ biến thành người, cái lý thuyết
này hoàn toàn không lập luận được. Nếu mình coi trên thế
giới mỗi quốc gia, mỗi loại người, có người da đen, vàng,
trắng, đỏ đủ thứ mầu da. Những người đó thì do đâu
mà biến ra? Nói đi nói lại thì cũng không tìm ra được nguyên
thủy của nó. Nếu mình quy vào Phật Tánh, từ nơi không biến
thành có, rồi nơi có biến thành không, hóa hóa vô cùng sinh
sinh bất tức, thì lý luận này có thể nói một cách thông
suốt được mặc dù ít người có trình độ để hiểu nó.
Con người từ nơi chỗ không mà biến thành có, và chúng sinh
cũng vậy. Bây giờ những kẻ tu Ðạo thì phải ra sao? Tức
là từ có mà biến thành không, gọi là phản bổn hoàn nguyên,
quay về cái chỗ bản hữu Phật Tánh. Có người hỏi như
vậy thì công dụng gì? Thử hỏi, ngược lại làm người
thì có công dụng gì? Mình quay về với Phật Tánh, đó tức
là thành Phật Ðạo. Phật Tánh thì trường tồn, nếu khi
chúng sinh đều chết hết cả rồi, thì Phật Tánh mãi mãi
vẫn còn mà không bị mai một. Quí vị hỏi tại sao tôi nói
như vậy? Bởi vì hôm nay là ngày vía đức Ðịa Tạng. Ngài
là người có sức nguyện lực, khiến cho tôi nói điều đạo
lý chân thật, căn bản làm người cho quý vị nghe, đó tức
là 'Tự vô hóa hữu, tự hữu hóa vô', nếu các vị không
thì thử hỏi tại sao trong gạo mà sinh ra các loại sâu bọ
được? Con người ở trên đời cũng giống như loài sâu bọ
vậy, bất quá con người có tri giác, có linh tánh đặc biệt
hơn sâu bọ mà thôi; tuy nhiên, nếu đem so sánh với Phật
thì chúng ta khác với Ngài xa lắc. Nếu đem so sánh chúng sinh
với Phật thì cũng như so sánh sâu bọ với loài người vậy.
Nếu
chúng ta hiểu được như thế, thì phải tu hành. Tu thì phải
giữ tâm quân bình, giống như cái cân vậy, lúc nào cũng bình
bình, tĩnh tĩnh; ở trong tự tánh, không một gợn sóng. Nếu
như các vị thật sự hiểu Phật Pháp, thì tôi có thể cùng
với các vị đàm luận Phật Pháp, nghiên cứu làm thế nào
để tu Ðạo, nếu các vị không thật sự hiểu, chạy theo
chuyện ham danh háo lợi, không chịu buông bỏ tiền tài, sắc
đẹp, danh lợi, ăn uống và ngủ nghỉ, không chịu buông bỏ
những thứ đó thì làm sao tôi có thể cùng với các vị đàm
luận Phật Pháp được. Các vị phải cảnh tỉnh, cảnh tỉnh!
Giảng
ngày 13 tháng 9 năm 1982
Số
Không Là Bí Quyết Ðể
Phản
Tỉnh Hoàn Nguyên
Ở thiền đường,
những kẻ đủ tư cách tham thiền, biết được chút ít mùi
vị thiền thì không cần nói gì với họ nữa.
'Phàm hữu ngôn
thuyết đô vô thật nghĩa'
nghĩa rằng:
'Nếu còn ngôn
ngữ đều là không thật nghĩa'
Tuy nhiên, đói
với những kẻ sơ cơ không thể hoàn toàn không nói, nếu
không nói mình sẽ đi vào chỗ cực đoan. Cho nên nói để
làm chỗ cho quý vị dựa vào rồi tham thiền, đặng mở khai
tâm địa. Tham thiền bí quyết là phải khiến tâm chuyên nhất.
Vì vậy nói rằng:
'Thiên đắc nhất
dĩ thanh,
Ðịa đắc nhất
dĩ ninh.
Nhân đắc nhất
dĩ thánh.
Vạn vật đắc
nhất các chính tính mạng'
nghĩa là:
'Trời được
Một nên thanh.
Ðất được Một
nên yên.
Người được
Một thành Thánh.
Mọi sự được
Một mới chính là nó'
Nhất, số một,
là nguyên thủy của vạn vật, tuy nhiên nó chưa phải là pháp
cứu cánh. Tuy nói rằng:
'Ðắc nhất vạn
sự tất.'
Nghĩa là:
'Khi được con
số một, vạn sự đều xong.'
Nhưng nếu chấp
trước vào cái này thì mình sẽ tự nhiên sinh ra hai, ba, bốn,...
đó không phải là cảnh giới chân không. Thế nào là chân
không? Có nghĩa là số không. Cái số không này giống như
vòng tròn vậy, không lớn không nhỏ, không có trong, không
có ngoài, không có trước cũng chẳng có sau; không rơi vào
mà cũng chẳng rớt ra. Tuy nhiên, tất cả số mục không ly
khai số không này.
Người tu hành
chính là tự nơi số một mà quay về số không, ở nơi số
không mình có thể phát sinh vô lượng vô biên tác dụng. Tuy
nói rằng 'Ðắc nhất vạn sự nhất', nhưng khi tới được
số không này rồi thì số một cũng không còn nữa. Ðó chính
là:
'Nhất Pháp bất
lập, vạn lự giai không.'
nghĩa là:
'Chẵng lập Pháp
gì, mọi tư tưởng đều không'
Ðó là cứu cánh
giải thoát vậy.
Nếu muốn tới
số không, thì trước hết phải chuyên nhất cái tâm của
mình, đừng khởi vọng niệm, tâm thể chuyên nhất thì mới
có cảm ứng. Cho nên chúng ta thường nghe nói: 'Cảm ứng đạo
giao nan tư nghị' là vậy.
Chuyên nhất thì
mới đến được chỗ không. Muốn chuyên nhất là chuyện
không phải dễ. Muốn trở về số không lại càng khó khăn
hơn nữa. Tuy gặp khó khăn chẳng lẽ mình không tham thiền
sao? Nếu không tham thiền thì vĩnh viễn mình không thành đạo.
Cái số không là mẹ của vạn Phật, nó là bổn nguyên của
chư Phật vậy. Cho nên các vị học tọa thiền, đầu tiên
phải học thế ngồi kiết già. Nếu như chân đau tê cứng,
không chịu được, thì mình có thể phương tiện ngồi bỏ
hai chân xuống, sau đó một thời gian thì phải tập ngồi
bán già, ngồi bán già nếu chân không còn đau như trước
thì phải tập ngồi kiết già. Khi ngồi kiết già vững rồi,
chân không đau thì lúc đó mình mới bắt đầu tham thiền
để phá bỏ vô minh. Người tu đạo, ăn mo mặc ấm đã đầy
đủ, hết chuyện làm, nên tham thiền, đó gọi là du hí nhân
gian. Tham thiền thì phải tham thoại đầu. Tham thiền tức
là tham cứu niệm trước khi nó sinh ra, không phải là thoại
vĩ. Thoại vĩ tức là niệm đã sinh ra rồi. Cho nên cái niệm
chưa sinh thì gọi là thoại đàu. Thoại đàu phổ biến nhất
là câu 'Niệm Phật là ai?' Chữ 'ai' này chính là cái mà mình
phải tham. Tưởng tượng như mình có cái khoan, bây giờ mình
lấy nó ra mà khoan, mà đục, dùi mài nó cho tới lúc đâm
thủng được núi đá. Tìm coi 'ai' là người niệm Phật cũng
vậy. Tham lui tham tới mãi cho đến khi đâm thủng được núi
vô minh. Thì lúc đó mình sẽ khai ngộ. Nhưng không phải dụng
tâm ý thức mà tham thiền, không phải dụng tư tưởng mà
suy nghĩ, phải dụng cái tâm chưa hề dùng tới, chưa hề biết
qua bao giờ. Khi phá thủng được cái bổn tham của mình, thì
sẽ khai ngộ, hư không sẽ nát vụn, ngũ ấm đều là không.
Nhưng trong Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh có nói rằng:
'Quán tự tại
Bồ Tát,
hành thâm Bát
Nhã,
Ba La Mật Ða
thời
Chiếu kiến
ngũ uẩn
Giai không độ
nhất,
Thiết khổ
ách, Xá Lợi Tử!
Sắc bất dị
không,
Không bất dị
sắc,
Sắc tức thị
không,
Không tức thị
sắc,
Thọ tưởng
hành thức diệc
Phục như thị...'
Khi tham thiền
đến chỗ như vậy thì ngũ ấm đều thành không, lục trần
không còn nhiễm được nơi mình. Ðó chính là bước đầu
tiên để thành Phật; nhưng mình phải khổ công mới được.
Phải biết rằng tham thiền không như niệm Phật. Miệng niệm
'Ai là người niệm Phật? Ai là người niệm Phật? Ai là người
niệm Phật?....' thể như là cầu cứu vậy, là sai lầm. Tham
thoại đầu thì cần phải từ từ dùi mài nó hết sức tế
tâm, miên mật, ở nơi tự tánh mình mà dụng công. Cho nên
gọi là Tham Ngộ. Tham ngộ nghĩa là tham tức là ngộ; muốn
ngộ cần phải tham. Thực ra 'Niệm Phật là ai?' chỉ là một
vọng tưởng. Tuy nhiên mình muốn dụng phương pháp dĩ độc
công độc. Dùng một vọng tưởng chế phục tất cả vọng
tưởng khác. Dùng một niệm mà dẹp trừ tất cả vọng niệm
khác.
Vừa rồi tôi
nói đến số không, số không này là con đường để thành
Phật. Ðối với phàm phu thì đó là không. Sau khi thành Phật
rồi thì nó trở thành:
'Ðại quang
minh tạng, đại viên kính trí.'
Số không này
có thể sinh ra các Pháp, nhưng cũng có thể quét trừ các Pháp.
Nó là gốc để mình phản bổn hoàn nguyên. Cho nên cần ở
số không này mà dụng công phu. Có nghĩa rằng dụng công ở
chỗ cái gì cũng không có. Tất cả các pháp đều do số không
mà sinh, tất cả các pháp đều trở về số không. Cho nên:
'Nhất bổn tán
vạn thù,
vạn thù nãi qui
nhất bổn.'
nghĩa là:
'Một gốc mà
phân ra trăm vạn hình thù,
trăm vạn hình
thù rốt cuộc qui về một gốc.'
Ngày hôm nay tôi
nói điều này cho quí vị nghe không phải là một nhân duyên
nhỏ, mà đây là tiết lộ thiên cơ, tiết lộ cái bí mật
của trời đất. Nói đến cái bổn nguyên của chư Phật.
Ðó là điều kinh thiên động địa, khiếp vía quỷ thần.
Con người làm sao thành Phật? Là khi hiểu số không này. Con
người tại sao đọa địa ngục, bởi vì không hiểu số không
này. Do đó tất cả thiên ma ngoại đạo, sơn yêu thủy quái,
hồ ly tinh, hoàng thù lang, đủ thứ yêu quái, vỉ không hiểu
số không này mới đi ngược lại với Ðạo, rồi đọa lạc.
Số không này
tự nó mà sinh ra các thứ khác, tự nó mới sản sinh ra đủ
thứ biến hóa dị đoan. Tuy rằng hình tướng bất đồng nhưng
gốc lại là một. Phàm phu bởi vì không hiểu nó nên bỏ
gốc theo ngọn, xa rời cái số không này. Dẫu sao tất cả
chúng sanh có Phật Tánh, đều có thể thành Phật. Tạm thời
mình không hiểu, nếu hiểu thì có thể lập tức thành Phật.
Giảng
ngày 11 tháng 11 năm 1982
nhân
ngày Ðả Thiền Thất
********
Tiểu
Truyện
Hòa
Thượng Tuyên Hóa
Hòa
Thượng, pháp danh An Từ, tự Ðộ Luân, là vị Tổ thứ chín
của dòng Thiền Quy Ngưỡng, đắc pháp từ Ðại Lão Hòa Thượng
Hư Vân. Ngoài pháp hiệu Tuyên Hóa, Ngài còn lấy hiệu là
"Mộ trung Tăng" (Nhà sư trong phần mộ). Hòa Thượng nguyên
quán ở huyện Song Thành, tỉnh Kiết Lâm, Mãn Châu. Ngài sinh
vào ngày 16 tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), vào cuối đời nhà
Thanh. Gia đình Ngài họ Bạch, cha tên Phú Hải, mẹ họ Hồ.
Thân mẫu Ngài suốt đời trường trai, niệm Phật. Khi mang
thai, bà thường cầu nguyện chư Phật Bồ Tát, nên đến đêm
trước khi lâm sản, bà mộng thấy Ðức Phật A Di Ðà phóng
đại quang minh, rồi liền sanh ra Ngài.
Từ
thuở ấu thời, Ngài đã theo mẹ ăn chay niệm Phật. Ðến
năm 11 tuổi, vì thấy được việc lớn sanh tử, đời người
quá chóng vánh, nên Ngài phát đại chí quyết xuất gia tu hành.
Năm lên mười năm tuổi, Ngài lạy Hòa Thượng Thường Trí
làm thầy. Ðến năm mười chín tuổi, mẹ Ngài tạ thế, nhân
đó Ngài lên Chùa Tam Duyên xin Hòa Thượng Thường Trí thế
độ xuất gia. Rồi sau đó khoác y, dựng lều bên cạnh mộ
mẹ để báo hiếu. Suốt thời gian ấy, Ngài lạy Kinh Hoa Nghiêm,
lễ sám hối, tu thiền định, tập giáo quán, nghiêm thủ công
hạnh ăn ngày một bữa. Khi công phu thuần thục, Ngài đã
cảm động không biết bao nhiêu dân làng quanh đấy lại lễ
bái, cung kính. Sự tu hành trong sạch với lòng kiền thành
khẩn thiết của Ngài cũng cảm động đến chư Phật, Bồ-tát,
Hộ-pháp Long Thiên khiến không biết bao nhiêu chuyện linh ứng
bất khả tư nghì xảy ra. Vì những chuyện thần dị ấy lưu
truyền khắp nơi, nên Ngài được gọi là "dị tăng."
Năm
1946, Ngài đến tham lễ Hòa Thượng Hư Vân, một vị cao tăng
mà Ngài vô cùng hâm mộ như vì sao Bắc Ðẩu của tông môn
đạo Phật. Lão Hòa Thượng Hư Vân biết Ngài là một vị
long tượng trong cửa Pháp nên liền truyền thọ pháp mạch,
khiến Ngài trở thành người thừa kế, làm vị Tổ đời
thứ chín của dòng Quy Ngưỡng. Tính từ Sơ tổ Ma-ha Ca-Diếp
thì Ngài là truyền nhân thứ bốn mươi sáu vậy.
Năm
1948, Ngài từ biệt Lão Hòa Thượng Hư Vân, lên đường sang
Hương Cảng hoằng pháp, với ý định xiển dương cả năm
phái: Thiền, Giáo, Mật, Luật, Tịnh để phá trừ sự phân
phái chia rẽ. Trong thời gian này, Ngài đã trùng tu nhiều chùa
cổ, in kinh điển, tạo tượng Phật, xây Chùa An Lạc Viên,
Phật Giáo Giảng Ðường, và Chùa Từ Hưng. Ðồng thời Ngài
cũng giảng kinh thuyết pháp khiến Phật-giáo thịnh hành tại
Hương Cảng.
Ðến
năm 1959, Ngài quán sát biết rằng Phật-giáo Phương Tây đã
thành thục, có thể đem đạo lý chân thật của đạo pháp
truyền bá mọi nơi, nên Ngài khiến đệ tử thành lập ở
Mỹ hội "Tổng Hội Phật Giáo Trung Mỹ" (mà sau này đã trở
thành Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới). Ðến năm 1962, đáp
lời thỉnh nguyện của tín đồ ở Mỹ, Ngài đơn thân tới
Mỹ, dựng pháp tràng "Phật Giáo Giảng Ðường" tại Cựu
Kim Sơn.
Năm
1968, Ngài mở khóa hè dạy tu và nghiên cứu Kinh Lăng Nghiêm.
Có hàng chục sinh viên từ Ðại-học Washington ở Seattle xuống
tham gia, học hỏi Phật-pháp. Khi mãn khóa có năm vị người
Mỹ khẩn cầu Ngài thế độ xuất gia, đánh dấu sự khai
mở của Tăng đoàn Phật-giáo Mỹ Quốc. Từ đó về sau những
người Mỹ xuất gia với Ngài càng đông, đem lại ảnh hưởng
vô cùng sâu đậm đối với việc hoằng dương Phật-giáo
tại Tây Phương, cũng như việc phiên dịch kinh điển vậy.
Mỗi
lần giảng kinh thuyết pháp, Ngài đều giảng thâm sâu song
rất dễ hiểu. Mấy chục năm qua Ngài đều thăng tòa thuyết
pháp hơn vạn lần, hàng trăm tập kinh do Ngài giảng đã được
dịch ra Anh ngữ; có thể nói Ngài là người đã khiến cho
kinh sách dịch ra Anh ngữ nhiều nhất.
Năm
1973, Ngài thành lập Quốc Tế Dịch Kinh Học Viện với ý
định đem "Ðại Tạng Kinh" dịch ra nhiều ngôn ngữ khác nhau,
khiến Phật-pháp được truyền bá khắp nơi.
Năm
1974, Ngài sáng lập Vạn Phật Thánh Thành, lập ra Ðại Học
Pháp Giới, Tăng Già Cư-sĩ Huấn Luyện Bang để tài bồi nhân
tài về đạo pháp với trình độ và tiêu chuẩn quốc tế.
Ngài lại sáng lập ra trường Tiểu-học Dục Lương, trường
Trung-học Bồi Ðức, với chủ trương dùng giáo dục để
vãn cứu và sửa đổi nhân tâm. Những năm kế tiếp Ngài
liên tiếp lập ra Chùa Kim Sơn, Chùa Kim Luân, Chùa Kim Phong,
Chùa Kim Phật, Chùa Hoa Nghiêm, Chùa Pháp Giới, Chùa Di Ðà,
Chùa Long Beach, Pháp Giới Thánh Thành, Học Viện Nghiên Cứu
Tôn Giáo Pháp Giới, Chùa Kim Thánh và nhiều đạo tràng khác.
Ngài đã xả mình, không từ lao khổ gian nan, tự mình làm
gương, dạy học thuyết pháp với mục đích làm gương để
đào tạo thế hệ tương lai. Ngài đã hiến dâng Vạn Phật
Thánh Thành để làm "Chỗ Quy-Y Nương-tựa của Tín Ðồ Phật
Giáo Toàn Cầu." Gia phong Vạn Phật Thánh Thành rất nghiêm
túc, tuân giữ sáu tông chỉ mà Ngài đã thực hành tự lúc
xuất gia, đó là: không tranh, không tham, không cầu, không tự
lợi, không ích kỷ, không dối trá. Do sự tu hành cũng như
đạo hạnh của Ngài chiêu cảm, nên Vạn Phật Thánh Thành
đã trở thành một đạo tràng trọng yếu của Phật Giáo
Mỹ Quốc.
Chí
hướng hay phương châm của Ngài nằm trong bài thơ sau:
Dù
lạnh rét, không phan duyên.
Dù
đói chết, không xin xỏ.
Dù
nghèo kiệt, không cầu cạnh.
Tùy
thuận ngoại duyên, song không thay đổi chí-hạnh.
Không
đổi chí-hướng, nhưng vẫn tùy thuận ngoại duyên.
Thế
mới giữ vững ba đại tông chỉ:
Xả
mình vì Phật sự,
Cứu
người là bổn phận,
Sửa
mình làm việc Tăng.
Hễ
gặp việc gì, thấu lý việc ấy.
Hiểu
đạo lý gì, thực hiện lý ấy.
Vậy
mới truyền thừa mạch huyết Tổ-sư.
Sự
thiền định và trí tuệ thâm sâu của Hòa Thượng Tuyên Hóa,
đã thật sự khai mở cho chúng sanh đời mạt pháp một con
đường vĩ đại đưa đến chỗ giác ngộ. Cuộc đời của
Hòa Thượng đã khiến cho chúng ta cảm động, tán thán; ví
như trong đêm tối gặp được ánh đèn Bát-nhã, hay nơi chỗ
mù tịt ngửi đặng mùi hương Phật-pháp, hoặc trong bùn lầy
dơ bẩn khai nở bông sen trong sạch. Chúng ta mới biết được
cảnh giới của bậc đại hành giả thật khó nghĩ bàn.

|