|
cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Mười
Pháp Giới
Không
Ngoài Một Niệm Của Tâm
Mười
Pháp-giới từ đâu lại?
Chính
từ tâm ta hiện tiền một ý niệm ra.
Nhược
nhân dục liễu tri
Tam
thế nhất thiết Phật.
Ưng
quán Pháp-giới tánh,
Nhất
thiết duy tâm tạo.
Nếu
ai muốn thấu rõ
Ba
đời tất cả Phật,
Hãy
quán tánh Pháp-giới,
Tất
cả chỉ tâm tạo.
Nếu
ai muốn thấu rõ: Nếu có ai muốn hiểu biết rõ ràng Ba đời
tất cả Phật, thì phải hiểu chư Phật trong mười phương
trong đời quá khứ, hiện tại, và vị lai đều do người
mà thành.
Hãy
quán tánh Pháp-giới: Hãy quan sát tánh chất của Pháp-giới.
Chúng sinh trong Pháp-giới, ai ai cũng có bản tính. Bạn có
tánh của bạn, tôi có tánh của tôi. Như tánh nóng nảy của
bạn thì dữ dằn hơn tôi một chút, song tánh giận dữ của
tôi thì sâu đậm hơn bạn một chút. Như vậy bạn thấy có
giống nhau chăng? Heo có tánh heo, ngựa có tánh ngựa, đàn
ông có nam tánh, đàn bà có nữ tánh... Ai cũng có tánh riêng.
Kẻ thích ăn ngọt thì có tính hảo ngọt; thích ăn chua, thì
có tính chua chát; thích ăn cay thì có tính nóng nảy; thích
ăn đắng thì có tính chịu đắng. Tu hành là việc có tính
đắng. Cây thì có tính cây, hoa có tính hoa, cỏ có tính cỏ...
Cái gì cũng có tánh riêng. Do đó mới có Tánh của Pháp-giới.
Quý-vị đã hiểu chưa? Khi xưa quý-vị hiểu lầm, cho rằng
tánh của Pháp-giới, bây giờ nên hiểu rằng "tánh của chúng
sinh" ở trong Pháp-giới.
Tất
cả chỉ tâm tạo: Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: Vạn Pháp đều
do tâm tạo ra. Ngay cả Phật cũng do tâm quý-vị tạo ra đó.
Nếu tâm quý-vị tu Pháp Phật thì thành Phật đạo. Nếu quý-vị
thích Bồ-tát hạnh thì tu Bồ-tát đạo, thành một vị Bồ-tát.
Nếu quý-vị lòng muốn đọa địa ngục thì cứ nhắm hướng
địa ngục mà tu thì tương lai sẽ đọa địa ngục. Cho nên
nói: Mười Pháp-giới không rời một niệm tâm này.
(I)
Pháp-giới của Phật
Bất
đại bất tiểu, phi khứ phi lai
Vi
trần thế giới, giao ánh liên đài.
Nghĩa
là:
Không
lớn không bé, chẳng đến chẳng đi.
Thế
giới như bụi, đài sen chiếu nhau.
Bất
đại bất tiểu: Khi lần đầu tôi nghe đến chữ Phạn Buddha,
nó nghe từa tựa như chữ Bất đại (bủ tá) trong tiếng Trung
Hoa. Cái gì không to lớn? Thì là Phật. Nghĩa là Phật không
có lòng cống cao, ngã mạn, không có cái Ngã. Bất tiểu là
nói Phật cũng không nhỏ bé đâu. Nếu không to lớn, mà nhỏ
bé thì không phải là Phật. Phật thì không lớn không nhỏ.
Phi
khứ phi lai: Pháp thân của Phật thì bao trùm tận hư không
biến khắp Pháp-giới; không ở mà cũng chẳng đi. Nếu nói
rằng pháp thân đi, thì đi tới nơi đâu? Nói rằng pháp thân
đến, thì đến chỗ nào? Pháp thân thì vốn châu biến, chẳng
phải chỉ ở tại thế giới của ta mà là ở khắp mọi thế
giới nhiều như hạt bụi. Vô lượng vô biên thế giới đều
có pháp thân Phật, nên nói rằng thân Ngài ở vi trần thế
giới.
Giao
ánh liên đài: Giao ánh diễn tả hào quang của Phật ở Pháp-giới
này chiếu sáng chư Phật ở Pháp-giới kia. Hào quang của Phật
ở Pháp-giới kia lại chiếu sáng Pháp-giới này. Chư Phật
ngự trên đài sen, hổ tương phóng quang động địa, chẳng
những các Ngài dùng sáu căn phóng quang động địa mà mỗi
lỗ chân lông đều phóng quang động địa.
Cũng
trong một chân lông xuất hiện vô lượng vô biên chư Phật,
rồi mỗi một vị Phật ấy lại phóng ra vô lượng vô biên
hào quang. Quang và quang không chút xung đột, mà ngược lại,
hòa hợp. Vì vậy Phật-tử chúng ta phải hòa hợp như ánh
quang minh vậy. Giữa người với người, chớ sinh ra sự xung
đột. Sự giao ánh có nghĩa là ánh sáng của bạn chiếu tới
tôi, ánh sáng của tôi soi tới bạn; quang quang tương chiếu,
hệt như sự tương thông của mỗi lỗ trên võng la tràng (lưới)
ở trời Ðại Phạm Thiên Vương vậy.?nh sáng từ cái võng
ấy, lớp nầy chiếu lên lớp nọ, trùng trùng vô tận. Ðó
là Pháp-giới thứ nhất, Pháp-giới của Phật.
(II)
Pháp-giới của Bồ-tát
Hữu
tình giác ngộ,
Khiêu
xuất trần ai.
Lục
độ vạn hạnh,
Thời
khắc bồi tài.
Nghĩa
là:
Khi
hữu tình giác ngộ,
Hãy
thoát khỏi bụi trần.
Lục
độ vạn hạnh,
Lúc
nào cũng dưỡng dũ.
Hữu
tình giác ngộ: Bồ-tát là tiếng Phạn, dịch là "giác hữu
tình," giác ngộ tất cả hữu tình. Lại còn được hiểu
rằng Bồ-tát là một vị hữu tình đã giác ngộ. Với hai
cách giải thích này chúng ta đều có phần. Bởi vì mình là
một hữu tình chúng sinh, do đó mình có thể làm kẻ giác
ngộ trong chúng sinh. Mình lại có thể dùng đạo lý giác ngộ
để thức tỉnh tất cả chúng sinh. Cũng vậy, Phật ví như
người lớn, còn chúng ta ví như con nít. Mỗi ngày mình phải
uống sữa, phải nghe Pháp, bởi nghe Pháp khiến mình tăng trưởng
thiện căn, đặc biệt làm mình khai trí huệ. Do đó khi có
cơ hội nghe giảng Phật-pháp, cơ hội ấy giá trị hơn bất
kỳ đồng tiền nào mình làm ra. Có được thời giờ để
nghiên cứu Phật-pháp, chẳng phải là tuyệt hảo sao?
Tôi
hy vọng những người ở đây bớt đi du lịch. Vì sao? Bởi
vì du lịch lúc này rất nguy hiểm. Quý-vị xem: cứ mỗi kỳ
hè người tử nạn nào phải chỉ có một, chắc hẳn nhiều
lắm. Do đó, nếu đi du lịch thì biết đâu quý-vị có phần
trong số cố nạn nhân? Ở Mỹ, ai cũng ham vui, thích đi du
lịch. Tín đồ Phật-giáo mình phải cải thiện thói quen ấy.
Ngày nghỉ hè, hãy dành thời gian nghiên cứu Phật-pháp, tụng
Kinh, niệm Chú, lạy Phật là tốt hơn hết.
Bồ-tát
là một vị hữu tình đã giác ngộ. Trong tất cả bậcị
giác ngộ, Ngài là vị hiểu thấu suốt. Trong tất cả vị
hiểu thấu suốt, Ngài là vị tu hành. Trong tất cả vị tu
hành, Ngài là người tu tập rất chân thật.
Khiêu
xuất trần ai: Nếu quý-vị không thông hiểu thì không sao
nhảy thoát ra khỏi bụi trần, bởi vì bụi trần quá dày
đặc nên nhảy không ra nổi. Nếu quý-vị giác ngộ rồi,
thì bụi trần sẽ mỏng lắm, nhảy là thoát ngay. Nhưng nhảy
ra rồi thì làm gì? Phải chăng chỉ có ăn với nghỉ? Ðúng
đó, quý-vị vẫn phải ăn uống, ngủ nghỉ, mặc áo; song
không phải chỉ có thế. Quý-vị chẳng sống vì làm ba chuyện
ấy. Quý-vị sống là để tu Lục-độ-vạn-hạnh. Lục-độ
tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định
và trí huệ. Có người nói: "Tôi biết rồi, bố thí tức
là dạy người ta bố thí cho mình." Không phải đâu! Mình
phải bố thí cho người. Ðừng nên ham tiền. Tiền là thứ
dơ bẩn lắm. Nếu gần gũi nó lâu ngày, quý-vị sẽ dính
phải bụi dơ của nó. Do đó, hễ không tham tiền, bạn sẽ
thanh tịnh, nhảy vọt ra khỏi chốn bụi bặm.
Thời
khắc tài bồi: Chẳng phải ngày nay tu, ngày mai nghỉ tu; năm
nay tu, sang năm ngừng; tháng này tu, tháng sau nghỉ; đời này
tu, đời sau bỏ; phút này tu, phút sau ngủ. Không phải như
vậy đâu! Trong mọi lúc, mọi thời, mọi đời, mọi kiếp,
mình phải tu lục độ vạn hạnh. Nếu đuợc như vậy thì
quý-vị là Bồ-tát rồi đó.
Quý-vị
tưởng rằng làm Bồ-tát dễ lắm sao? Chẳng dễ đâu! Chẳng
những không dễ làm Bồ-tát, ngay cả làm Duyên Giác, Thanh
Văn cũng chẳng dễ. Làm gì dễ dàng nhất? Làm quỷ, đọa
địa ngục, thành thú vật là việc dễ dàng nhất. "Khó" tức
là không dễ. Do vậy, Bồ-tát cần làm những việc khổ hạnh
ai cũng cho là khó làm, nhẫn nhịn những việc khó nhẫn nhịn.
Chẳng phải thấy khó rồi bỏ không làm. Quý-vị hãy dấn
thân tiến bước, bởi vì kẻ tinh tấn tức là Bồ-tát. Chỉ
có vậy. Chẳng có gì xảo diệu hơn đâu. Nếu có thể làm
việc không ai làm đặng, quý-vị mới là Bồ-tát.
(III)
Pháp-giới của Duyên Giác
Duyên
Giác Thánh Hiền,
Cô
phong độc miên.
Xuân
hoa thu tạ,
Thập
nhị liên hoàn.
Nghĩa
là:
Thánh
Hiền đấng Duyên Giác,
Chót
đỉnh một mình ngủ.
Hoa
xuân, thu héo tàn,
Vòng
tròn, mười hai khoen.
Duyên
Giác Thánh Hiền: Duyên Giác là bậc Thánh Hiền, lúc các Ngài
ở thời Phật tại thế thì gọi là Duyên Giác; sau khi Phật
nhập diệt, thì các Ngài được gọi là Ðộc Giác, bởi vì
các Ngài tự mình giác ngộ. Các Ngài thích "cô phong độc
miên," ngủ một mình trên đỉnh chót vót. Xuân hoa thu tạ:
Khi các Ngài ngắm nhìn cảnh "xuân đến, trăm hoa nở; thu về,
lá vàng rơi." Ngài giác ngộ rằng mọi sự, mọi việc trên
đời đều tự nhiên có sinh có diệt. Thập nhị liên hoàn:
Do đó các Ngài quan sát mười hai nhân duyên (hổ tương tiếp
nối sinh diệt giống như mười hai móc khoen của dây xích.)
Mười hai nhân duyên đó như sau:
1.
Vô Minh: Các Ngài quán sát xem vô minh từ đâu ra? Vì sao có
vô minh?
2.
Hành: Khi có vô minh thì có hành động, tức là có sự biểu
hiện, hiện bày. Khi có chỗ hiển bày thì có thức.
3.
Thức: Thức nghĩa là sự phân biệt. Hành tức là pháp hữu
vi. Khi có pháp hữu vi, tâm phân biệt liền sinh khởi. Có tâm
phân biệt thì có chuyện rắc rối rồi đấy!
4.
Danh sắc: Cái rắc rối ấy chính là danh sắc. Danh (hay tên)
thì có rắc rối của danh. Sắc (hình hài) thì có rắc rối
của sắc. Có danh sắc là có rắc rối; có rắc rối chính
vì có danh sắc. Không nói thì chẳng sao, càng nói về nó thì
càng rắc rối. Giảng về nó là kéo ra rắc rối. Khi tôi chưa
giảng, quý-vị vốn không biết, nên không có gì rắc rối.
Một khi tôi giảng ra, quý-vị không hiểu, thì có sự rắc
rối của việc không hiểu. Vì có sự rắc rối do không hiểu
biết, nên quý-vị muốn hiểu. Có ý muốn hiểu biết nên
sinh ra lục nhập (sáu căn).
5.
Lục Nhập: Sáu căn sinh ra là vì muốn hiểu biết. Do đó nên
gọi là tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý tưởng. Vì sao sinh
khởi lục nhập? Vì muốn hiểu biết. Có ai ngờ rằng càng
hiểu biết thì ta càng mê muội, càng mê muội thì càng không
hiểu biết. Ðó là sáu căn.
6.
Xúc: Xúc nghĩa là xúc chạm, tiếp xúc. Khi không hiểu biết
thì ta cứ chạy xúc chạm đủ phía: nào đông, tây, nam, bắc,
trên, dưới. Giống như con ruồi cứ bay đâm chạm vào tường
hoài. Vì sao ta cần xúc chạm? Vì ta muốn hiểu biết.
7.
Thọ: Sau khi tiếp xúc, thì ta có cảm giác, đó là thọ. Khi
không đụng phải việc khó khăn, cảm giác rất thoải mái.
Một khi đụng việc khó, mới thấy khó chịu. Khi không ai
chê mình xấu, mình thấy sung sướng lắm. Tới lúc bị chê,
mới thấy không vui. Ðó tức là thọ, hay cảm giác.
8.
Ái: Khi có cảm giác thì yêu thích, chấp trước sinh ra. Tại
sao người ta có cảm giác bất an? Bởi vì có ái. Có ái, có
yêu thích thì có ghét bỏ, không thích. Ðối với thuận cảnh
thì sinh lòng yêu thích; với nghịch cảnh thì ghét bỏ. Vì
sao mình vui? Vì sao mình không vui? Tất cả đều vì có ái
và ố. ố nghĩa là không yêu thích, ghét bỏ. Vì vậy càng
ngày sự việc càng rắc rối.
9.
Thủ: Ðối với cái gì mình yêu thích, thì sinh tâm muốn nắm
giữ nó, tức là thủ. Thủ là gì? Là chấp trước, muốn
chiếm hữu, nắm giữ. Bởi vì có ái nên mới có lòng muốn
chiếm đoạt.
10.
Hữu: Khi đã chiếm hữu rồi, dục vọng liền thỏa mãn. Vì
sao mình muốn thỏa mãn dục vọng? Vì muốn có nó. Do đó
mới có "hữu" tức là "có."
11.
Sinh: Vì có cái "hữu" nghĩa là "có, hiện hữu," nên cứ muốn
nó thuộc về mình. Khi đã thuộc về mình, thì liền có "sinh."
12.
Lão tử: Hễ có sinh ra thì có già, chết.
Ðó
là mười hai nhân duyên, là Pháp bậc Duyên Giác tu hành.
(IV)
Pháp-giới của Thanh Văn
Thanh
Văn chúng Tăng
Bất
luận nam nữ
Tứ
đế quán hành
ẩn
thật, thị quyền.
Thanh
Văn chúng tăng: Pháp-giới của Thanh Văn gồm có các bậc sơ
quả, nhị quả, tam quả, tứ quả Thanh Văn. Trong đó lại
chia thành: sơ quả hướng (chưa chính thức chứng đắc sơ
quả), sơ quả, nhị quả hướng, nhị quả, tam quả hướng,
tam quả, tứ quả hướng, tứ quả. Hướng có nghĩa là hồi
tiểu hướng đại (bỏ cái nhỏ hướng về cái lớn).
Hàng
Thanh Văn còn được gọi là A-la-hán hay La Hán. Các Ngài có
thần thông có thể phi hành biến hóa. Các vị chứng quả,
không bao giờ tùy tiện thố lộ rằng: "Ta đã chứng quả,
ta là bậc A-la-hán." Ðó là việc không được làm. Khi bậc
Thánh chứng quả, chân họ đi dép chẳng chạm đất. Bạn
thấy họ dường như đi bộ trên mặt đất, nhưng thật ra
họ bước trong hư không, dép không hề chạm đất. Thậm chí
khi đạp trên bùn nhơ, dép họ sạch sẽ vô cùng. Ví như Hòa-thượng
Pháp Thuận, khi Ngài dẫm chân lên bùn lầy lội, giày dép
Ngài chẳng lấm tí bùn nào. Ðó là dấu hiệu của kẻ chứng
thánh quả.
Bậc
sơ quả A-la-hán thì phải cắt đứt những mê muội của cái
thấy (kiến hoặc). Bậc nhị quả thì cần đoạn những mê
hoặc của tâm tư (tư hoặc). Bậc tam quả thì phải đoạn
những mê muội vi tế như cát bụi (trần sa hoặc). Bậc tứ
quả cũng phải đoạn trần sa hoặc và vô minh. Hoặc đoạn
trừ một chút vô minh quét sạch hoàn toàn thì quý-vị sẽ
thành Phật. Do đó các vị Bồ-tát và Duyên Giác vẫn còn
một phần vô minh rất vi tế gọi là sinh tướng vô minh (vô
minh ở trạng thái nẩy sinh) chưa đoạn trừ, do đó các Ngài
chưa thành Phật được. Bậc tứ quả Thanh Văn tu hành pháp
môn gì? Các Ngài tu Tứ Diệu Ðế: Khổ, Tập, Diệt, Ðạo.
Lúc
ban sơ, Ðức Phật Thích Ca tới vườn Lộc Uyển để độ
năm vị Tỳ-kheo. Năm vị này đều là bà con của Ngài. Họ
theo Ngài tu đạo, song không chịu đựng nổi khổ nhọc. Lúc
Ðức Phật Thích Ca ở núi Tuyết Sơn, mỗi ngày Ngài ăn một
hột mè, một hạt mạch, ốm gầy như cây sậy. Ba vị đồng
tu với Ngài, vì chịu không nổi khổ nên bỏ đi, chỉ còn
lại hai vị. Về sau, vào ngày tám tháng chạp, có vị thiên
nữ đem sữa lại dâng Ðức Phật Thích Ca; Ngài liền tiếp
nhận, uống sữa ấy khiến hai vị kia cũng bỏ Ngài đi. Họ
nói rằng: "Tu hành cần phải tu khổ hạnh. Bây giờ Ngài uống
sữa, chẳng còn khả năng tu hành nữa. Ngài chẳng chịu đựng
khổ sở được nữa rồi." Do đó họ bỏ đi. Thế là cả
năm vị đều bỏ đi, tới vườn Lộc Uyển.
Ðức
Phật Thích Ca sau khi giác ngộ thành Phật, Ngài thuyết Kinh
Hoa Nghiêm trước hết, song chẳng người nào nghe đặng. Vì
thế Ngài phải ẩn thật thị quyền (dấu cái chân thật,
thị hiện cái quyền biến), mới thuyết Kinh A Hàm. Song nói
Kinh này với ai đây? Phật quan sát rằng: "A! Thì là năm vị
đồng tu với ta khi trước chớ ai! Ta phải độ họ trước
tiên."
Ðó
là vì trong quá khứ xa xưa Phật có phát nguyện: "Nếu ta thành
Phật, trước hết ta sẽ độ cho tất cả kẻ hủy báng ta,
sát hại ta, đối với ta không tốt." Ai là kẻ cư xử không
tốt với Ngài xưa kia? Thì chính là vua Ca-Lợi mà Kinh Kim Cang
đề cập tới.
Khi
Ðức Phật Thích Ca ở nơi nhân địa tu hành, làm một vị
tiên nhân nhẫn nhục thì có Ca Lợi Vương lại cắt xén thân
thể Ngài. Vì sao y cắt xén thân Ngài?
Bởi
vì Ngài ở núi tu đạo, thân Ngài bụi bặm đóng dầy. Ngài
lại không xuống núi, cứ ở mãi trên ấy dụng công tu trì
khổ hạnh. Bữa nọ, Ca Lợi Vương đem theo các cô cung tần
mỹ nữ săn bắn ở chốn núi sâu ấy. Các cô vốn ham vui
nên không theo vua đi săn mà lại leo núi chơi. Vua Ca Lợi đi
săn về, tìm các cô thì chợt thấy các cô đang tụm lại
một chỗ nói chuyện với một nhân vật kỳ quái. Có cô thì
rờ tay, có cô sờ chân vị ấy, coi bộ chẳng giữ phép tắc
gì cả. A ha! Vua sinh lòng ghen tuông, mới bước tới nghe xem
vị kia nói gì? Thì chỉ nghe vị ấy nói toàn là việc tu hành,
tu đạo! Vua nổi giận, mắng: "Nhà ngươi không được lừa
bịp các cung nữ của ta! Ngươi tu hành cái đạo gì hả?"
Vị tiên nhân đáp: "Tôi tu nhẫn nhục." "Thế nào là nhẫn
nhục?" "Thì tức là ai chửi rủa tôi, ai đánh đập tôi, tôi
không sinh lòng sân hận." "Ngươi có thể nhẫn nhục sao? Thật
hả? Hay là giả?" "Ðương nhiên là thật rồi!" "Ðược, ta
sẽ thử nhà ngươi xem!" Nói rồi vua Ca Lợi liền tuốt kiếm
xông tới, chém cụt cánh tay của vị tiên nhân. Vua nói: "Ta
đã chém đứt cánh tay của ngươi, ngươi có nóng giận chăng?"
Vị tiên nhân đáp: "Tôi chẳng sân hận đâu."
"A!
Tốt lắm! Ngươi chẳng sân hận, đúng là có chút bản lĩnh.
Song ngươi chỉ nói dối, lòng ngươi hẳn giận dữ lắm, mà
miệng thì cứ chối không nổi nóng để lừa ta! Ta là kẻ
sáng suốt lắm, đời nào để ngươi lừa. Ðược. Ngươi
nói ngươi có thể nhẫn nhục, không nổi giận, vậy thì cánh
tay kia, ta cắt cụt luôn! Nói xong, vua chém nốt cánh tay kia,
và hỏi rằng: "Ngươi có sân hận hay không hả?" Vị tiên
nhân đáp rằng: "Tôi vẫn không sân hận đâu." Lúc ấy vua
Ca Lợi lại cầm kiếm chém nốt hai chân Ngài, xong lại hỏi:
"Ngươi có giận hay chăng?" Vị tiên nhân vẫn trả lời: "Tôi
vẫn không giận dữ đâu. Làm sao chứng minh cho lời tôi đây?
Nếu quả thật tôi giận dữ Ngài, chân tay tôi không phục
hồi đặng. Nếu tôi chẳng hề có chút lòng sân giận, chân
tay tôi sẽ mọc ra như cũ. Ðó là bằng chứng tôi không có
lòng giận dữ." Khi vị tiên nhân, tức tiền thân Ðức Phật
Thích Ca, thốt ra lời ấy rồi, chân tay Ngài quả nhiên mọc
ra như cũ.
Bấy
giờ thiên long bát bộ, hộ Pháp thiện thần, khi thấy vua
Ca Lợi tàn ác dám cắt tứ chi của kẻ tu hành như vậy thì
họ liền hiển oai thần, giáng mưa đá xuống người vua Ca
Lợi. Lúc ấy vua biết sự lợi hại, thấy được thần thông
biến hóa của vị tiên, nên vua liền chạy đến quỳ trước
mặt vị tiên nhân, xin sám hối. Vị tiên ấy mới phát nguyện
rằng: "Nếu ta không thành Phật thì chẳng có gì đáng nói.
Nếu ngày nào đó ta thành Phật, ta sẽ độ cho ông thành Phật
trước hết. Nếu ông không khai ngộ, không thành Phật, ta
cũng chẳng thành Phật." Vì vậy sau khi Phật thành Phật rồi,
Ngài liền đến vườn Lộc Uyển độ ông Kiều Trần Như
trước tiên. Vị tiên nhân chính là Ðức Phật Thích Ca, mà
Kiều Trần Như chính là vua Ca Lợi.
Khi
nghe đến công án trên, mình phải biết rằng: ai đối với
mình không tốt, mình phải phát nguyện khi thành Phật mình
độ họ ngay. Chẳng nên nói: "Mày cư xử tệ hại với tao
quá. Chờ tới lúc thành Phật, tao sẽ làm mày rớt xuống
địa ngục cho coi!" Chẳng nên có nguyện vọng như thế.
Khi
đến vườn Lộc Uyển, Ngài ba lần giảng Pháp Tứ Ðế (gọi
là tam chuyển Tứ Ðế Pháp Luân) cho năm vị tỳ kheo:
Lần
đầu chuyển Pháp Tứ Ðế là:
Ðây
là Khổ. Tánh của khổ là bức bách.
Ðây
là Tập (nguyên nhân của khổ). Tánh của tập là chiêu cảm.
Ðây
là Diệt (chấm dứt đau khổ). Sự dứt khổ có thể chứng
đắc.
Ðây
là Ðạo (con đường dứt khổ). Con đường dứt khổ có thể
tu tập đặng.
Lần
thứ hai chuyển Pháp Tứ Ðế là:
Ðây
là khổ, con phải biết.
Ðây
là nguyên nhân của khổ, con phải đoạn trừ.
Ðây
là sự hết khổ, con phải chứng đắc.
Ðây
là con đường hết khổ, con phải tu tập.
Lần
thứ ba chuyển Pháp Tứ Ðế là:
Ðây
là khổ, ta đã biết, không cần biết thêm nữa.
Ðây
là nguyên nhân của khổ, ta đã đoạn hết, không cần đoạn
thêm nữa.
Ðây
là sự hết khổ, ta đã dứt sạch, không cần dứt thêm gì
nữa.
Ðây
là con đường hết khổ, ta đã tu thành, không cần tu thêm
nữa.
Khi
Phật ba lần quay bánh xe Pháp Tứ Ðế rồi, Ngài dạy rằng:
"Này Kiều Trần Như, hiện giờ ông đang bị khách-trần quấy
nhiễu, khiến ông chẳng đặng giải thoát." Khi Kiều Trần
Như nghe tới hai chữ khách-trần thì Ngài liền khai ngộ. Sao
gọi là khách? Tức không phải ông chủ. Sao gọi là trần?
Trần hay bụi bặm là thứ không sạch sẽ. Tự tánh của ta
vốn là ông chủ, tự tánh của ta vốn thanh tịnh. Do đó Ngài
khai ngộ nó, được Phật đặt tên là "Giải Bổn Tế," nghĩa
là thông đạt lý giải chân lý sẵn có xưa nay.
Thanh
Văn tăng chúng "Bất luận nam nữ;" Người nữ cũng có thể
chứng quả, người nam cũng chứng được quả. Hễ chứng
quả tức thành Thanh Văn, A-la-hán. Ví như mẹ của Ngài Cưu
Ma La Thập đã chứng đặng tam quả A-la-hán.
Tứ
Ðế Quán Hành: Quán Hành nghĩa là quán sát tu hành. Quán sát
tu hành gì? Tức là Tứ Ðế: Khổ tập diệt đạo. Phải biết
khổ, đoạn trừ tập nhân, hướng về diệt, tu hành đạo
Pháp. Ðó là tu Pháp môn Tứ Ðế.
ẩn
thật thị quyền: Các bậc Thanh Văn này, có Ngài vốn là bậc
đại Bồ-tát quyền biến hiện ra thành Thanh Văn. Do đó mới
gọi là "ẩn thật," nghĩa là dấu đi công đức thật có của
các Ngài. "Thị quyền;" thị nghĩa là chỉ thị, cho thấy;
quyền nghĩa là quyền xảo, phương tiện. Quý-vị chớ cho
họ là Thanh Văn, là tiểu thừa rồi xem thường họ. Ðừng
nên làm thế. Không phải ai trong các Ngài Thanh Văn đều là
Bồ-tát, song nhất định rằng trong các vị ấy có vị là
đại thừa Bồ-tát. Ngài hiện thành kẻ tiểu thừa để tiếp
dẫn kẻ căn cơ tiểu thừa, khiến họ bỏ tâm nhỏ hẹp,
phát tâm rộng lớn. Do đó gọi là ẩn thật thị quyền.
(V)
Pháp-giới của Chư Thiên
Lục
dục Phạm thiên
Ngũ
giới thập thiện
Chủng
hữu lậu nhân
Luân
hồi nan đoạn.
Nghĩa
là:
Trời
lục dục và Phạm thiên
Do
tu Ngũ giới, thập thiện.
Ðều
là trồng nhân hữu lậu
Nên
khó cắt đoạn luân hồi.
Lục
Dục Phạm Thiên: Lục Dục Thiên còn gọi là Dục Giới Thiên.
Dục Giới Thiên, Sắc Giới Thiên và Vô Sắc Giới Thiên hợp
lại gọi là Tam Giới. Chúng ta hiện tại đang ở trong phạm
vi của Tứ Thiên Vương Thiên, là một trong sáu cõi trời ở
Dục-giới. Bầu trời mà mình nhìn thấy đây chính là trời
Tứ-vương, do bốn vị thiên vương cai quản. Trời này nằm
ở lưng chừng núi Tu Di.
Người
Trung Hoa thuở xưa, không biết Phật là ai, chỉ biết có thượng
đế. Do đó khi vua Thang đời nhà Thương, dùng bò đen để
tế trời, Ngài nói rằng: "Tôi, tiểu tử tên Lữ, dám xin
dùng bò đen này, dám xin bạch với đấng Hoàng Hoàng Hậu
Ðế.... Nếu tôi có tội, tội ấy chẳng phải của vạn dân.
Nếu vạn dân làm tội, tội ấy thuộc về tôi." Ngài nói
rằng: "Tôi tiểu tử tên Lữ." Vua Thang có tên là Lữ, ngài
tự xưng là tiểu tử, là Ngài lễ phép khiêm nhường cho mình
là một đứa trẻ vô dụng, "Dám xin dùng bò đen này." Tức
là dám dâng đến thứ bò sắc đen huyền. "Dám xin bạch với
Hoàng Hoàng Hậu Ðế." Tức là tôi xin chí thành khẩn thiết,
bẩm trình với thượng đế. Rằng: "Nếu tôi có tội, tội
ấy chẳng phải của vạn dân." Tội của tôi xin đừng đổ
lên đầu người dân. Vạn dân tức là bách tánh, dân chúng.
"Vạn dân làm tội, tội ấy thuộc về tôi." Tức rằng nếu
người dân có tội, xin đừng trách họ, bởi vì do tôi không
dạy dỗ họ đàng hoàng, do đó tội của họ, tôi cần phải
gánh chịu.
Các
vị thánh nhân xưa kia chỉ tự trách mình, phạt mình; không
như người đời nay: rõ ràng biết mình có tội lỗi; thế
mà cứ nói: "ồ, chuyện ấy đâu dính gì tôi; anh ta làm đấy
mà!" "Ðó là lỗi lầm của hắn! Tại sao lại trách tôi?"
"Ông trời thật bất công. Tại sao y giàu đến thế, mà tôi
thì nghèo xơ? Tại sao hắn sang thế mà tôi thì quá thấp hèn?"
Cứ oán trời trách người. Chuyện gì cũng chẳng bao giờ
nhận rằng mình sai lầm, cứ chuyên đi kiếm lỗi kẻ khác.
Thánh nhân xưa kia ai cũng luôn thừa nhận lỗi lầm của mình
cả.
Tầng
trời thứ hai là Ðế Thích Thiên. Trời này ở giữa, phía
đông có tám trời, phía tây có tám trời, bắc có tám trời,
nam có tám trời. Tổng cộng là ba mươi hai trời. Ðó là tầng
trời thứ hai ở cõi Dục-giới.
Tầng
trời thứ ba là Dạ Ma Thiên. Trong tầng trời này, chư thiên
vô cùng sung sướng. Cả ngày họ cứ ca hát. Họ hát gì? Thì
là "Tôi sung sướng lắm lắm!" Ngày đêm sáu thời họ đều
vui sướng, do đó Dạ-Ma dịch là thời phần, vì rằng mỗi
thời khắc họ đều vô cùng sung sướng.
Tầng
trời thứ tư là Ðâu Suất Thiên. Ðâu Suất dịch là Hỷ
Túc, vì lúc nào họ cũng hoan hỉ, lúc nào cũng đầy đủ
mãn túc. Bởi vì họ biết tri túc nên lúc nào cũng an lạc.
Từ sáng đến tối họ không bao giờ ưu lự, sầu muộn, hay
có phiền não bực dọc gì cả. Trời ấy còn gọi là "Tai
Túc Thiên" bởi vì họ biết tri túc và thường vui vẻ, không
phiền não ưu tư.
Tầng
trời thứ năm là Hóa Lạc Thiên. Các vị trời này đắc khoái
lạc nhờ có năng lực biến hóa. Nghĩ tới áo quần thì áo
quần hiện ra; nghĩ tới ăn uống thì thực phẩm tới liền.
Vì họ biến hóa rất tự tại nên vô cùng sung sướng an lạc.
Tầng
thứ sáu là Tha Hóa Tự Tại Thiên. Tha Hóa có nghĩa là các
vị trời trên ấy vốn không có sự sung sướng an lạc, song
các Ngài có năng lực tước lấy sự an lạc của các trời
khác đem làm an lạc của chính mình. Vì sao họ lại chiếm
sự an lạc của kẻ khác để làm của mình? Bởi vì họ không
theo đạo lý; hệt như bọn giặc cướp, đoạt tiền của
và tài sản của kẻ khác để tự mình dùng, bất kể sự
sống chết của kẻ khác.
Ở
tầng trời này có rất nhiều thiên ma và quyến thuộc của
chúng.
"Lục
Dục Phạm Thiên" phía trên đã nói về Lục Dục Thiên. Phạm
Thiên tức là trời Ðại Phạm Thiên, Phạm Chúng Thiên và
Phạm Phụ Thiên. Các vị trời ấy do tu "Ngũ Giới Thập Thiện"
nên đắc phước báu ở tầng trời này. Song đây là những
thiện căn hữu lậu (hữu lậu nghĩa là có phiền não) nên
nói rằng: "Chủng hữu lậu nhân, luân hồi nan đoạn." Hễ
trồng nhân hữu lậu thì khó đoạn luân hồi. Phải tu hành
cái nhân xuất thế thì mới thoát khỏi luân hồi.
(VI)
Pháp-giới của A Tu La
Tu-la
tánh bạo,
Hữu
phước vô quyền,
Háo
dũng đấu lang,
Phù
trầm nghiệp khiên.
Nghĩa
là:
Tu-la
tánh hung bạo.
Có
phước, song không quyền.
Rất
thích đánh đấu nhau.
Chìm
nổi theo nghiệp dắt.
A-tu-la
là tiếng Phạn dịch là vô đoan chính. Vô đoan chính nghĩa
là xấu xí. Nam A-tu-la tướng mạo vô cùng xấu xí, ưa thích
đấu tranh với kẻ khác. Nữ A-tu-la tướng mạo hết sức
xinh đẹp, yêu thích đấu tranh bằng tình cảm, tức là dùng
tánh đố kỵ ghen tuông, chướng ngại, vô minh, phiền não.
Tuy
chúng sinh này làm thành một Pháp-giới, song bất luận ở
đâu trong lục đạo, hễ có chúng sinh nào thích đấu tranh,
nóng nảy dữ tợn vô cùng, chỉ thích chỉ huy kẻ khác chớ
không chịu bị kẻ khác chỉ huy; chỉ thích cai quản kẻ khác
mà không thích bị ai cai quản, thì đó đều là biểu hiện
của A-tu-la. A-tu-la ở trong loài người thì phân ra loại ác
loại thiện. Thiện A-tu-la chính là quân đội, binh tướng
trong quốc gia.?c A-tu-la tức là thứ giặc cướp, trộm cắp,
kẻ thích đánh, thích giết người khác.
A-tu-la
ở trên cõi trời thì ưa thích đánh nhau với thiên binh, thiên
tướng. Suốt ngày chúng chỉ nghĩ cách đánh trời Ðế Thích
để cướp bảo tòa, đoạt ngôi để lên làm Ðế Thích. Song
le, tuy đánh nhau hoài nhưng bọn chúng luôn thua trận. Vì sao?
Bởi vì tuy bọn họ ở trên trời hưởng phước song không
có quyền hành gì. Do đó tuy đánh với thiên binh, thiên tướng
mà rốt cuộc vẫn cứ thất bại.
Trong
hàng súc sinh cũng có A-tu-la. Chúng thích chèn ép kẻ đồng
loại hay những súc sinh khác, thí dụ như sài lang, cọp, sư
tử... là những thứ thích ăn thịt súc sinh khác vì chúng
có tánh tình A-tu-la. Rắn hay chim ưng cũng là thứ A-tu-la.
A-tu-la
trong loài quỷ thì thích ăn hiếp loại quỷ khác. Quỷ cũng
có loại thiện loại ác. Bọn ác quỷ thì không đếm xỉa
tới phải trái gì cả. Xưa nay quỷ không bao giờ biết phải
trái, nhưng bọn ác quỷ càng không biết đến phải trái hơn
cả.
Tu-la
tánh bạo: Tánh tình của A-tu-la rất tàn bạo. Hữu phước
vô quyền: Chúng có phước của chư thiên, song không có quyền
hành như chư thiên. Do đó chúng muốn tranh đoạt quyền lợi,
song không thể tranh thắng đặng.
Các
bạn hãy nhìn thế giới hiện nay: Một thế giới của A-tu-la.
Ðâu đâu cũng toàn nói chuyện đấu tranh, đấu tranh. Ðấu
tranh vì thứ này, tranh đấu vì thứ kia. Bạn đánh tôi ngã,
tôi đẩy bạn rớt.
Phù
trầm nghiệp khiên: Tùy theo nghiệp lực dẫn dắt đi theo nẻo
nào thì chúng đi theo nẻo đó. Do đó, người tu hành phải
tránh đấu tranh, tranh chấp với kẻ khác. Chớ nên háo thắng,
thích tranh chấp. Chớ nên có tánh tình hung bạo dữ tợn.
Vậy thì mình thoát ra bọn A-tu-la đấy.
Nói
tóm lại, A-tu-la không hề nói tới chuyện phải trái. Bất
luận với ai, chúng cũng thường nổi nóng. Nói cho rõ, thì
trong chín Pháp-giới của chúng sinh, thì A-tu-la có mặt trong
năm Pháp-giới rồi. Trong loại súc sinh, thì loài chim hay thú
cũng có A-tu-la. Cá sấu là một loại A-tu-la ở trong nước.
Loài ngựa cũng có A-tu-la: thứ này mà ở trong bầy ngựa thì
chúng quấy nhiễu lắm, do đó gọi là "Hại quần chi mã,"
con ngựa phá bầy. Loài bò cũng có A-tu-la đó; bò này tức
là tánh A-tu-la. Còn chó thì đúng là bọn A-tu-la. Do đó người
nuôi chó, thường gần gũi với chó thì có thể tiêm nhiễm
tính A-tu-la đó. Do đó hãy cẩn thận. Chớ nên chạy theo bọn
A-tu-la!
(VII)
Pháp-giới của Loài Người
Nhân
đạo hòa hợp,
Công
tội tương gian.
Ðức
thăng nghiệt giáng,
Khải
hữu tha yên!
Nghĩa
là:
Hòa
hợp là đạo người,
Công
và tội xen lẫn
Ðức
thì thăng, nghiệt đọa
Nào
do ai khác làm!
Cõi
người có kẻ thiện kẻ ác. Bản tánh của con người thì
vốn ôn hòa, có thể hòa hợp với kẻ khác, do đó tôi nói
là nhân đạo hòa hợp. Công tội tương gian: nghĩa là con người
không phải hoàn toàn thiện hay hoàn toàn ác. Nếu hoàn toàn
tốt thì hẳn y đã lên cõi trời rồi, còn nếu hoàn toàn
ác thì chắc chắn y đã làm súc sinh, ngạ quỷ hay đọa địa
ngục rồi. Do đó, con người cứ làm một chút công, lại
phạm một chút tội. Ðôi khi công nhiều, tội ít; hoặc là
tội nhiều, công ít. Khi công nhiều tội ít thì mình sinh ra
tại gia đình phú quý giàu sang. Nếu công ít, tội nhiều thì
mình sinh vào gia đình bần cùng khốn khổ. Giữa hai thái cực
này (công và tội) có ngàn vạn sự sai thù, tùy thuộc vào
mức độ nhiều ít của ác nghiệp do mình tạo ra. Con người
không âm cũng không dương. Vì thuần âm thì con người sẽ
biến thành quỷ, mà thuần dương thì con người sẽ thăng
thiên hết, không còn gì là loài người nữa!
Ðức
thăng nghiệt giáng: Nếu làm chuyện thiện, hay công đức thì
bạn sẽ thăng lên. Nếu tạo tội nghiệt thì bạn đọa lạc.
Khải hữu tha yên: không ai có thể bắt bạn đọa địa ngục,
hay làm ngạ quỷ, hay biến thành súc sinh được. Tất cả
đều do bạn tự mình tạo. Rằng: "Mình làm, mình chịu." Tự
mình làm ra thì tự mình phải lãnh hậu quả. Ðó là cõi người.
(VIII)
Pháp-giới Loài Súc Sinh
Súc
sinh háo tham,
Ða
nhi vô yểm,
Tương
hắc tác bạch
Thị
phi mạc biện.
Nghĩa
là:
Súc
sinh tham lam,
Nhiều
mà chẳng ngán.
Lấy
đen làm trắng
Không
rõ đúng sai.
Bảy
Pháp-giới nói trên đều là Pháp-giới tốt, bạn có thể
thử nó, tới đó mà đóng kịch. Chỉ có ba Pháp-giới còn
lại thì bạn không thể thử cho biết đặng. Bởi vì hễ
bạn đọa vào ba đường này thì e khó thoát ra được. Cho
nên: "Nhất thất nhân thân, vạn kiếp nan phục." (Thân người
mất đi, vạn kiếp khó khôi phục). Do đó rất nguy hiểm.
Trong
cõi súc sinh hiện giờ, không phải chỉ có một loại mà thôi.
Súc sinh có trăm ngàn vạn ức thứ khác nhau. Chỉ nói tới
loài biết bay, cũng đã có tới trăm ngàn vạn chủng loại.
Loài biết chạy cũng không ít, nào là thứ nhỏ như chuột,
lớn như voi, hay các động vật lớn như hưu, gấu, ngựa,
dê... những thứ ở trên mặt đất có đến trăm ngàn loài.
Những loài dưới nước, nào là hải cẩu, hải mã, v.v...
cũng cả trăm ngàn thứ. Dù là vật lý gia, hóa học gia, sinh
vật học gia, động vật học gia, nào tiến sĩ hay là chuyên
gia cũng không thể nào biết hết được những thứ chủng
loại ấy.
Những
thứ súc sinh ấy từ đâu tới? Chỉ từ "tham" mà ra. "Súc
sinh háo tham": bất luận là cái gì, chúng ham nhiều, ít là
không được. Bởi vì chúng "đa nhi vô yểm," có nhiều mà
không biết nhàm chán. Cho nên cái đen, chúng không nhận biết
rằng nó đen. Chúng cho là: "A! Cái này màu trắng!" Do đó:
"Tương hắc tác bạch." Nhận cái đen là cái trắng; cái xấu
thì cho rằng tốt. Ðó chính là biểu thị chúng chẳng có
lý trí gì cả. Nên bất kỳ thứ gì chúng cũng tham nhiều,
thậm chí tham cả thứ dơ bẩn như phân chó nữa. Chúng càng
ăn thứ ấy thì càng thấy ngon, thấy thơm. "Thị phi mạc biện"
nghĩa là chúng không biết cái gì phải, cái gì trái; không
biện biệt đúng sai, không rõ ràng mọi sự vì không có lý
trí nữa. Khi có lòng tham thì chúng trở nên mê muội. Thế
là bị vô minh trùm phủ, không biết gì cả.
Vì
thế con người như chúng ta nếu có lòng tham lam thì rất nguy
hiểm; tham nhiều thì dễ dẫn tới chỗ biến thành súc sinh.
Bạn ơi! Người xuất gia nào không y chiếu theo giới luật
của Phật để tu hành thì sẽ đọa lạc mau một chút. Do
đó người xưa có câu: "Ðịa ngục môn tiền tăng đạo đa"
(nghĩa là nơi cửa địa ngục, thầy tu và đạo sĩ nhiều
lắm). Họ đứng chờ ở cửa địa ngục. Những vị đạo
sĩ hay các vị thầy tu nghĩ rằng địa ngục là chỗ vui lắm,
nhưng khi tới đó mới biết rằng nơi ấy chẳng vui tí gì!
(IX)
Pháp-giới của ngạ quỷ
Quỷ
loại hỷ sân
Muội
quả mê nhân
Vô
minh điên đảo,
Nhật
tích nguyệt thâm.
Nghĩa
là:
Loài
quỷ thích giận,
Mê
muội nhân quả
Vô
minh điên đảo
Ngày
tháng chồng chất.
Ða
số ai cũng biết quỷ. Có người tin có quỷ, song có kẻ nói
quỷ chẳng có. Thậm chí nhiều Phật tử không tin có quỷ.
Quỷ là gì? Quỷ là một thứ âm khí, có bóng mà không có
hình hài, hoặc có hình thể mà không có bóng. Nhiều khi bạn
thấy một bóng đen, nhưng khi nhìn kỷ thì bóng biến mất.
Hoặc nhiều khi thấy cái bóng giống như người, nhưng chỉ
trong chớp mắt nó biến mất. Thật khó mà xác định rõ ràng
sự thật về chuyện này.
Có
bao nhiêu thứ quỷ? Nhiều như số cát sông Hằng Hà vậy.
Nếu bạn muốn biết rõ có bao loại quỷ, bạn hãy tu Ðạo.
Khi tu được Ngũ-nhãn, Lục-thông, bạn sẽ rõ biết hết thảy
có bao nhiêu loài quỷ.
Có
người nói: "Chẳng có quỷ đâu!" Tôi nói với y rằng, nếu
không có quỷ thì cũng chẳng có Phật, chẳng có người, chẳng
có súc sinh. Bởi vì súc sinh, người, A-tu-la đều từ quỷ
biến ra cả. Thậm chí trời, A-la-hán, Duyên-giác, Bồ-tát,
Phật cũng đều từ quỷ đạo mà tiến lên. Vì sao? Vì mười
Pháp-giới không rời một niệm trong tâm. Chính một niệm
này tạo ra mười Pháp-giới. Bạn làm việc quỷ thì đọa
lạc vào đường quỷ. Làm việc người thì tới cõi người,
làm việc a-tu-la thì tới chỗ A-tu-la. Làm việc của bậc A-la-hán
thì thành A-la-hán. Làm chuyện đấng Duyên-giác thì sẽ tới
đặng bậc Duyên-giác. Làm việc của Bồ-tát thì sẽ thành
quyến thuộc của chư Bồ-tát. Làm việc Phật thì thành Phật.
Làm chuyện của địa ngục thì đọa địa ngục. Do đó một
tâm niệm trong hiện tại tạo thành tất cả mọi chuyện.
"Quỷ
loại hỉ sân" Phàm là quỷ, chúng rất thích nổi nóng, nảy
lòng sân hận. Ðối xử tốt với chúng, chúng cũng sân hận;
đối đãi không tốt với chúng, chúng càng sinh giận dữ.
Việc gì làm chúng thích thú nhất?
Tức
là tạo rắc rối cho kẻ khác. Bạn đối xử đàng hoàng với
chúng, chúng cũng gây rắc rối cho bạn. Bạn không đối xử
đẹp, chúng cũng gây phiền hà. Do đó có câu: "Thắp hương
là mời quỷ tới." Mặc dù bạn thắp nhang là vì kính trọng
chúng, song chúng tới để gây rắc rối cho bạn, làm bạn
sinh bịnh. Vì vậy Khổng Tử nói: "Kính quỷ thần nhi viễn
chi." Nghĩa là ta phải cung kính quỷ thần, song le không nên
gần gũi với chúng, nên xa cách một chút.
Muội
quả mê nhân: Quả báo thì bọn chúng không hiểu biết gì;
mà cái nhân, chúng cũng không rõ. Do đó chúng không biết tốt
xấu. Xưa nay hễ trồng nhân tốt thì gặt quả tốt; trồng
nhân lành thì gặt quả lành, trồng nhân ác thì gặt quả
ác. Trồng dưa, gặt dưa; trồng đậu, được đậu. Song bọn
quỷ không hiểu được đạo lý nhân quả này. Do đó chúng
trồng cà mà mong được ớt, trồng ớt mà mong gặt được
dưa leo; hoàn toàn mê muội lầm lẫn, nên nói là muội quả
mê nhân.
Bọn
chúng "Vô minh điên đảo, nhật tích nguyệt thâm": mỗi ngày
tích tập càng nhiều sự vô minh. Càng tạo nghiệp thì tội
càng nặng; tội càng nặng thì lại càng tạo nghiệp. Do đó
đọa lạc vào đường quỷ.
(X)
Pháp-giới của địa ngục
Ðịa
ngục ưu khổ
Vô
môn tự xuyên
Khởi
hoặc tạo nghiệp
Thọ
báo tuần hoàn.
Nghĩa
là:
Ðịa
ngục đầy ưu khổ
Không
cửa nhưng cứ vào
Khởi
hoặc rồi tạo nghiệp
Chịu
quả báo tuần hoàn.
Ðịa
ngục là chốn đau khổ cùng cực. Các bạn nào muốn du lịch
ở địa ngục, tôi bảo đảm bạn sẽ tức khắc đến đó
ngay. Làm sao? Có câu rằng:
"Hễ
sầu muộn, là dạo chơi cõi địa ngục.
Cười
vui vẻ, thì già cả thành trẻ trung.
Khóc
lóc hoài, tạo phòng tối chốn âm ti"
Âu
sầu phiền muộn là nhân của địa ngục. Nếu bạn cười
vui vẻ, đó là nhân cõi trời. Rằng:
Tự
cổ thần tiên vô biệt pháp,
Chỉ
sinh hoan hỉ bất sinh ưu.
Nghĩa
là:
Xưa
nay thần tiên chẳng phép lạ,
Chỉ
sinh vui vẻ, không ưu lo.
Nếu
bạn thường thường cười vui, thì dù lớn tuổi, bạn cũng
trẻ trung. Khóc lóc là một việc rắc rối lắm. Ðịa ngục
ưu khổ: Nghĩa là địa ngục chẳng có gì vui vẻ an lạc,
chỉ ưu sầu khổ sở. "Vô môn tự xuyên"; nghĩa là địa ngục
xưa nay không có cửa. Cửa vào địa ngục chính là do mình
đặt và mở ra. Mình cứ đâm đầu dấn thân vào, (như cái
dùi cứ khoan vào) vào không được cũng cứ cố chui vào. "Khởi
hoặc tạo nghiệp." Vì sao đọa địa ngục? Là vì ta vô minh
mê hoặc, không hiểu biết, do đó tạo ra ác nghiệp. Bạn
tu nghiệp gì, thì thọ quả báo ấy, không sai một mảy may.
Ðây là sự tuần hoàn không ngừng nghỉ. Nên nói rằng: "Thọ
báo tuần hoàn."
Thập
giới nhất tâm
Bất
ly đương niệm
năng
giác thử niệm
Lập
đăng bỉ ngạn.
Nghĩa
là:
Mười
Pháp-giới, một tâm,
Không
ngoài niệm hiện tại,
Giác
ngộ tâm niệm này,
Tức
khắc lên bờ kia.
Bốn
Pháp-giới bậc Thánh là Phật, Bồ-tát, Thanh Văn, Duyên Giác
và sáu Pháp-giới phàm là thiên, nhân, A-tu-la, ngạ quỷ, súc
sinh, địa ngục, tổng cộng là mười Pháp-giới. Mười Pháp-giới
từ đâu ra? Từ một ý niệm trong tâm hiện tại của mình.
Do đó: "Thập giới nhất tâm, bất ly đương niệm.
Năng
giác thử niệm: Nếu bạn hiểu rõ về ý niệm hiện tại
thì bạn sẽ lập tức đăng bỉ ngạn: tức khắc tới bờ
kia, tức là Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật. Bờ kia là gì? Là sự
giác ngộ, không còn mê hoặc; phá sạch vô minh. Khi vô minh
phá trừ thì pháp thân sẽ xuất hiện.

|