|
cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Ðạo
Tràng Tốt Khó Tìm
Muốn
tu hành mà không gặp đạotràng tốt thì cũng không thể tu
được.
Từ
vô lượng kiếp đến nay, chúng ta tạo tội lỗi, thói xấu
quá nhiều. Không biết hối cải cũng không biết tu hành, nên
thói xấu mỗi ngày một gia tăng, trí huệ mỗi ngày một giảm
dần; nghiệp chướng càng ngày càng thêm nặng. Bởi vì những
lý do đó nên con người muốn tu cũng không phải dễ; muốn
học để thành người tốt cũng rất khó, muốn xuất gia lại
càng khó hơn, vì bị mọi thứ nghịch cảnh, nghiệp chướng
ràng buộc. Khi ở nơi nhân địa, mình ngu si không biết nên
tạo ra tội nghiệp dẫy đầy, chẳng sợ nhân quả báo ứng.
Vì thế bây giờ muốn tu Ðạo thì đủ thứ nghiệp chướng
từ khắp mọi nơi kéo về, đủ thứ chướng duyên phát sinh.
Có người vì hoàn cảnh gia đình không cho phép, có người
vì đất nước, lại có người vì thái độ, hành động,
hay công ăn việc làm khiến sinh ra đủ thứ trở ngại, không
cho phép họ tu hành.
Cho
nên muốn chân chính tu Ðạo thì khó như muốn lên trời vậy.
Song, tuy khó khăn khốn khổ như vậy thì lại không tu sao?
Không phải đâu! Càng khổ thì càng phải tu, mình phải làm
điều khó làm. Nếu không ở chỗ khốn khổ gian nan mà bắt
đầu, thì mãi mãi mình không thể phá trừ được hết nghiệp
chướng. Vì thế mình phải tu nhẫn nại; phải nhẫn nại
những thứ mà không ai nhẫn được, nhường nhịn những thứ
mà không ai muốn nhường, làm chuyện mà chẳng ai chịu làm,
ăn những thứ không ai thèm ăn, chịu những thứ không ai chịu
nỗi. Cứ như vậy ngày tháng tích lũy, thì công đức sẽ
tăng gia, tội nghiệt giảm ít, trí huệ tăng trưởng, và nghiệp
chướng tiêu dần.
Bởi
vì xưa nay nghiệp chướng từng chút, từng chút kết lũy mà
thành. Bây giờ thì cũng từng chút, từng chút giảm nhẹ đi.
Cũng như lúc trời lạnh vậy, càng ngày càng lạnh, cho tới
mùa đông thì lạnh đến cực điểm, sau đó lại bắt đầu
nắng ấm. Tuy nhiên, không thể lập tức ấm liền được,
phải từ từ mỗi ngày một ấm lần, ấm lần tới lúc vào
hè. Mùa nóng thì ví như lúc mình không còn chướng ngại;
mùa lạnh ví như là lúc nghiệp chướng còn sâu dày.
Bây
giờ chúng ta tu hành, tham thiền cũng tốt, niệm Phật cũng
tốt. Bất luận là tu pháp gì, mình cần kiếm việc để làm,
đừng cho tâm trống không, vì nó sẽ suy nghĩ vẫn vơ và vọng
tưởng. Mình cần phải lấy thời gian suy nghĩ vẫn vơ đó
mà niệm Phật, trì Chú, tụng Kinh; không để thời gian trôi
qua lãng phí. Nếu không tu, tâm mình sẽ mặc tình suy nghĩ
vẫn vơ, thật là lãng phí tinh thần; kết cuộc, chẳng chuyện
gì thành tựu cả. "Nhân thân nan đắc. Phật-pháp nan văn.
Phật quốc nan sinh. Thiện-tri-thức nan ngộ. Hảo đạo tràng
nan phùng." Tức là thân người khó được. Phật-pháp khó
được nghe. Nước Phật khó sinh. Thiện-tri-thức khó gặp.
Ðạo tràng tốt khó tìm.
Muốn
tu hành mà không gặp được đạo tràng tốt thì cũng không
thể tu hành. Nên mình cần có đạo tràng tốt. Ở Vạn Phật
Thánh Thành, muốn đả thiền thất thì có chỗ đả thiền
thất, muốn niệm Phật thì có chỗ niệm Phật, muốn sám
hối thì có chỗ sám hối. Quý-vị muốn thế nào cũng đều
có cả. Chỉ cần quý-vị tu hành, không lãng phí thời gian,
chân thật dụng công là được rồi.
Bất
luận vị nào phát tâm nguyện dụng công, thì tôi sẽ tình
nguyện làm hộ-pháp cho vị đó, giúp quý-vị dụng công tu
hành. Bởi vì khi xưa tôi muốn dụng công mà không tìm được
đạo tràng tốt để dụng công. Tôi đến nơi nào cũng gặp
đầy dẫy những chuyện nhỏ nhặt, chi tiết phiền hà. Ví
như ở thiền đường, quý-vị phải học cách đánh chuông,
đánh bảng, rồi đến lúc nào thì phải đi tuần tra, phải
học pha trà, uống trà rồi đi thâu những chum trà, và đủ
thứ chuyện lặt vặt khác. Nếu quý-vị muốn dụng công thì
chuyện uống trà, thâu chum trà hoặc là lúc đi tuần, lúc
đánh bảng, đánh mỏ, chỉ là sự dụng công một cách hời
hợt mà thôi. Học những việc lặt vặt đó cũng mất hết
ba tuần lễ mới xong. Thông thường đả thiền thất chỉ
một hay hai tuần, nếu phải học những việc linh tinh đó,
cũng đủ hết thời giờ rồi.
Hiện
tại ở Vạn Phật Thánh Thành, quý-vị tham thiền, niệm Phật
hoặc phiên dịch hay nghiên cứu kinh điển, tu cách gì cũng
tốt cả. Nói tóm lại, nếu quý-vị chuyên tâm nghiên cứu
thì mọi phương tiện đều có sẵn, không cần phải làm những
chuyện phiền phức khác. Ở đây, mọi chuyện rất là đơn
giản. Vị nào làm Duy-na thì chỉ cần biết làm sao chỉ tịnh,
khai tịnh là được rồi. Ở đây mà quý-vị còn không biết
dụng công thì chẳng biết ở chỗ nào quý-vị mới dụng
công được. Ðây là nơi hết sức thuận tiện, đầy đủ
phương tiện để dụng công. Nếu quý-vị một mặt dụng
công, một mặt nghĩ vẫn vơ, nào là: "Cơm trưa hôm nay không
ngon. Trời lạnh lẽo quá, sao mà ngủ được." Nếu như cứ
vọng tưởng vô ích như vậy, thì chỉ phí thời gian mà thôi.
Quý-vị cần chuyên tâm, chú ý, đem toàn tánh mạng ra mà dụng
công mới được.
Xả
bất liễu tử, hoán bất liễu sinh.
Xả
bất liễu giả, thành bất liễu chân.
Nghĩa
là:
Không
được sự chết, sao đổi được sự sống.
Không
bỏ được cái giả, sao thành đặng cái chân.
Không
phải chỉ ở trong Niệm Phật Ðường, hoặc trong Thiền Ðường
mới dụng công mà ở mọi lúc, mọi nơi, đều phải dụng
công. Dụng công có nghĩa rằng con mắt không bị đối tượng
quan sát làm cho chuyển; lổ tai không bị âm thanh làm giao động,
lưỡi không bị mùi vị làm cho thèm muốn; mũi không bị hương
thơm làm cho hứng thú; thân không bị xúc chạm làm cho rung
động; ý không bị tư tưởng pháp trần làm cho xoay chuyển.
Không bị tất cả mọi thứ cảnh giới làm chuyển xoay mà
ngược lại, mình có thể xoay chuyển được cảnh giới. Ðó
chính là dụng công.
"Hành
trụ tọa ngọa bất ly liễu cá, ly liễu giá cá tựu thị
thác quá." Nghĩa là: Ði đứng nằm ngồi đừng lìa "nó," lìa
"nó" tức là sai lầm. Do đó, mỗi giờ mỗi phút mình phải
luôn luôn chuyên tâm chú ý, chế ngự ý niệm của mình; giơ
cao Kim-cang Trí-huệ-vương Bảo-kiếm chặt sạch mọi phiền
não ma quân.
Hỏi:
Mình phục vụ đại chúng nhưng lại bị họ mắng chửi thì
phải làm sao?
Ðáp:
Nếu phục vụ đại chúng, mà bị phỉ báng thì mình càng
cố gắng hơn nữa. Nếu chỉ vì bị người ta chửi mắng
mà bỏ làm, thì mình không có thành tâm.
Hỏi:
Vì sao hiện tại Phật-giáo đồ không chịu hiểu chính pháp,
chỉ mong cầu thần thông? Vì sao hiện giờ đa số tín đồ
tham tiền?
Ðáp:
Vấn đề nầy rất là quan trọng bởi vì hiện tại con người
đều bị trúng độc của đồng tiền. Ở trên mặt đồng
tiền có chất độc vô cùng. Có thể nói là ma quỷ bôi thứ
độc ấy lên đồng tiền khiến con người khi tiếp xúc với
nó đều quên mọi sự. Cho đến cha mẹ cũng quên, chỉ biết
tiền mà thôi. Coi tiền thân thiết hơn tất cả mọi thứ.
Vì đồng tiền mà tạo ra đủ thứ tội nghiệp. Ngay cả người
trong Phật-giáo cũng tìm đủ phương pháp, bất chấp thủ
đoạn, hoặc nói chuyện phong thủy, hoặc nói có mật pháp;
họ có lòng tham còn nhiều hơn người không học Phật-pháp
nữa; lòng tham của họ còn cao hơn cả trời xanh. Ðó là mạt
pháp. Mạt pháp tức là không có người hiểu rõ đạo lý
nữa. Nếu muốn đừng sa vào lỗi lầm nầy, thì chỉ có cách
là giữ Sáu Ðại Tông-chỉ của Vạn Phật Thánh Thành. Ðó
là: Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không
tư lợi, không nói dối. Sáu điều nầy có thể cải biến
được phong khí của mạt pháp. Quý-vị đừng coi Sáu Tông-chỉ
của Vạn Phật Thánh Thành này là đơn giản, bình thường.
Quý-vị không đủ tư cách để học, cũng chẳng đủ tư cách
để nghe. Tôi nói Sáu Ðại Tông-chỉ nầy là để cho hai vị
hành giả Tam-bộ Nhất-bái, (thầy Hằng Thật và thầy Hằng
Triều) nghe. Bởi vì tôi thấy hai vị đó hết sức kham khổ
tu hành, nếu không nói cho họ pháp chân chính thì thật là
đáng tiếc. Cho nên Sáu Ðại Tông Chỉ nầy là để phá những
sự hiểu biết sai lầm, nó là cây gậy hàng phục ma quân
(hàng ma trượng).
Nói
đến thần thông thì phải biết rằng không phải do cầu mà
được; nó do tu mà thành. Tuy rằng cũng do tu mà thành nhưng
cũng đừng coi nó là quan trọng. Thần thông, trong Phật-giáo,
không có gì là đáng kể vì cũng giống như dùng một con dế
nhỏ đi dọa con nít mà thôi. Thực sự nó không có gì quan
trọng. Người học Phật, nếu có ý niệm cầu thần thông
thì tự nhiên sẽ tu sai lạc, không còn chân chính là tín đồ
Phật-giáo nữa.
Hỏi:
Tại sao người ta không lạy Ngài Tam Tạng Huyền Trang mà lại
lạy Tôn Ngộ Không? Tôn Ngộ Không có thật hay không?
Ðáp:
Bởi vì Tôn Ngộ Không có Kim-cô-bổng lại biết Cân-đẩu-vân,
có thể lên trời xuống đất, không chỗ nào mà không tới
được, nên người nào cũng thích Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ
Không, Trư Bát Giới, Sa Tăng đều là những nhân vật có thật.
Nhưng họ là những thứ tinh linh không có hình tướng, tới
để giúp đỡ vị Tam Tạng đi qua Tây Thiên (Ấn Ðộ) thỉnh
kinh. Những vị đó không phải là những người mà ta có thể
dùng phàm phu nhục nhãn mà thấy được. Bởi vì họ không
có phàm phu thực thể, mà họ chỉ là những linh tánh. Ngài
Huyền Trang là người tu hành chân thật, nhưng Ngài không biết
pháp Cân-đẩu-vân cũng không đại náo thiên cung. Ngài chỉ
biết chân thật tu hành, y chiếu theo ba chữ: Kiên, Thành, Hằng
(kiên trì, thành khẩn, thường hằng không đổi), nhất tâm
đi thỉnh kinh, làm lợi ích cho chúng sinh, nên cảm động được
Tôn Ngộ Không, Sa Tăng, Bát Giới tới hộ trì Ngài.
Giảng
vào ngày 26 tháng 11, năm 1985
Si
Ái Triền Miên
Sự
tai hại nhất trên đời là ái tình sâu đậm.
Việc
cao thượng nhất là tu đạo thanh tịnh.
Quý-vị
xem gốc cây nầy gồm có hai nhánh, song đôi hợp thành một,
nhánh trên nhánh dưới kết hợp với nhau, quý-vị biết đó
là gì không? Ðây là do vô lượng kiếp về trước có một
đôi nam nữ thương yêu nhau rất sâu đậm. Hai người đó
phát nguyện rằng: "Tại thiên, nguyện tác tỷ dực điểu.
Tại địa, nguyện vị liên lý chi." Nghĩa là nếu sinh lên
trời thì làm đôi uyên ương hai cánh liền nhau, nếu sinh dưới
đất thì nguyện làm gốc cây liền cành. Ðôi nam nữ nầy
rất chung tình, nên kết làm vợ chồng. Cả hai người có
một sở thích giống nhau, đó là: ham tiền. Người đàn ông
thì thí mạng để kiếm tiền, người đàn bà thì thích phung
phí tiền, cho nên có qua có lại hết sức hợp tình hợp ý.
Tuy
nhiên, bởi vì yêu nhau quá đậm đà nên tạo ra tội nghiệp
cũng hết sức sâu dầy. Ðời đời kiếp kiếp sinh ra trầm
luân, đọa lạc vào đường súc sanh, trở thành ngạ quỷ,
cuối cùng đọa địa ngục. Ðến nay đôi vợ chồng nầy
biến thành thảo mộc. Gốc cây nầy đáng lẽ gồm có hai
nhánh, nhưng nó lại sinh trưởng cùng một chỗ, nên mãi mãi
ràng buộc với nhau không xa lìa. Quý-vị thấy không, nhánh
bên trái bao quanh lấy nhánh bên phải, nhánh bên phải cũng
nhào sang ôm lấy nhánh bên trái, giống như đàn ông đàn bà
hai người ôm nhau vậy. Ðó mới thấy rằng đôi nam nữ nầy
tập khí ái tình si mê, hạ liệt bao kiếp rất sâu đậm.
Ngày nay chúng thành loại thảo mộc mà cũng không bỏ được
lòng si ái đó. Ở giữa hai gốc nầy có một cục đá, mà
hai người nầy quý như châu báu. Cục đá đó là gì? Nguyên
lai nó là trương mục ngân hàng của hai vị đó trong tiền
kiếp.
Mấy
năm trước có lần chúng tôi vào thành thuyết Pháp. Khi đi
ngang qua bờ sông thấy gốc cây nầy, liền nhặt đem về.
Quý-vị nhìn xem: đầu gốc cây nầy bị chặt đứt, rễ cũng
bị chặt mất luôn, lộ ra hai nhánh rất khô cằn, song hai
nhánh cây nầy vẫn triền miên ôm chặt lấy nhau. Quý-vị
không thấy đó đáng thương xót sao?
Như
vậy đủ thấy rằng tình yêu càng sâu đậm thì càng nguy
hiểm. Ðây không phải là chuyện nói chơi nói giỡn đâu.
Có người trong bụng nghĩ rằng: "Thầy ơi! Thầy nói Pháp
này tôi không thể tin được, bởi vì nó không có chứng minh,
không hợp lý. Ðại khái Thầy muốn dọa con nít, nói lời
chiêm bao thôi." Tin hay không là do quý-vị, tôi không có cách
nào làm quý-vị tin được bởi vì đây là Pháp rất khó nói,
khó thuyết. Người đã mê luyến ái thì dù mình có nói cách
nào đi nữa họ vẫn không thức tỉnh, không chấp nhận được.
Sự tai hại nhất trên đời là ái tình sâu đậm. Việc cao
thượng nhất là tu đạo thanh tịnh. Không phải người ta
không biết lý ấy; biết nhưng cố phạm là vì chẳng cách
gì dứt bỏ thói quen đã làm trong nhiều kiếp trước.
Tục
ngữ Trung Hoa có câu rằng: "Khi tay đã cầm cây củi khô rồi,
thì y khó chịu bỏ ra để đổi lấy cành hoa." Ðó là muốn
ví dụ những người luôn luôn chấp trước vào tình yêu.
Nếu mình nói với họ rằng, hãy bỏ đi những thứ luyến
ái đó để tu Ðạo là điều quý hơn, chắc chắn họ sẽ
cố chấp không muốn quay đầu lại. Rằng:
Thiên
vũ tuy khoan, nan nhuận vô căn chi thảo.
Phật
môn tuy quảng, nan độ bất tín chi nhân.
Nghĩa
là:
Trời
mưa rưới nước khắp nơi,
song
khó tươi nhuận cây cỏ không gốc.
Cửa
Phật tuy rộng thênh thang,
mà
vẫn khó độ kẻ chẳng lòng tin.
Tôi
đã bảo tồn gốc cây nầy lâu năm rồi. Có nhiều người
tôi không muốn cho họ thấy bởi vì có nói pháp nầy cho họ,
họ cũng chẳng tin. Tôi phải chờ cho thời điểm chín mùi
rồi tôi mới nói. Ngày 24 tháng 10, quý-vị từ khắp nơi xa
xôi đến đây để triều bái, tôi đem gốc cây nầy ra Vạn
Phật Ðiện. Tuy nhiên cho đến ba tuần sau tôi mới nói là
vì nếu không nói thì e chẳng còn thời gian nữa; nên bất
kể là quý-vị có tin hay không, tôi cứ kể nhân duyên của
gốc cây nầy cho quý-vị nghe.
Giảng
tối ngày 12 tháng 11, năm 1982
tại
Vạn Phật Thánh Thành
Nỗi
Bất Hạnh của Cửa Phật
Tới
lúc chết rồi mà vẫn cho là bí mật, bí mật, bí mật...
Mật đến chỗ rơi vào địa ngục vẫn còn mật.
Tôi
vừa nói cho quý-vị nghe công án của gốc cây đó, quý-vị
không tin cũng chẳng sao. Bây giờ chúng ta thảo luận đến
vấn đề sau đây, tuyệt đối không thể không tin được.
Tại
sao con người phải học Phật-pháp? Ðộng cơ tối thượng
không ngoài ý muốn "ly khổ đắc lạc, liễu sinh thoát tử."
Song chẳng may nhiều người có chí thoát đường mê nhưng
lại đi vào đường mê.
Theo
Phật-giáo vì muốn thoát luân hồi nhưng bởi chẳng cẩn thận
nên rất dễ rớt vào mê hồn trận. Nếu không biết khéo
dùng trạch-pháp-nhãn, sáng suốt mà lựa Pháp, thì dễ bị
những thứ tà tri tà kiến làm mê hoặc, rồi đi làm những
việc không nên làm.
Thí
dụ như muốn ly khổ đắc lạc, song lỡ xẩy chân rơi vào
cửa địa ngục. Lại còn những chuyện tệ hại hơn nữa,
tức là trong Phật-giáo Mật-tông có kẻ dạy phương pháp
gọi là Song Tu Pháp. Họ nói chỉ cần niệm thần chú gì gì
đó, trai, gái cùng nhau tu pháp "Hoan Hỷ Thiền." Còn nói đó
là pháp cao nhất, không những thỏa mãn được lòng dâm dục,
mà còn có thể tức khắc thành Phật. Song, thành Phật đâu
phải dễ dàng như vậy! Nếu không cắt đứt lòng dâm dục,
mà thành Phật, thì rất là vô lý. Trong thiên hạ không có
đạo lý nào như vậy cả.
Ðời
nay, đa số con người đều tham tu cho mau cho chóng, thích đi
đường tắt. Hễ nghe nói có phương pháp huyền diệu thì
liền bị mê hoặc, rồi rớt vào lưới ma, tới lúc chết
rồi mà vẫn cho là bí mật, bí mật, bí mật... mật đến
chỗ rơi vào địa ngục vẫn còn mật.
Kiếp
Sau Muốn Làm "Liên-Thể-Anh"
Ðồng
tính luyến ái là trái ngược lại với đạo lý trời đất;
hoàn toàn sai với luân thường.
Ý
kiến tôi vừa phát biểu không phải thái quá hay nguyền rủa
ai đâu. Trong Phật-giáo thật sự có những hành vi bại hoại
tổn đức như vậy. Do đó Phật-giáo mới không hưng thịnh
được.
Chuyện
nầy mình sẽ không bàn tới nữa, song còn vấn đề nghiêm
trọng hơn, nó liên quan đến toàn nhân loại, không thể không
đề cập tới. Ðó là chuyện đồng tính luyến ái càng ngày
càng nhiều. Cũng như ở Nữu Ước (New York) và Cựu Kim Sơn
(San Francisco) có tới hơn mười vạn kẻ đồng tính luyến
ái. Thậm chí có nhiều nhà chức trách công khai nhận rằng
mình là đồng tính luyến ái và tán thành chuyện này; lại
còn hô hào xã hội chấp nhận sự kết hôn giữa những kẻ
đồng tính luyến ái ấy. Chúng ta phải biết rằng đồng
tính luyến ái là trái ngược lại lý tự nhiên, ngược lại
với luân thường đạo lý. Trào lưu nầy là do yêu ma quỷ
quái khơi động; như châm dầu vào lửa, khiến con người
sớm đọa địa ngục.
Vừa
rồi tôi nói tới sự yêu đương ngu si của nam nữ, họ thề
rằng: "Tại thiên, nguyện tác tỷ dực điểu. Tại địa,
nguyện vi liên lý chi." Nghĩa là trên trời thì nguyện làm
đôi uyên ương. Dưới đất thì nguyện làm cây liền cành.
Trai gái kết hôn là chuyện thông thường, nên cổ nhân có
câu: "Nam nữ chi sự nhân chi đại luân" nghĩa rằng chuyện
nam nữ là chuyện luân thường của loài người. Nếu mình
muốn đi thuận với con đường sinh tử thì mình kết hôn,
sinh con, điều đó chẳng đi ngược lại với trời đất.
Song nếu mình đồng tính luyến ái là trái ngược lại với
đạo lý trời đất; hoàn toàn sai với luân thường. Quả
báo là mình sẽ sinh ra làm liên-thể-anh, hai đứa trẻ sinh
ra tay chân dính liền nhau. Hiện tại trên thế giới xuất
hiện rất nhiều đứa trẻ như vậy. Trong tương lai không
xa sẽ còn xuất hiện nhiều thú vật thân thể dính liền
như thế. Bởi vì những người nầy đã làm chuyện yêu quái,
những
chuyện thấp hèn, hạ tiện, cho nên sẽ đọa làm súc vật.
Do
đó nếu quý-vị chưa học Phật, nên ở ngoài đời không
giữ qui củ, làm bừa bãi, thì không có gì lạ. Còn nếu quý-vị
học Phật rồi, thì cần phải hiểu sâu xa đạo lý nhân quả,
đừng phạm tội lỗi. Phải hết sức cẩn thận, thật cẩn
thận.
Tham
Thiền:
Tham
Thiền Trước Nhất Cần Xây Nền Tảng
Nền
không vững, nhà sẽ lung lay,
Gió
thổi thì ngã, mưa to liền sập.
Người
học Phật có kẻ thích tham thiền, có người thích học Kinh,
thuyết Pháp, nghiên cứu Luật Tông, Mật-tông hay Tịnh-độ
Tông. Bất luận là thích tông phái nào, quý-vị cần kiên
tâm trì chí, dụng công tu hành thì mới thành tựu.
Nếu
không chuyên tâm nhất chí thì học gì cũng như không. Mình
tham thiền hai ngày rưỡi lại nghĩ muốn niệm Phật, niệm
Phật nửa ngày lại muốn học Luật, học Luật chưa bao lâu
lại muốn học Mật; mục tiêu rối loạn không chuyên nhất
được. Tại sao mình không thể chuyên nhất? Tại vì mình
còn hướng ngoại truy cầu. Chân đạp hai chiếc thuyền cùng
một lúc, không biết đi lên Giang Bắc tốt hay đi xuống Giang
Nam hay? Vì vậy, cả một đời vẫn cứ lầm lẫn.
Vì
thế tham thiền lúc nào cũng phải tinh tấn, một giây cũng
không được làm biếng, tham cho tới lúc:
Sơn
cùng thủy tận nghi vô lộ,
Liễu
ám hoa minh hựu nhất thôn.
Nghĩa
là:
Núi
cùng, sông bặt, tưởng hết đường,
Tàng
liễu, hoa giăng, hiện thôn trang.
Tức
là mình sẽ thấy một bầu trời khác, sẽ thấy được sự
diệu thú thiên nhiên vô cùng. Nhưng mình cần phải tham thiền
đến cực điểm, đến chỗ "đăng phong tạo cực" nghĩa là
lên tới đỉnh cao nhất, đạt tới chỗ tột bực thì mới
có một chút hy vọng; nhưng hy vọng đó cũng không nhiều lắm.
Tuy có một chút hy vọng nhưng mình cũng đừng chấp đắm
vào hy vọng đó. Nếu không mình sẽ tạo thêm sự phiền toái,
tức là chấp vào cái không có ý nghĩa gì cả. Tham thiền
là phải chân thật mà dụng công.
Trước
hết cả mình phải biết luyện cho chân biết nghe lời, không
làm loạn cũng không làm đau. Làm thế nào để chân không
còn đau nữa? Có thần chú nào niệm cho chân hết đau? Hoặc
giả là mình phải uống thứ thuốc gì đó thì chân sẽ bớt
đau. Không phải thế đâu! Mình cần phải trải qua cơn đau
nhức đó một thời gian, dần dần chân mình mới chịu nghe
lời mà hết đau. Nếu mình không nhẫn nại được cái đau,
vừa mới đau lại đổi chân, thì cái chân vĩnh viễn sẽ
không bao giờ chịu nghe lời mình; bởi vì mình đã chìu chuộng
nó quá mức. Khi chân đau mình phải dọa nó như dọa con nít.
Nếu cha mẹ thương không cho con chịu khổ, thì tương lai những
đứa đó không cách gì chịu đựng được khổ. Cái chân
cũng như con nít vậy, mình sợ nó đau nhức thì lúc nào nó
cũng đau nhức. Lúc chân đau tất nhiên mình thấy đau, lúc
chân không đau, mình cũng thấy nhức nhối là bởi vì mình
đã tập cho nó có một thói quen xấu.
Mình
phải luyện cho cái chân, cái lưng biết nghe mình; để chúng
không còn đau không còn nhức; rồi thì mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân, ý đều nghe lời mình cả, sáu căn nầy không còn chạy
ra ngoài mà truy cầu nữa. Không bị sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp làm cho xoay chuyển. Không bị lục căn, lục trần
chuyển động thì đó chính là biết dụng công. Cho nên nói:
Nhãn
quán hình sắc nội vô hữu.
Nhĩ
thính trần sự tâm bất tri.
Nghĩa
là:
Mắt
thấy hình sắc nhưng lòng chẳng màng.
Tai
nghe âm thanh song tâm chẳng biết.
Mình
phải thường hồi quang phản chiếu. Ðừng truy cầu những
điều bên ngoài, luôn luôn trụ vào pháp môn căn bản, tức
là tham thoại đầu "Ai là người niệm Phật?" Tức là làm
sao nắm được gốc, đừng chạy theo ngọn. Ðối với những
vấn đề chi tiết nhỏ nhặt, đừng nên để tâm âu lo, như
vậy thì từ từ sẽ hiểu thấu mọi sự.
Lúc
tu thiền, khi chưa biết tập luyện làm sao để ngồi kiết
già hay bán già cho thật vững vàng thì đừng nên ham học
làm sao tham thiền. Bởi vì nền tảng chưa vững chắc cơ mà!
Do đó, trước tiên phải xây nền tảng thiệt tốt rồi mới
tham thiền.
Như
tuần đầu tiên, mình phải san bằng mặt đất. Xây nhà, trước
hết phải dọn sạch đất đai, đạp bằng nó ra.
Vào
tuần thứ hai thì phải đặt móng. Xây móng cần tốn nhiều
công phu; tức là mình phải tu hạnh nhẫn nại: chịu đau,
chịu đói, chịu khát, chịu rét; bất kỳ hoàn cảnh gì mình
cũng phải chịu đựng. Tuy đây là việc tốn công tốn sức,
song nó là việc tất yếu phải làm. Ðất cần được đạp
bằng, móng cần xây cho chắc thì nhà dựng lên mới kiên cố.
Nếu gió thổi, nhà sập hay mưa tạt, nhà rã thì tức là móng
đặt không chắc chắn, nền xây chẳng vững vàng vậy.
Ðến
tuần thứ ba thì có thể dựng cột, trụ, bắt kèo, khung cột,
mái chèo.
Qua
tuần thứ tư, thì xây tường, bắt cửa, đóng cửa sổ, lợp
ngói. Ðó là thứ tự xây nhà: Ta không thể "Cuốc một phát
mà đào thành giếng" được. Không việc gì làm mà thành công
tức khắc.
Tham
thiền hay niệm Phật cũng vậy; học Giáo, tu Mật, tập Luật
đều như vậy cả. Tức là phải hết sức chuyên tâm chú
ý. Tâm phải thành khẩn, đừng tham muốn thứ cao siêu xa vời,
đừng nghe người ta nói Mật-tông tốt, thì chạy theo Mật-tông.
Ðừng dại mà mê muội, tới lúc chết vẫn không tỉnh ngộ.
Không chấp nhận những bằng chứng trước mắt, thì thật
là mình mê quá độ. Mật, mật rồi chẳng biết do đâu, bổng
chết mất. Thật là bí mật. Do đó mật thì đúng là mê.
(Hai chữ này, tiếng Tàu phát âm giống nhau) Ủ Hết sức mê
muội.
Quý-vị
học Phật cần phải nghiên cứu chân lý đừng nên nghe theo
một cách mù quáng. Mình cần phải: "Thân cận hữu đức,
viễn ly hương nhân." Nghĩa rằng cần phải gần gũi những
bậc đức độ và xa lánh những kẻ tà ác. Kẻ xấu ác là
thứ chuyên lừa người. Người có đức độ thì không gạt
ai cả. Kẻ vô đức thì luôn dùng những thủ đoạn xảo trá;
thì làm sao có đức được. Chỉ có những ai không lừa bịp
thì càng ngày công đức càng nhiều; lúc đó đức hạnh mới
tồn tại được. Quý-vị phải quan sát và phán xét người
khác ở khía cạnh nầy. Ðừng nhìn vẻ bên ngoài mà nói rằng:
"Ôi! Tôi thấy anh chàng đó rất đức độ, thật là một
vị thiện-tri-thức." Thực ra chẳng xác thực, bởi vì quý-vị
phải rõ thân thế anh chàng đó ra sao? Hiểu rõ thì mới đáng
kể.
Trong
thời mạt pháp con người đều phạm chứng bệnh thông thường
là hay nói những chuyện xa vời, lấy lỗ tai thay cho con mắt,
nghe người khác nói tốt là chạy theo liền. Chạy theo như
vậy tốt xấu thế nào không cần biết, thậm chí bị người
ta lừa mà vẫn chưa tỉnh ngộ. Học theo những điều mê tín
tài sắc, phong thủy, bói toán, đều là những thứ hết sức
đáng thương xót.
Hôm
nay tôi đọc báo thấy ở tỉnh Phước Kiến, Trung Hoa Ðại
Lục, có sáu đứa trẻ, trốn ra biển tự sát để thành tiên.
Ðó là lý do gì? Là bởi vì do những thứ tà thuyết làm mê
hoặc lòng người. Họ nói rằng nếu ai làm ác thì thành quỷ,
làm tốt thì thành thần, thành tiên. Thế nào là chuyện tốt?
Là đừng có sợ chết. Bởi vì ở nơi thôn xóm xa xăm, nhiều
đứa trẻ rất là chân thật, chất phát, nên nghe thế chúng
tin ngay. Tin là người tốt thì không sợ chết, mà khi chết
có thể thành tiên, nên sáu đứa trẻ nầy tự sát tập thể
để mong thành tiên. Chúng nghĩ rằng "Hồi xưa có tám ông
tiên, đại khái là do tự sát tập thể. Nay mình cần phải
tự sát tập thể để thành sáu ông tiên, khỏi bị trôi trong
lục đạo luân hồi." Cho nên chúng tự sát tập thể để
thành tiên.
Chúng
nó có thể thành tiên hay không? Tôi có thể chứng minh rằng
chúng chẳng thành tiên. Tại sao chúng chẳng thành tiên? Bởi
vì chúng hết sức si mê. Người thành tiên rất thông minh
chẳng ngu si. Chẳng vị tiên nào không hiểu chân lý, không
biết phải trái đúng sai. Làm thế nào chúng đồng thời tự
sát như thế để thành tiên? Nếu như thành tiên quá dễ dàng
như vậy thì sao đại chúng không mau tự sát để thành tiên
cho rồi. Ðây là chuyện không thể có được. Những người
nhà quê đó hết sức là đáng thương. Ðui mù tin theo tà thuyết
khiến bọn trẻ chết oan uổng. Ðây là chuyện thật đáng
thương xót.
Bây
giờ lại hỏi rằng vì sao mấy đứa nhỏ không sợ chết,
lại muốn thành tiên? Là vì hoàn cảnh bức bách mà thành.
Thấy rằng đời sống con người cũng không hơn gì cái chết.
Làm người giống như khúc thịt biết đi thì có ý nghĩa gì
đâu? Nên mới tìm đường giải thoát: cùng tự sát tập thể.
Sáu đứa trẻ đó viết trên giấy chữ "Tử" ngàn lần như
vậy. Ngày nào cũng viết chữ chết, chết, chết... Từ sáng
đến chiều cứ nghĩ đến chữ chết. Bởi vậy những đứa
trẻ nầy dại dột, bị chuyện mê tín dụ hoặc khiến quên
mất hẳn mục tiêu lẫn phương hướng chính đáng.
Là
Phật-tử, chúng ta không nên mê tín mà phải trừ mê tín.
Thế nào là mê tín? Tức là hồ đồ, nghe theo những điều
người ta nói mà không suy xét. Người ta nói gì mình cũng
tin cả, tin một cách mơ hồ, nên gọi là mê tín. Mê tín chưa
phải đáng sợ, đáng sợ nhất là tin cái điều mê, tin thứ
ngoại đạo điên đảo. Có những người tự cho mình là thông
minh, song điều chánh thì không tin mà gặp điều giả là tin
ngay, đó là mê trong mê. Họ không nhận thức được chân
lý, đem điều chân thật cho là giả dối, đem điều giả
dối cho là chân thật. Cũng như sáu đứa trẻ đó, vốn muốn
chết để thành tiên. Ðó là một phương pháp để lừa gạt
người nhưng sáu đứa trẻ đó lại tin theo. Nếu dạy chúng
rằng tu hành mới thành tiên, e rằng chúng nó chẳng tin. Bởi
vậy trên thế giới rất nhiều kẻ đáng thương xót và vô
số những chuyện đáng tiếc. Một lời khó diễn bày hết
được.
Giảng
tối ngày 28 tháng 11, năm 1982
Quang
Âm Thiên và Khoa Học
Khoa
học vốn không hiện hữu. Bởi vì mình gọi nó là khoa học
nên nó là khoa học.
Hỏi:
Phật-giáo nói: "Thủy tổ của loài người từ Quang Âm Thiên
tới." Ðiều nầy phải chăng là mâu thuẩn với lý luận của
khoa học? Ví như, khoa học có thuyết tiến hóa, nói rằng
con người biến hóa từ trạng thái vi sinh vật tối sơ, trãi
qua không biết bao nhiêu ức triệu kiếp, từ từ tiến hóa,
cuối cùng mới biến thành khỉ rồi sau đó biến thành người.
Ðiều này hợp với Phật lý chăng?
Ðáp:
Con người từ Quang Âm Thiên lại; song không phải từ bảy
ức triệu năm trước đâu, có lẽ cả bảy ức ức triệu
năm trước họ đã hiện hữu ở đây rồi. Các vị trời
ở Quang Âm Thiên tới nhân gian, không phải kẻ hoàn thiện
gì mà họ đã mất trí huệ rồi. Vì sao? Thì cũng giống như
khi mình đầu thai thác sanh vậy. Lúc ban sơ khi thế giới chưa
có nhân loại, chưa được khai hóa, toàn là hỗn độn (như
cái trứng gà vậy). Các vị trời bay tới thế giới này,
đông như ruồi, nghĩ rằng ở đây có đồ ăn ngon lành lắm.
Các vị ấy từ Quang Âm Thiên xuống, có lẽ đã du hành một
thời gian rất lâu mới tới được địa cầu, hệt như hỏa
tiển phóng lên không gian, bay vào quỷ đạo trãi qua thời
gian nhiều năm mới tới đây. Các vị trời tới địa cầu
chẳng có mục đích gì đặc biệt. Các vị ấy du hành, rồi
lạc mất phương hướng, nên tới địa cầu hốt hoảng cả
lên. Sau khi tới địa cầu thì họ không còn thông minh như
khi ở trên trời nữa. Họ chỉ còn lại một thứ tánh giác
tri mà thôi, không như lúc còn ở trên cõi trời. Cũng giống
như con người vốn thông minh nhưng khi chết rồi đầu thai
ra thành con nít thì quên hết chuyện quá khứ. Cũng giống
như người bị đụng xe, hôn mê bất tỉnh, chẳng còn tri
giác việc gì cả.
Tuy
nói rằng họ từ Quang Âm Thiên xuống, song họ đã dần dà
mất hết đức tánh và trí huệ sẵn có, chỉ còn lại một
chút xíu tánh giác tri mà thôi. Tuy là từ trời xuống, song
chỉ một số ít thôi, không ai biết là bao nhiêu. Không có
lịch sử để tra khảo, thời gian cũng quá lâu xa, nên không
cách gì kiểm chứng đặng.
Ðiều
mình gọi là "khoa học," thì cũng không có gì là khoa học.
Ðây chỉ là một danh từ, mình đặt tên nó là "khoa học."
Kỳ thật, nó chỉ là một thứ lý luận, lý tánh. Lý luận
ấy viên mãn hay chăng? Phải dựa vào kiến giải và năng lực
hiểu biết của các bạn. Nhiều vị hiểu rộng lắm. Song
có kẻ khác thì chưa học qua khoa học, không hiểu khoa học
là gì. Phải chăng kẻ chưa học qua khoa học thì chẳng có
khả năng lý luận? Không phải! Bất luận là học hay không,
tự tánh mỗi người đều có khả năng lý luận. Chớ nói
rằng học qua khoa học thì mới có khoa học (hiểu khoa học),
chưa học qua khoa học thì không có khoa học (không hiểu khoa
học). Cũng giống như Phật tánh, ai ai cũng sẵn có.
Khoa
học chỉ là một bộ phận nhỏ nơi Phật tánh. Nó không phải
là một thứ lý luận hoàn hảo nhất. Bạn nói rằng người
ta nghiên cứu khoa học như thế như thế đó, và viết ra luận
án như thế như thế đó; kỳ thật đó chỉ là một sự điên
đảo chấp trước của con người. Giống như "gắn một cái
đầu lên trên đầu mình" (làm việc chấp trước, vô ích,
ngược đời). Không có việc gì cần, mà cố tìm việc lăng
xăng. Lăng xăng bận rộn tìm kiếm mãi, thì chẳng tìm ra ất
giáp gì cả. Dù là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu mãi, họ
chẳng thể tới đặng chân chính kết luận.
Con
người ta quá chấp trước vào khoa học, cho rằng nó là hay
nhất. Kỳ thật mọi thứ đều có sẵn trong tự tánh của
ta, không cần mình hướng ngoài tìm kiếm. Khi bạn tìm bên
ngoài, bạn sẽ mãi mãi chẳng tìm ra. Bạn nói tìm ra nó rồi
đúng là thứ thiệt; song nó chỉ là đồ giả mà thôi. Bởi
vì cái chân thật thì không thể tìm ra hay nói đến. Khoa học
vốn không hiện hữu (không có thực thể) bởi vì mình đặt
tên nó là khoa học, nên gọi là khoa học.
Giảng
ngày 28, tháng 11 năm 1982
Tánh,
Thức, Ý, Tâm
Không
bị ngoại cảnh chi phối, đó chính là tu hành. Bị ngoại
cảnh chuyển, tức là đọa lạc.
Hỏi:
Tánh, thức, ý và tâm khác nhau như thế nào?
Ðáp:
Như đứa con nít mới sinh ra đời rất là vô tư, không có
quan niệm gì về mình, về chúng sinh, về thọ mạng, thì đó
cũng ví như là "Tánh." Khi đứa con nít biết được làm sao
để bú sữa mẹ thì đó ví như là "Thức". Sau khi uống sữa
mẹ, lại biết mặc áo, không mặc áo thì cảm thấy lạnh,
biết hổ thẹn; rồi cảm thấy đói, khát, lạnh, nóng, thì
giai đoạn đó ví như là "Ý." Cho tới khi lớn lên, lúc đó
lại muốn cái này cái nọ, đó là có "Tâm" vậy. Ðây là
bốn thứ tâm, nhưng cũng có thể nói là một, chúng nó hổ
tương quan hệ không thể phân ly được, vì cùng một nhà.
Tuy là bốn danh từ khác nhau nhưng bản tánh lại là một.
"Nghiệp" là hậu quả căn bản mà chúng tạo nên.
Bây
giờ nói rộng ra một chút, thế nào gọi là "Phật." "Tánh"
tức là Phật. Thế nào là Thần? "Thức" của mình tức là
thần. "Ý" là tâm phân biệt và "Tâm" là sự suy nghĩ vọng
tưởng. Bản "Tánh" thì lúc nào cũng quang minh sáng suốt, không
có mình, không có người, không có rơi vào số lượng. Nhưng
khi có "Thức" rồi thì rơi vào danh số, rớt vào phân biệt.
"Ý" cũng là sự phân biệt, cũng gọi là thức thứ sáu. Thức
nầy so ra thì rất vẩn đục. Ngược lại thức thứ bảy
và thức thứ tám thì thanh tịnh một chút. Thức có tám loại:
mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý là sáu thức đầu, cộng thêm
thức thứ bảy và thức thứ tám. Bản thân của thức thì
không phải là tám cái mà vì trên mặt danh từ nên phải phân
làm tám. Nhưng nói một cách tổng quát thì chỉ là một, một
nhưng lại có tám cương vị khác nhau. Tuy có tám cương vị
khác nhau nhưng vẫn do một thức chi phối khống chế. Tám
mà một, một mà tám. Tám không ngại một, một không ngại
tám. Từ nơi một sinh ra tám, từ nơi tám thâu hồi thành một,
đó gọi là thức.
"Ý"
tức là tâm phân biệt của mình, tức là thức thứ sáu. "Tâm"
không những phân biệt mà đầy dẫy vọng tưởng. Trong sáu
thức đầu có thể nói là loại có tánh tri giác, là do nơi
lục căn phát sáu thứ tri giác đó. Sáu căn tức là: mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, và ý; phát xuất ra thấy (thị giác),
nghe (thính giác), ngửi (khứu giác), nếm (vị giác), sờ (xúc
giác), hiểu (tri giác). Con người tạo tội nghiệp là ở nơi
sáu căn đó, tu hành cũng từ nơi sáu căn này. Nếu không bị
ngoại cảnh chi phối thì đó chính là tu hành. Nếu bị cảnh
giới bên ngoài làm cho xoay chuyển thì tức là đọa lạc.
Thật
Ðau Lòng Cho
Nền
Giáo Dục Hiện Tại
Luôn
luôn y theo tinh thần đại công vô tư,
Quang
minh lỗi lạc, với tinh thần vô úy.
Ngày
nay nền giáo dục trong rất nhiều nước đang bị suy sụp.
Tuy nhiên vẫn có một số người phấn tấn nổ lực mong cứu
vãn cơn nguy trầm luân đạo đức. Việc làm của kẻ phấn
tấn nổ lực so với kẻ đọa lạc giống như tạt một ly
nước để dập tắt căn nhà đang cháy lớn. Nguyên nhân vì
sao nền giáo dục sụp đổ như vậy? Ðó là do con người,
những vị nhân sĩ trong nền giáo dục không chịu cải thiện,
không biết cầu tiến. Tuy thấy học sinh càng ngày càng đọa
lạc, giết người, phóng hỏa, cướp giựt, hút ma túy, nhưng
họ coi những chuyện này như không. Thậm chí còn công khai
cổ vỏ học sinh hút ma túy, phá thai, tự do phóng túng, mặt
tình dùng thuốc ngừa thai v. v... Những hành vi tồi tệ ấy
chỉ làm ý chí học sinh lụn bại, lương tri tiêu tán.
Tuy
nhiên một số nhà giáo dục vẫn còn có tâm tận tụy; hết
sức hô hào để cứu vãn sự trầm luân đó; vì thanh niên
mà vun đắp lại cơ sở tốt đẹp. Nhưng phần đông kẻ làm
giáo dục thì tâm lý tối tăm, cổ xúy những chuyện dâm dục,
bại hoại luân lý, tổn thương thuần phong, khiến chí nguyện
của thanh niên, những bậc anh hùng, hiền tài, bị sụp đổ,
thiện căn giảm sút, đứt đoạn. Trước khi khai phát trí
huệ chân chính, họ đã học toàn những thứ điên đảo xằng
bậy.
Có
những nhà giáo dục, thậm chí hô hào cải tạo nhân tâm.
Nhưng những kẻ đó là giặc ở trong làng đạo đức. Bởi
vì họ dùng thứ văn chương bại hoại để che đậy những
thứ xấu xa; cực lực phản đối nền giáo dục chân chính
là nền giáo dục có tính cách xây dựng. Họ giống như những
kẻ đui mê hoặc những kẻ vô tri. Những điều này làm cho
người ta đau khổ và lo lắng.
Những
nhân sĩ phục vụ trong nền giáo dục, phải luôn luôn y theo
tinh thần đại công vô tư, quang minh lỗi lạc, có tinh thần
vô úy để gây dựng lên tầng lớp thanh niên biết làm chủ
tương lai. Ðược vậy thì mình sẽ không xấu hổ với lương
tâm, không hổ thẹn làm thầy kẻ khác. Nếu quý-vị không
sửa đổi những lỗi lầm đó, đầy dẫy những tà tri, tà
kiến, những hiểu biết sai lầm, những sự đố kỵ chướng
ngại, chỉ muốn cầu danh mong lợi, đè người khác xuống
để mình đứng lên trên, luôn luôn có hành vi hư ngụy lừa
dối, thì nền giáo dục vĩnh viễn không chấn hưng được.
Những bậc anh tài sẽ bị mai một, tiền đồ của quốc gia
cũng sẽ rất nguy hiểm. Hy vọng các nhà giáo dục hô hào
để thanh niên chú ý. Luôn luôn tìm phương kế để cứu vãn
tầng lớp thanh niên, để họ khỏi phải rơi vào con đường
bế tắc, rồi đọa lạc. Ðược vậy th@¬ thực là diễm
phúc cho xã hội quốc gia lắm.
Giảng
tháng 12 năm 1982

|