cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Ðừng
Chờ Tới Lúc Già
Mới
Học Ðạo
Tại
sao mãi tới hôm nay mình vẫn chần chờ, chưa chịu tu?
Sinh
ra ở thế gian này, chúng ta phải biết mau mau tu hành, đừng
nên chờ đợi. Lúc trẻ không tu, chờ đến khi đầu bạc
mới tu thì nhiều khi không còn kịp nữa, cho nên có câu rằng:
Mạc
đãi lảo lai phương học Ðao,
Cô
phần tận thị thiếu niên nhân.
Nghĩa
là:
Ðừng
chờ đến già mới chịu tu,
Mộ
hoang lắm kẻ tuổi còn xanh.
Người
trẻ nhưng cũng mau đi đến chỗ chết. Con quỷ vô thường
đâu cần biết người già hay trẻ, khi thời điểm đến,
thì nó không khách sáo với ai cả, nó sẽ lôi mình tới gặp
Diêm-la-vương. Cho nên:
Dương
gian vô lão thiếu.
Âm
gian thường tương phùng.
Nghĩa
là:
Trên
dương thế, kể gì già trẻ.
Dưới
âm phủ, thường đụng mặt nhau.
Các
vị nên chú ý: Thời gian rất quý báu. "Một chút thời gian
là một chút mạng sống." Cho nên chớ tùy tiện để cho thời
gian trôi qua lãng phí. Chờ đến lúc tam tai (nạn lửa, nạn
nước, nạn gió) tới, mình tránh được chăng? Vì vậy lúc
trẻ mình cần phấn tấn tu hành, đừng chờ tới ngày mai
mới tu. Hôm nay, tức thời tu hành, đó là thượng sách.
Có
người nghĩ rằng: "Ngày hôm nay mình khoan tu đã, chờ đến
ngày mai hãy tu." Nhưng ngày mai đến, mình lại hẹn đến ngày
mai nữa, hẹn hoài hẹn mãi, hẹn đến lúc đầu bạc, mắt
mờ, tai lạng, răng long. Lúc đó dù muốn tu, mà tứ chi chẳng
còn linh hoạt, thân nào có nghe lời mình. Bấy giờ, khổ vô
cùng vậy!
Các
vị nên nhớ rằng, chúng ta sống trên đời nầy cũng giống
như con cá nằm trên vũng nước nhỏ, không bao lâu nước sẽ
cạn. Có câu:
Thị
nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm,
Như
thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc;
Ðại
chúng!
Ðương
cần tinh tấn, như cứu đầu nhiên;
Ðản
niệm vô thường, thận vật phóng dật.
Nghĩa
là:
Một
ngày đã hết, mạng cũng giảm dần,
Như
cá cạn nước, thử hỏi vui gì?
Ðại
chúng!
Hãy
siêng tinh tấn, như đầu bị đốt,
Chỉ
nhớ vô thường, chớ mặc buông lung.
Từ
vô lượng kiếp đến nay, chúng ta không biết làm sao tu, nên
sinh rồi lại chết, chết rồi lại sinh, đó là điều mà
mình phải hết sức đau lòng. Tại sao tới ngày hôm nay mình
vẫn còn chần chờ, chẳng chịu tu? Quý-vị nghĩ xem, thời
gian không chờ đợi ai, trong nháy mắt thì sinh mạng mình đã
kết thúc rồi.
Tình
Ái và Dục Vọng là Tảng Ðá Buộc Chân Người Tu Ðạo
Cho
đến hơi thở cuối cùng, cũng nên đối xử tốt với mọi
người, nhưng đừng để tình ái xen vào.
Trong
nghiệp sinh tử, tình ái và dục vọng là gốc chướng Ðạo.
Là người tu Ðạo, bất luận đối với người hoặc đồ
vật, nếu sinh ra lòng ái dục thì sẽ chướng ngại sự tu
hành, làm mình không phát triển được. Nói một cách rõ ràng
hơn, ái dục là sinh tử, sinh tử chính là ái dục. Ái dục
là nguồn gốc của sinh tử. Nếu không phá vỡ tình ái dục
vọng vô minh, thì mình sẽ không thể ra khỏi biển lớn sinh
tử. Làm sao để thoát sinh tử? Rất giản dị, chỉ cần "đoạn
dục khử ái," nghĩa là dứt dục vọng, trừ ái tình, chẳng
cách nào khác hơn.
Người
tu Ðạo đừng nên suy nghĩ về tình ái dâm dục, càng không
nên có hành vi yêu đương. Ðối với bất cứ người nào,
không nên sinh lòng yêu đương; hễ có lòng yêu đương thì
gốc khổ không thể tránh được; vì có lòng yêu đương thì
khó thoát vòng sinh tử.
Có
người nói: "Con người là động vật có tình cảm, chuyện
ăn uống và dâm dục là việc tự nhiên." Chính bởi vì nhân
duyên đó, nên cần phải tu Ðạo. Trong Kinh Tứ-Thập-Nhị-Chương
có dạy rằng:
Mình
xem những người già như mẹ mình, những người lớn tuổi
như chị, những cô trẻ là em và những đứa nhỏ là con.
Hãy Sinh ra lòng độ thoát họ và diệt trừ những niệm ác.
Là
kẻ tu đạo mình phải luôn luôn quán tưởng như vậy. Nếu
quả không có ái, phải chăng khi gặp người khác mình cứ
ngậm miệng chẳng để ý đến họ? Không đúng! Mình không
chấp trước vào tình ái, không sinh lòng yêu đương, nhưng
không sinh ra lòng ruồng ghét kẻ khác, cũng không thể nói
rằng: "Bởi vì tôi không thương người ta nên tôi phải ghét
họ." Ðó là điều sai lầm. Như vậy thì thế nào là đúng?
Tức là không thương mà cũng chẳng ghét ai. Không thương,
không ghét chính là Trung-đạo.
Tu
hành là tu cái gì? Chính là tu pháp Trung-đạo. Ðối đãi với
người mình luôn luôn bình đẳng, dùng tâm từ bi; nhưng phải
luôn cẩn thận, chớ để rớt vào cạm bẫy ái tình.
Quý-vị
nên chú ý! Ðừng nên bị tình ái làm cho mê hoặc. Nếu có
người gởi cho quý-vị phong thơ tình, quý-vị cảm thấy lòng
mình vui mừng, giống như có con thỏ nhảy nhót, con tim hết
sức hoan hỉ, cho rằng hễ có kẻ yêu mình, là chuyện tốt.
Sự thật là người yêu quý-vị chỉ muốn kéo quý-vị đọa
lạc mà thôi.
Quý-vị
thiện-tri-thức nên tựa vào chỗ này mà dụng công phu, phải
thật sự hiểu rằng: "Ái tình là thứ phiền hà vô cùng."
Từ vô lượng kiếp tới nay, sở dĩ sanh tử không thể chấm
dứt được là vì sao? Chính là bị hai chữ "ái tình" làm
hại. Nếu như mình có thể "đoạn dục khử ái" thì mới
có thể siêu thoát Tam-giới, không còn sanh tử nữa.
Thứ
mình thích thì mình yêu, không thích thì ghét bỏ. Hễ khi thích,
tức là mình đã sinh lòng yêu thương. Hễ khi ghét lòng mình
sinh ra sự ghét hận. Cả hai thứ, yêu, ghét đều là do tình
cảm mà có. Người tu hành xử lý sự việc không dựa vào
tình cảm. Tuy nhiên cũng không thể giống như ông Quan Công,
ngồi chễm chệ trên bàn xử lý, người ta đảnh lễ, ông
cũng không thèm nhìn tới. Ðối với người, mình phải có
sự hòa nhã, lễ độ, không nên cống cao, ngạo mạn, coi thường
kẻ khác.
Tóm
lại, đối với người khác mình phải có lòng từ bi, tìm
phương tiện giúp đỡ họ. Lúc nào cũng nên nghĩ đến người
khác và khiến họ sinh lòng hoan hỉ. Cho đến hơi thở cuối
cùng, cũng nên đối xử tốt với mọi người, nhưng đừng
để tình ái xen vào. Các vị nhớ lấy! Ðó là pháp môn vô
cùng trọng yếu.
Hãy
Nỗ Lực vì
Hòa
Bình Thế Giới
Nếu
trong vũ trụ đầy chính khí an lành,
trái
đất sẽ không bùng vỡ.
Thế
giới hiện tại là do nhiều quốc gia hợp thành. Mỗi một
quốc gia gồm nhiều gia đình làm nên. Mỗi gia đình gồm nhiều
người tạo thành. Vì vậy mỗi cá nhân có quan hệ liên đới
rất lớn đối với toàn thể thế giới.
Nếu
lòng người trên thế gian thanh tịnh, không có tư tưởng nhiễm
ô thì thế giới nhất định sẽ hòa bình không có chiến
tranh. Ngược lại, lòng người ô nhiễm thì thế giới sẽ
trở thành xấu xa. Ðạo lý này con người ai cũng hiểu nhưng
họ không thực hành. Biết mà cố phạm lỗi, đó thực là
đáng thương xót vậy.
Sở
vị hảo, yếu tòng tâm tác khởi.
Sở
vị hoại, dã tòng tâm tác khởi,
Nghĩa
là:
Ðiều
tốt là do tâm tạo ra.
Ðiều
xấu cũng từ tâm làm nên.
Thế
giới hiện tại đang tới chỗ sống buổi sáng nhưng không
chắc sẽ có buổi chiều. Bởi vì sao? Bởi vì địa cầu sắp
đi đến chỗ bùng nổ, đã đến lúc vô cùng nguy hiểm. Tại
sao địa cầu đi đến chỗ bùng vỡ? Ðó là vì "tham, sân,
si," ba thứ ác khí trùm tỏa khắp mọi nơi. Nếu trái đất
bị hủy diệt thì con người chẳng còn tồn tại được nữa.
Tuy
vậy, con người không để tâm nghiên cứu vấn đề này, suốt
ngày cứ sống trong sự mê muội, chết đi trong mộng mơ. Ðể
thời gian trôi đi một cách hồ đồ, không biết rằng sự
nguy hiểm trùng trùng. Có người chỉ quan tâm đến sự nguy
hiểm trước mắt, nhưng không biết nghĩ đến cứu cánh của
tương lai. Họ chỉ lo rằng loài người càng ngày càng đông
thêm, sợ rằng không có thực phẩm ăn, không có áo quần
mặc, không có nhà cửa ở, không có tài nguyên, nhiên liệu.
Họ cho những vấn đề này là vấn đề trọng yếu. Kỳ thật
những vấn đề đó còn nhỏ, vì tới lúc ấy, mọi sự tự
nhiên sẽ được giải quyết.
Thật
ra vấn đề "sanh tử" của mọi người mới là vấn đề trọng
đại. Giây phút này mình còn, nhưng phút sau không còn nữa,
trong chớp mắt mình sẽ ra đi. Cái chết sẽ tới ngay trên
đầu mà mình không hay. Thương thay con người đối với vấn
đề nghiêm trọng như vậy mà rất lãnh đạm, coi như chuyện
chiêm bao vậy. "Từ đâu mình sanh ra, chết đi về đâu?" Không
ai biết cả. Cho dù có biết, mình sẽ làm sao đây? Biện pháp
duy nhất là "cải ác hướng thiện" (sửa bỏ điều ác, chỉ
làm điều thiện). Sửa đổi con người chính mình, đừng
sinh lòng ích kỷ, tư lợi, mà phải có lòng từ bi; vì lợi
ích tất cả chúng sinh và phải học tập tinh thần của Bồ-tát.
Hành
vi của mọi người là do tâm chi phối. Bởi vì tâm nên mình
biến thành các loài trong mười Pháp-giới. Một niềm thiện
thì sinh lên trời; một niệm ác thì bị đọa địa ngục.
Rằng:
Nhất
niệm giác tựu thị Phật,
Nhất
niệm mê tức chúng sinh.
Nghĩa
là:
Một
niệm giác ngộ thì là Phật,
Một
niệm hồ đồ thì là chúng sinh.
Nói
một cách giản dị là khi có tư tưởng lợi ích cho kẻ khác,
đó là Bồ-tát; một tư tưởng làm lợi ích cho chính mình,
thì đó là chúng sinh. Một ý niệm hồi quang phản chiếu,
tìm giải đáp nơi chính mình, thì đó là A-la-hán và Bích-chi
Phật. Một ý niệm tách rời sự giác ngộ, lăn theo bụi đời
đó là phàm phu; một ý niệm xa lìa bụi đời để trở về
với giác ngộ tức là thánh nhân. Cho nên cả hai mặt xoay
qua đổi lại thật dễ như trở bàn tay vậy.
Thế
giới tốt hay xấu đều do một niệm trong tâm mình tạo thành.
"Con người ai cũng có lòng lành thì thế giới sẽ yên trụ
mãi mãi; con người có lòng ác thì thế giới sẽ hủy diệt."
Ðó là đạo lý rất hiển nhiên. Ðạo Phật dạy người ta
làm điều thiện, biết rõ nhân quả. Làm điều thiện nhiều,
làm công đức nhiều, cũng có nghĩa rằng đừng có tranh, đừng
có tham, không mong cầu gì cả, chẳng ích kỷ, cũng chẳng
tự lợi và không nói láo. Nếu được như vậy thì thế giới
sẽ từ chỗ nguy hiểm mà trở nên an ninh. Cho nên nói: "Nhất
thiết duy tâm tạo." Tức là tất cả mọi thứ đều do tâm
mà ra. Tâm tạo ra thế giới, tâm cũng có thể hủy diệt thế
giới. Tâm tạo ra thiên đường, tâm cũng có thể tạo ra địa
ngục.
Gia
đình là do mọi người làm thành, con người là do vọng tưởng
mà thành hình. Nếu đem vọng tưởng xấu sửa đổi thành
vọng tưởng tốt lành thì đó là người tốt. Nếu đem ý
niệm thiện mà biến thành ý niệm xấu thì đó là người
ác. Ðó là sự khác biệt giữa người ác và người lành.
Chúng
ta là những người tu hành thì phải "Siêng tu Giới, Ðịnh,
Huệ. Trừ bỏ tham, sân, si." Ðó là điều kiện căn bản của
sự tu hành. Là người học Phật-pháp, trước hết mình phải
"không làm điều ác và làm tất cả những điều thiện."
Ðó cũng chính là điều căn bản. Nếu ai cũng làm theo điều
này thì thế giới sẽ trở nên tốt lành; khí lành sẽ gia
tăng và ác khí sẽ giảm thiểu. Nếu trong vũ trụ đầy dẫy
những chính khí an lành, thì trái đất sẽ không bùng vỡ.
Làm
sao cho thế giới yên ổn, an lành? Chỉ còn biện pháp duy nhất
là mình tới học Phật-pháp nơi đạo tràng có chính pháp,
rồi sửa đổi lỗi lầm của mình để trở thành người
mới. Mọi người ai cũng bỏ điều ác, làm điều lành thì
thế giới sẽ không có ba thứ tai nạn, tám thứ khốn khổ.
Con người ai cũng sống trong hòa bình thương yêu lẫn nhau,
không còn tranh, không còn tham nữa. Ðó là thế giới đại
đồng.
Hy
vọng rằng lúc đó những người không có tín ngưỡng, tôn
giáo cũng sẽ vì gia đình, vì tổ quốc, vì thế giới bỏ
đi những tánh tham lam, làm những việc lợi ích cho xã hội.
Mình cũng nên biết rằng "tài sản là những vật ngoài thân."
Sanh ra, mình không đem chúng tới, chết đi, cũng chẳng mang
chúng theo.
Khi
sự hắc ám của người ác được hào quang của người thiện
chiếu soi làm tan mất, thì lúc đó thế giới không còn bị
ác khí bao trùm, địa cầu mới không bị hủy diệt. Ðạo
lý này tuy rất giản dị nhưng mình phải biết dụng công
thâm hậu thì mới có hiệu quả được. Quý-vị nên từ nơi
"tâm" mà hạ thủ việc tu, cải tạo thế giới, khiến cho
thế giới được bình an.
Vị
lãnh tụ của mình, chính là cái "tâm." Nếu tâm xấu thì thân
thể đầy đủ tật bệnh, gặp đủ thứ tai nạn bất ngờ.
Chúng ta cần phải phản tỉnh, kiểm thảo, nếu có tội lỗi
phải mau mau sám hối. Bởi vì:
Di
thiên đại tội,
Nhất
sám tiện diệt.
Nghĩa
là:
Tội
lỗi đầy trời,
Một
niệm sám hối, hết thảy sạch tiêu.
Tất
nhiên, mình phải thành tâm sám hối thì mới tiêu tai. Ðừng
nên coi là chuyện đùa, ban ngày làm chuyện ác, ban đêm sám
hối, tin rằng có thể tiêu trừ. Nếu như có tư tưởng như
vậy, thì chẳng những tội chẳng tiêu mà còn nặng thêm nữa.
Bởi vì sao? Mình đã biết tội, mà cố phạm nữa thì không
thể nào tha thứ được.
Ðả
Thiền Thất Phải
Khắc
Kỳ Thủ Chứng
Cần
chân thật dụng công tham thiền.
Có
bản lĩnh thật sự thì mới đáng kể.
Hôm
nay là ngày đầu thiền thất. Hy vọng quý-vị nổ lực tham
thiền. Chớ lãng phí cơ hội khai ngộ.
Ðả
thất thì phải khắc kỳ thủ chứng. Không thể ngồi trên
thiền sàng mà khởi lên vọng tưởng. Như vậy thì chỉ cô
phụ công việc tham thiền của mình mà thôi. Quý-vị vọng
tưởng điều gì? Vọng tưởng có nhiều thứ không giống
nhau, nhưng tóm lại đều là những thứ vọng tưởng không
có biên tế. Có người có vọng tưởng như vầy: "Kỳ này
tới tham thiền thất hy vọng sẽ khai ngộ, sẽ đắc đại
trí huệ. Sau khi khai ngộ, nhất định tôi sẽ tuyên bố trước
thế giới tin tức đặc biệt này, khiến toàn thế giới đều
biết rằng tôi là người đã khai ngộ và để cho mọi người
phải cung kính tôi."
Quý-vị
hãy nghĩ xem, người có tư tưởng như vậy phải chăng là
đã khai ngộ? Tôi dám chắc rằng, tuyệt đối y chưa khai ngộ!
Tại sao vậy? Bởi vì mới ngồi lên thiền sàng mà vọng tưởng
đã đầy dẫy như thế, nếu không vì cầu danh thì cũng là
cầu lợi. Vì danh lợi mà dụng công thì làm sao khai ngộ được.
Có
người lại có vọng tưởng như sau: "Kỳ thiền thất này
ta nhất định sẽ khai ngộ! Ta sẽ là người khai ngộ đầu
tiên trong khóa thiền này. Kẻ khác không khai ngộ, chỉ có
mình ta là độc nhất khai ngộ, đó thật là một chuyện hết
sức vinh quang vậy!" Thậm chí có những kẻ không hiểu biết
gì về khai ngộ, tự mình mạo xưng là khai ngộ. Ði đâu cũng
tuyên bố là mình đã khai ngộ rồi, lừa bịp đại chúng
khiến họ phải cung kính. Ðó là thứ "ngư mục hỗn châu,"
(trợn mắt cá để người khác tưởng lầm là hạt ngọc).
Những tư tưởng ấu trĩ như vậy thật là đáng buồn cười.
Hy vọng quý-vị đừng có những vọng tưởng đó. Phải "cước
đạp thật địa" nghĩa là chân phải đứng vững trên mặt
đất, dụng công tham thiền để có bản lãnh chân thật thì
đó mới là đáng kể.
Có
người thì có vọng tưởng như vậy: "Mình phải nhất định
khai ngộ; khai ngộ rồi thì người ta mới đến cúng dường;
có cúng dường thì lúc đó mới xây chùa lớn, làm một vị
pháp chủ, tín đồ mới lại thân cận cúng dường và mình
sẽ trở thành một vị đại pháp sư vang danh thiên hạ; ai
cũng biết mình là danh tiếng cao ngất." Quý-vị phải biết
những kẻ không học, không tài, không thuật, mà thọ sự
cúng dường thì lương tâm làm sao an ổn được.
Bây
giờ nói về tư thế tọa thiền, mình cần phải ngồi cho
đúng mới có ích lợi cho thân tâm. Nếu không, tọa thiền
không có giá trị gì. Trong khi tọa thiền, trước hết phải
để thân tâm mình tự nhiên nhẹ nhàng, không nên gấp rút
khẩn trương. Tốt nhất là ngồi thế kiết già, đó là thế
căn bản của pháp ngồi thiền.
Thế
kiết già phu tọa (hoặc là thế kiết già) là gì? Tức là
lấy chân trái để lên chân mặt, sau đó để chân mặt lên
đùi trái. Ðó là thế Kim-cang tọa, nghĩa là thế kiên cố
bất động. Trong quá khứ chư Phật đã ngồi thế Kim-cang
tọa mà thành Phật; tư thế này có thể hàng phục thiên ma
và chế chỉ ngoại đạo. Khi chúng thấy mình ngồi trong tư
thế này thì chúng liền thối lui, không dám lại quấy phá.
Sau
khi đã ngồi kiết già rồi, mắt phải nhìn vào chóp mũi,
không được nhìn phía đông cũng không được nhìn phía tây.
Ðó gọi là:
Nhãn
quán tỷ, tỷ quán khẩu, khẩu quán tâm.
Nghĩa
là:
Mắt
nhìn mũi, mũi hướng về miệng, miệng hướng về tâm.
Như
vậy thì mình mới có thể nhiếp trì được thân tâm; đem
tâm đang chạy loạn xạ đó mà định trụ lại, không cho
nó chạy ra bên ngoài nữa. Khi được như vậy thì gọi là:
Chuyên
nhất tất linh,
Phân
chi tất tệ.
Nghĩa
là:
Tâm
chuyên nhất, mới linh cảm.
Tâm
phân tán, thì bế tắc.
Mình
cần phải đoan nghiêm chính tọa, xương sống phải thẳng,
đầu phải ngay, không cúi về trước cũng chẳng ngã ra sau;
không nghiên bên trái hoặc ngã bên phải. Mình phải ngồi
như cái chuông lớn, vững vàng không động đậy. Ðừng ngồi
giống như cái chuông treo, lắc qua bên đông lắc qua bên tây.
Ngồi kiết già là tư thế thích hợp nhất để tham thiền.
Người
sơ học sẽ cảm thấy không quen, nào là đau chân, mỏi lưng,
không nên coi đó là quan trọng. Mình cần phải cắn răng chịu
đựng, nhẫn nại một thời gian lâu dài thì tự nhiên hiện
tượng đó không còn nữa. Ðó gọi là "cửu tọa hữu thiền"
nghĩa là ngồi lâu tự nhiên sẽ có thiền, tự nhiên sẽ đắc
được thiền vị.
Thế
nào gọi là thiền vị? Thiền vị tức là đắc được sự
an lạc của thiền định, nếm được mùi vị khinh an nhẹ
nhàng. Mùi vị đó thật là ảo diệu vô cùng, không thể dùng
tâm tư cũng không thể dùng ngôn ngữ diễn tả được. Cũng
giống như người uống nước, tự y mới biết nóng hay lạnh;
mình cũng không thể dùng ý dùng tâm mà hội được, không
thể dùng ngôn ngữ mà truyền đạt. Quý-vị muốn biết thiền
vị đó là ngọt hay đắng thì phải nổ lực tham thiền, tới
được cảnh giới tương ưng thì tự nhiên sẽ hiểu được
mùi vị đó. Cho nên quý-vị phải tham thiền. Tham tới lúc
"thủy lạc thạch xuất" nghĩa là nước cạn thì đá sẽ lộ
ra, lúc đó mình mới nếm được thiền vị.
Thiền
thì không thể nói được, cần phải tham. Nên thiền tông
thì không lập văn tự, không lập chữ nghĩa, là truyền thừa
ở ngoài giáo điển. Trực chỉ tâm của con người để mình
thấy tánh, lập tức thành Phật.
Người
tham thiền, khi tham đến chỗ hỏa hầu của mình đã đủ
thì tuyệt đối không còn nổi giận nữa, không còn tranh luận
với người khác, tới chỗ gọi là vô-tranh tam-muội. Lại
cũng không cầu danh, cầu lợi; coi phú quý như giọt sương
trên lá, công danh như bọt nước trên ngói. Trong khoảnh khắc
giọt sương, hơi nước sẽ tan mất đi. Người chân chánh
tu hành thì xa lánh danh lợi; không vì danh lợi mà giao động
tâm mình.
Quý
vị muốn trắc nghiệm kẻ đó có chân chính tu hành hay không,
thì coi tâm hắn có bị danh lợi làm giao động chăng? Nếu
y cầu danh không được thì nổi nóng, cầu lợi không xong
thì tức giận, nổi phừng ngọn lửa vô minh, tánh dữ như
cọp, hung tợn hơn ai hết, không cần hỏi mình cũng biết
nhất định y là kẻ cầu danh lợi rồi.
Ðời
nhà Thanh, hoàng đế Càn Long có lần đi tới Kim Sơn Thiền
Tự ở tỉnh Trấn Giang để thưởng ngoạn phong cảnh. Nơi
sông Trường Giang hoàng đế hỏi Pháp Thanh Thiền-sư rằng:
"Trên giòng sông này một ngày có bao nhiêu con thuyền qua lại?"
Thiền-sư đáp rằng: "Chỉ có hai lần thuyền qua lại." Vua
Càn Long không hiểu hỏi: "Ông làm sao mà biết được chỉ
có hai lần thuyền qua lại?" Thiền-sư trả lời: "Một con
thuyền gọi là danh, một con thuyền gọi là lợi."
Do
chuyện này mình biết rằng những kẻ độ thuyền qua sông,
nếu không vì danh cũng vì lợi. Nhưng họ không biết rằng
kẻ cầu danh thì chết vì danh, kẻ cầu lợi chết vì lợi.
Cuối cùng chỉ tay trắng tới gặp ông Diêm Vương.
Cho
nên:
Vạn
bang đãi bất khứ.
Chỉ
hữu nghiệp tùy thân.
Nghĩa
là:
Mọi
thứ nào đem đặng.
Chỉ
nghiệp là theo hoài.
Người
tu đạo nếu không có lòng nóng giận, có thể nhẫn nhục,
nại khổ thì dễ thành pháp khí, có thể ở trong Phật-giáo
là bậc đống lương, là bậc rường cột, có thể đem Phật-giáo
truyền bá sâu rộng. Người tu mà thường hay nổi nóng là
người phá hoại Phật-giáo, là kẻ làm hại tập thể.
Phật-giáo
mới tới Tây-phương (tức là nước Mỹ) trồng xuống khoảng
đất thanh tịnh hạt nhân bồ đề, hiện tại bắt đầu manh
nha sinh xuất ra mạ. Hy vọng quý-vị là những người làm
vườn tốt, siêng năng tưới nước bón phân khiến được
tươi tốt, rồi tương lai cây cao lớn khai hoa và kết quả
bồ đề.
Những
người ở trong Vạn Phật Thánh Thành đối với chuyện nói
năng cần phải chú ý, không được nói bừa bãi, không được
tùy ý nói chuyện thị phi. Vạn Phật Thành Thành là nơi thánh
địa thanh tịnh để tu Ðạo, không thể có những ngôn ngữ
của bàng môn tả đạo. Các vị cần biết rằng đối diện
với vạn Phật thì làm sao mình có thể ăn nói loạn xạ được?
Quý-vị phải nhớ lấy!
Bịnh
tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu sinh.
Nghĩa
là:
Bịnh
do miệng mà vào, họa cũng do miệng mà ra.
Ðây
là câu danh ngôn rất chí lý; quý-vị nói gì cũng phải suy
nghĩ ba lần rồi mới nói, để tránh nói những điều sai
với nhân quả. Lời nói ra rồi thì không những mình phải
chịu trách nhiệm đối với pháp luật, mà còn chịu báo ứng
đối với luật nhân quả nữa.
Phật-giáo
là tôn giáo đề xướng tinh thần "vô ngã" cho nên không chấp
nhận chuyện bói toán, coi tử vi, phong thủy, hay coi tướng
số. Những chuyện đó đều đi ngược lại với Phật-pháp,
cho nên mình phải cấm chỉ chuyện phổ biến nó. Nếu như
quý-vị tin vào những thứ tà pháp đó thì tự nhiên chấp
nhận cái "ngã" của mình tồn tại, tất cả là vì mình. Hễ
có cái của mình, thì mình luôn luôn tìm cách vì mình mà tính
toán, vì mình mà chẳng vì người khác; như vậy thì không
còn gì là Phật-pháp nữa.
Phật-pháp
thì dạy con người không tranh, không tham, không cầu, không
ích kỷ, không tự lợi, không vọng ngữ. Còn phong thủy thì
dạy người ta tranh, dạy người ta cầu, ích kỷ, dạy họ
tự lợi, dạy họ nói láo. Thậm chí còn nói láo rằng trong
một trăm ngày thì có thể đại phát tài, có thể làm quan.
Người có lòng tham thì liền tin lời của y. Thật ra đại
tài chưa phát mà tiểu tài đã hao đi, vì phải đem tiền đi
trả lễ cho ông thầy bói rồi. Bói như vậy chẳng khác nào
bảo người đó đi cướp tiền ngân hàng để lập tức được
phát tài, không cần một trăm ngày cũng đã phát rồi.
Lại
nữa, nếu ông thầy bói biết chỗ nào có phong thủy tốt
có thể phát tài, có thể thăng quan tiến chức thì tại sao
bản thân y không dùng mà nói cho người khác biết? Thật là
vô lý! Hy vọng những người thông minh như quý-vị đừng
nên mê tín bị những kẻ đó lừa bịp.
Y học,
bói toán, tinh văn, tướng số, y bốc tinh tướng ở trong Phật-giáo
là một trong năm nghề người tu đạo không nên làm. Y tức
là bác sĩ trị bệnh cho người khác (người tại gia làm bác
sĩ được, song kẻ xuất gia không làm). Bói toán biết chuyện
tốt xấu kiết hung. Tinh tức là tinh văn coi tinh tú biết được
chuyện tốt xấu kiết hung. Tướng tức là tướng mạo, coi
biết được mệnh vận thuận hay nghịch. Ðó là những điều
mê tín. Mình phải biết rằng đạo lý "nhân định thắng
thiên" con người có thể thắng được trời.
Người
xuất gia tu đạo, sinh tử là chuyện không sợ, hà huống là
những chuyện nhỏ nhặt này? Những thứ đó có gì mà phải
lấy làm lạ. Người xuất gia là người siêu xuất ra số
mạng.
Siêu
xuất tam giới ngoại,
Bất
tại ngũ hành trung.
Nghĩa
là:
Vượt
ra khỏi tam giới,
Không
ở trong ngũ hành.
Nếu
tính tướng mạng, phong thủy, đó là những thứ mà những
kẻ thế tục mới tin. Mình phải hiểu rằng vận mệnh con
người đều do nghiệp lực chiêu cảm mà sinh ra. Mình đừng
để tập khí dắt dẫn, đừng để vật dục làm mê mờ;
cần phải tự sáng tạo vận mạng cho chính mình, phải làm
chủ tể vận mạng. Cứ làm nhiều công đức thì sẽ cải
tạo vận mạng của mình. Khi gặp nạn tự nhiên sẽ hóa thành
kiết tường. Rằng:
Ðản
hành hảo sự
Mạc
vấn tiền trình.
Nghĩa
là:
Cứ
làm việc tốt,
Ðừng
hỏi chuyện tương lai.
Bây
giờ đả thiền thất thì mình phải sáng tạo một sinh mạng
mới. Chớ mê tín, phải có chánh tín, chớ nên theo người
ta nói ừ thì mình ừ, rồi cứ việc đi theo người khác,
họ đi trước mình theo sau, điều đó hết sức sai lầm. Mình
phải có Trạch-pháp-nhãn (con mắt biết nhận ra chân lý),
biết cái nào đúng cái nào sai, biết phân biệt thiện với
ác, trắng với đen; phân minh rõ rệt thì mới không bị điên
đảo mê hoặc.
Người
tu thiền có thể làm chủ chuyện sinh tử của chính mình,
sống chết rất tự do, không còn hạn chế nữa. Nên nói:
Tánh
mệnh do ngã bất do thiên.
Nghĩa
là:
Tánh
mệnh của mình là do mình tạo, không phải do trời.
Chính
ông Diêm-la-vương cũng không thể nào khống chế, không làm
gì mình được. Tại sao vậy? Bởi vì mình đã ra ngoài cõi
Tam-giới rồi.
Thế
nào là đến đi một cách tự do? Có nghĩa là đối với chuyện
sinh tử mình hết sức tự do, nếu muốn sống thì sống, muốn
chết thì chết, tùy tâm mong muốn. Tuy nhiên quý-vị phải
chú ý, sự chết này không phải do tự sát, tự uống thuốc
độc.
Thân
thể của mình cũng giống như căn phòng vậy. Muốn du hành
ra ngoài, muốn đến chỗ nào thì tự do mà làm. Muốn hóa
thân thành trăm ngàn vạn ức tới tận hư không biến Pháp-giới
để giáo hóa chúng sinh thì tùy ý nhậm vận. Nếu không muốn
đi du hành thì mình vẫn ở trong căn phòng, không ai có thể
tới làm phiền mình cả. Nên hiểu rằng tận hư không biến
Pháp-giới, tất cả mọi thứ đều ở trong pháp thân, không
có gì chạy ra khỏi pháp thân này.
Quý-vị
hết sức siêng năng cần khổ lại tham thiền, ngày đêm không
ngừng dụng công, là chỉ vì muốn được tự do trong sinh
tử, khống chế được sinh mạng của chính mình, làm chủ
chuyện sinh tử. Khi đã làm chủ được thì đó là mình đã
tới được cảnh giới sinh tử tự do.
Người
tham thiền tham đến chỗ trên không biết có trời, dưới
không biết có đất, giữa cũng không thấy có người, cùng
với hư không hợp thành một. Tới cảnh giới như vậy sẽ
có cơ hội khai ngộ. Lúc ngồi lúc đi đều là cơ duyên để
khai trí huệ.
Mình
tham câu: "Niệm Phật là Ai?" Niệm Phật là người nào? Người
nào đang niệm Phật? Ai là người đang ngồi đây? Người
ngồi đây là Ai? Lúc ăn cơm, Ai là người ăn cơm? Lúc ngủ,
Ai là người đang ngủ? Phải tìm ra kẻ đó. Tìm tất cả
là Tham; tham đến lúc thủy cùng sơn tận thì với một sự
chuyển thân mình sẽ khai ngộ. Rằng:
Sơn
cùng thủy tận nghi vô lộ,
Liễu
ấm hoa minh hựu nhất thôn.
Nghĩa
là:
Núi
cùng, sông bặt, tưởng hết đường,
Tàng
liễu, hoa giăng, hiện thôn trang.
Núi
đã hết, sông đã tận cùng, nghĩ rằng không còn đường
đi nữa. Nhưng sau tàng cây liễu, sau đám hoa tươi kia lại
xuất hiện một thôn làng.
Lại
nói:
Bách
xích can đầu trùng tấn bộ,
Thập
phương thế giới hiện toàn thân.
Nghĩa
là:
Ðầu
sào trăm trượng, dấn bước thêm bước,
Mười
phương thế giới sẽ hiện thân.
Nếu
như không ngồi tịnh tọa, không tham thiền, thử hỏi các
vị có biết mình từ đâu sinh ra và chết rồi về đâu không?
Các vị nói không biết. Không biết tức là hồ đồ sinh ra,
rồi lại hồ đồ chết đi. Cả một đời như thế thì thật
đáng thương!
Người
dụng công tham thiền khi khai ngộ rồi, nhận thức được
bản lai diện mục của mình trước khi được cha mẹ sinh
ra. Thoát nhiên hiểu suốt; tất cả những thứ tinh thô đẹp
xấu mà người ta khó biết thì tâm mình không có chỗ nào
chẳng thấu suốt. Khi tới được cảnh giới đại tạo hóa,
thì tương lai sẽ thành Phật đạt tới quả vị vô thượng
chánh đẳng chánh giác.
Lão
Tử từng nói hai câu như sau:
Thiên
hại gia tri mỹ chi vị mỹ, tư ác dĩ.
Giai
tri thiện chi vi thiện, tư bất thiện dĩ.
Nghĩa
là:
Thiên
hạ biết đẹp là đẹp, ắt đã có cái xấu rồi.
Biết
việc lành là lành, hẳn đã có cái không lành rồi.
Người
trên thế giới đều biết làm chuyện tốt là tốt, nhưng
đến lúc làm thì chẳng tốt đẹp gì. Người ta biết làm
chuyện thiện là đúng, đến lúc thử thách tới thì không
vượt qua được. Lại bị cảnh giới làm mê hoặc, không
làm được việc thiện mà chỉ chạy đi làm chuyện ác.
Người
học Phật biết rằng "từ, bi, hỷ, xả," tứ vô lượng tâm
là căn bản của pháp hành đạo Bồ-tát nhưng lại không chịu
làm. Biết rõ đạo lý thì phải biết công dụng như thế
nào? Ngày nào cũng học Pháp "Lục độ," đến lúc gặp thử
thách thì bố thí mình không chịu bố thí, trì giới thì chẳng
trì giới, nhẫn nhục cũng hết nhẫn nhục, tinh tấn liền
mất tinh tấn, thiền định cũng không thiền định, trí huệ
thì cũng chẳng có trí huệ. Quý-vị hỏi mình học như vậy
thì có ích gì?
Sau
đây là ý nghĩa của Lục-độ:
1.
Bố-thí: Tức là dùng tài sản vật chất hoặc Phật-pháp
để bố thí kẻ khác. Có người lúc cần bố thí thì không
chịu bố thí. Ngược lại, y kêu người khác bố thí cho mình,
càng nhiều càng tốt. Nói rằng bây giờ tôi không muốn cho
anh, anh cần phải bố thí cho tôi! Y luôn tìm cách chiếm tiện
nghi, không chịu thua thiệt. Hạng người này lúc nào cũng
cho mình là đúng.
2.
Trì-giới: Thiên hạ người nào cũng biết trì giới là trì
giới, nhưng đến lúc gặp thử thách không những không giữ
giới mà lại phá giới nữa. Thọ giới tức là không động
tâm. Bất luận cảnh giới nào đến mình cũng không động.
Rằng:
Thái
Sơn băng tiền tâm bất kinh.
Mỹ
sắc đang tiền tâm bất động.
Nghĩa
là:
Nếu
núi Thái có sập trước mặt, lòng ta chẳng kinh hãi.
Mỹ
sắc trước mắt, lòng ta không xao xuyến.
Ðó
là định lực có thể chuyển được cảnh giới. Bất kể
là cảnh ác hay thiện, thuận hay nghịch, mình đều thản nhiên;
không sinh tâm phân biệt thì tự nhiên gió yên sóng lặng.
3.
Nhẫn-nhục: Nghĩa là nhẫn thọ những gì không như ý. Nếu
có thể nhẫn thọ tất cả những chuyện không đúng với
ý mình, thì đó tức là mình chịu khảo nghiệm và chịu thử
thách. Nếu mình có thể chịu được thử thách thì có thể
qua được "quan" (cửa). Nếu không chịu được thì mình không
qua được cửa. Ai cũng biết nhẫn nhục thì sẽ đến được
bờ bên kia; nhưng khi cảnh giới tới thì chẳng nhẫn được.
Lửa vô minh cao ba thước nổi lên; bao nhiêu công đức kết
tụ trong một khoảnh khắc tiêu sạch hết.
4.
Tinh-tấn: Khi mình đả thiền thất tức là tinh tấn. Ai ai
cũng muốn tinh tấn, nhưng đến lúc tinh tấn thì không chịu
tinh tấn, chỉ muốn lười biếng an phận thụt lui, hoặc chạy
đi pha trà hoặc cố ý đi nhà vệ sinh, hoặc cố ý xuống
bếp để uống trà; tất cả đều là cái cớ để cho qua
thời giờ. Khi chưa đả thiền thất thì nói nghe rất là hăng
hái, rằng tôi sẽ tham gia thiền thất thật giỏi. Ðến khi
thiền thất bắt đầu thì không còn nhớ điều mình thề
nguyền lúc trước nữa. Tại sao vậy? Ðây chính là biết
rõ mà cố ý phạm lỗi. Tuy biết tham thiền là chuyện tốt
mà vẫn cứ lười biếng. Quý-vị nghĩ xem tâm lý mâu thuẩn
như vậy làm sao giải quyết đây? Qui củ của thiền đường
là nếu người nào không giữ luật lệ sẽ bị đánh; đánh
đến lúc nào khai ngộ thì thôi.
5.
Thiền-định: Hiện tại tham thiền tức là thời gian dụng
công tốt nhất. Tại sao cần phải đả thiền thất? Vì muốn
tinh thần được tập trung, tâm không vọng tưởng, khiến
trí huệ mình hiện tiền. Cho nên có câu: "Trí huệ giải thoát"
tức thiền định là phương pháp khắc kỳ thủ chứng (nghĩa
là định kỳ hạn để tu chứng).
6.
Trí-huệ: Là thứ đưa mình tới bờ bên kia, liễu sinh thoát
tử. Nếu như muốn khai trí huệ mà lười biếng thì sẽ mất
đi cơ hội khai ngộ. Nên tham thiền cần phải chăm chú không
để thời gian qua uổng vì không biết mình sẽ khai ngộ trong
giây phút nào. Có người có vọng tưởng như vầy: "Tôi không
muốn có trí huệ vì sự ngu si của tôi cũng tốt lắm mà!
Tôi không hiểu mọi chuyện thì cũng chẳng sao." Ðó là thứ
gọi là: "Yếm nhĩ đạo linh." Nghĩa là vừa đánh chuông vừa
bịt tai (tưởng không ai nghe), mình chỉ tự lừa mình. Ðến
lúc chết rồi mới hiểu rằng mình đến thế gian này một
cách luống uổng. Lúc đó có hối hận cũng đã muộn rồi.
Phật-giáo
ở Mỹ là lúc mới bắt đầu, nên phải có người tu hành
chân thật, phải "cung hành thực tiễn" tức là thực sự tu
hành. Cần chuyên nhất tu hành, tự mình cải bỏ lỗi lầm
để tu hành, sửa đổi tập khí mà tu hành, phải làm gương
cho kẻ khác thì tiền đồ Phật-giáo mới sáng lạng được.
Nếu như mới bắt đầu mà không có người chơn chánh tu hành
làm mô phạm, không có ai phát tâm bồ đề, thì Phật-giáo
ở Tây-phương không thể hưng thịnh được. Do đó sự hưng
thạnh của Phật-giáo phải do các vị thanh niên đảm nhận.
Hiện
tại hai vị "Tam bộ nhất bái" là những vị tu hành rất thành
tâm, có thể nói là tiên phong mở đường cho Phật-giáo vậy.
Các vị đó trên đường lộ, đi ba bước lạy một lạy,
không phải vì cầu phước báo cho mình, mà vì muốn cầu hòa
bình toàn thế giới. Hơn hai năm qua, hai vị đó nhịn đói
nhịn khát, nhẫn lạnh nhẫn nóng, chịu gió chịu mưa hết
sức cực khổ. Tu hành như vậy không phải là chuyện người
thường có thể làm đặng. Các vị đó nhẫn chịu những
thứ mà người khác không nhẫn chịu được, nhường nhịn
những cái mà người khác không thể nhường nhịn được,
ăn những đồ ăn mà người khác không muốn ăn, mặc những
quần áo mà người khác chê không thèm mặc. Bất kể là gió
thổi hay mưa rơi vẫn cứ lạy Phật không ngừng, cũng không
cần biết là trời nóng hay lạnh, đói hay khát, không ngừng
nghỉ, cũng không giải đãi, không lười biếng, ngày ngày
đều tụng kinh sáng chiều hai thời, mỗi giờ mỗi phút không
bao giờ lười biếng an phận. Hai vị đó tinh tấn nổ lực
tu hành là vì muốn Phật-giáo có thể phát triển khắp nơi
trên toàn thế giới. Hai vị tu hành cực khổ như vậy, không
phải vì danh cũng chẳng phải vì lợi, mà vì muốn lấy trách
nhiệm của Phật-giáo làm trách nhiệm của chính mình. Tinh
thần đó thật là đáng khen ngợi.
Quý-vị
phải học cho bằng công hạnh của hai vị Tam-bộ Nhất-bái.
Lấy họ làm gương soi để mình phản tỉnh. Xem đối với
Phật-giáo mình đã cống hiến được những gì, chuyện mình
làm là vì mình hay vì Phật-giáo? Nếu như vì mình, thì hãy
sinh tâm hết sức hổ thẹn, lập tức sửa đổi hành vi không
chánh đáng đó. Nếu vì Phật-giáo thì mình cần phải nổ
lực hơn nữa, cần phải cổ võ khiến Phật-giáo phát triển,
bảo vệ Phật-giáo, cần phát bồ đề tâm, hành Bồ-tát đạo,
lúc nào cũng muốn kẻ khác được an lạc, không tính toán
riêng tư cá nhân, đó mới là tinh thần của Bồ-tát đạo.
Quý-vị
ở trong thiền đường, lúc đi lúc ngồi cho là khổ sở nhưng
nếu so với hai vị Tam-bộ Nhất-bái thì sự khổ sở ấy
thật là hết sức sung sướng vậy. Quý-vị cần thể nghiệm
điều này một cách sâu xa, đừng để mất cơ hội. Hai vị
hành giả đó nếu không phát tâm bồ đề, không hành Bồ-tát
đạo thì đương nhiên là chẳng thể hoàn tất cuộc hành
trình của họ được.
Ở
thiền đường quý-vị đừng nên sinh tâm vọng tưởng; thân
ở trong thiền đường mà tâm thì đến thế giới khác du
ngoạn, đó tức là đầy dẫy vọng tưởng, có thể ảnh hưởng
đến tâm tu đạo của mình; quý-vị phải nhớ lấy! Không
được để cho thời gian trôi qua một cách lãng phí mà mình
phải nắm lấy thời cơ, chụp lấy cơ hội khai ngộ. Nếu
mình chuẩn bị như vậy thì không hổ thẹn với chính mình,
còn ngược lại thì chỉ là nói suông mà thôi.
Giảng
ngày 20 tháng 8 năm 1979
tại
Vạn Phật Thánh Thành

|