cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Chúng
Sinh Vô Biên
Thệ
Nguyện Ðộ
Chúng
ta sao cam tâm nhìn họ đau khổ mà không tìm cách cứu họ,
khiến cho họ được an lạc chứ?
"Bồ-tát
úy nhân, chúng sinh úy quả." Bồ-tát thì sợ nhân, chúng sinh
thì sợ quả. Nhân quả, hai chữ này chẳng những chúng sinh
không thể thoát khỏi mà ngay cả Phật, Bồ-tát cũng chẳng
thể trốn đặng. Chỉ vì Bồ-tát có cái nhìn sâu sắc nên
Ngài chẳng tạo nhân ác; do vậy thọ hưởng được quả khoác
lạc. Chúng sinh, nhãn quang như hạt đậu; chỉ biết thấy
những việc trước mắt nên luôn làm những điều xấu ác;
bởi thế mới thọ quả báo đau khổ.
Có
câu nói rằng: "Ða tái đào lý, thiểu tái kinh." Nghĩa là trồng
nhiều cây đào, cây lý; trồng ít đi những bụi gai góc. Trồng
nhiều nhân tốt thì chắc chắn sau nầy sẽ có được một
tiến trình sáng lạng. Còn nếu như chỉ nhìn vào những việc
trước mắt, làm những việc bất nghĩa, không chịu vun trồng
những nhân tốt thì chắc chắn là dự bị cho mình một tiền
đồ đầy gai góc sau này.
Thế
nào là một tiền đồ sáng lạng? "Tùng thỉ Tây-phương quá
thập vạn ức Phật-độ, hữu thế giới danh viết Cực-lạc."
Nghĩa là ở phía trời Tây, cách đây mười vạn ức Phật-độ,
có thế giới tên là Cực-lạc.
Còn
thế nào là tiền đồ đầy gai góc? Tức là "Ðịa ngục vô
môn, khổ tự chiêu." Nghĩa là địa ngục không có cửa, tự
mình rước lấy khổ.
Ở
Cực-lạc thế giới thì mặt đất là vàng ròng, ao hồ là
bảy báu, trời gió thổi nghe rộn rã tiếng âm nhạc, không
việc gì mà chẳng xứng tâm, vừa ý; lại còn được thấy
Phật, nghe Pháp, chóng thành Phật-đạo. Còn địa ngục thì
sao? Núi đao, vạc dầu, rừng kiếm, chảo sôi; đó là những
thứ mà mình sẽ làm bạn.
Chúng
sinh được tuyệt đối tự do chọn lựa con đường mình muốn
đi. Nếu như ý muốn ở Tây-phương thì mình phát nguyện:
Cầu vãng sinh Tịnh-độ, cần tinh tấn, siêng năng niệm Phật
Bồ-tát thì chắc chắn sẽ có ngày thành công. Còn nếu như
thích địa ngục, thì giản dị lắm: Cứ làm ác thì sẽ đọa
địa ngục. Tuy nhiên, tôi khẳng định rằng con người chẳng
ai lại muốn xuống địa ngục, không muốn vãng sinh Tây-phương
Cực-lạc thế giới. Trừ phi anh ta chẳng tin có địa ngục,
chẳng tin có Cực-lạc; trừ phi anh ta không biết sự thống
khổ của địa ngục và sự an lạc của Tịnh-độ.
Ðối
với những kẻ thiếu thiện căn, thiếu lòng tin như thế,
mình không có phương cách gì để độ họ. Song đối với
những kẻ chưa biết đạo thì mình có thể phát lòng từ
bi mà dẫn dắt. Kẻ ngoại đạo thường nói: "Thiên đàng
thì gần lắm. Thiên đàng dành cho các vị đó." Là tín đồ
Phật-giáo, mình phải biết xả thân quên mình. Ðối với
thân hữu, mình phải khuyên họ, nói cho họ nghe công đức
niệm danh hiệu Bồ-tát và ích lợi của Cực-lạc thế giới.
Phải nói "Cực-lạc thế giới là của chúng sinh." Nếu như
mình thường xuyên tuyên thuyết đạo lý nầy, thì mình chính
là một vị hành đạo Bồ-tát; cùng với chư Bồ-tát đi chung
một con đường; cùng làm bạn với những vị Bồ-tát, bất
thối.
Do
đó, không những mình cần niệm danh hiệu Bồ-tát mà còn
phải thường khuyên người khác niệm nữa. Như vậy thì mình
mới xứng đáng là một đệ tử của Phật; mới có thể
nói rằng mình đã không quên lời phát nguyện, bốn lời hoằng
thệ lúc quy y. Nên khi nói: "Ðộc lạc lạc, bất như chúng
lạc lạc." Nghĩa là cái vui mình vui, sao bằng cái vui mọi
người cùng vui. Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh. Ðối
với những kẻ có cùng Phật tánh như mình, chẳng khác gì
mình cả, thì lẽ nào mình lại cam tâm nhìn họ đau khổ mà
không tìm cách cứu họ, làm họ được an lạc chứ?
"Hữu
chí giả, sự cánh thành." Nghĩa rằng người có chí thì việc
chắc thành. Bởi vì chúng sinh khó độ, nên tín đồ Phật-giáo
chúng ta mỗi ngày, sáu thời, phải ghi nhớ, đừng quên chuyện
độ chúng sinh.
Giảng
vào ngày 18 tháng 6, năm 1958
Học
Phật Cần Phải Tu
Giới,
Ðịnh, Huệ
Thường
dùng Giới Ðịnh Huệ để tự thức tỉnh, vì chúng giúp ích
việc tu hành.
Giới,
Ðịnh, Huệ là việc học vô lậu, người tu hành cần phải
có đầy đủ.
Giới
tuy có năm giới, thập giới, Bồ-tát giới v.v... nhưng cơ
bản nhất là Ngũ-giới: Không sát sanh, không ăn trộm, không
tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu. Trì giới thì
không tạo tội.
Ðịnh
là gì? Ðịnh tức là thiền định, nói rộng ra chút nữa
có nghĩa là bất biến. Có kẻ tu hành đầy vọng tưởng.
Hôm nay tu thiền, ngày mai nghe nói niệm Phật công đức to
lớn, liền bỏ tham thiền mà niệm Phật. Sau vài ngày lại
nghe nói trì chú là thù thắng bèn bỏ niệm Phật mà trì chú.
Người như vậy, nay tu pháp môn này, mai tu pháp môn khác, kết
quả chẳng tu thành cái gì. Lại còn có kẻ niệm Phật, niệm
Bồ-tát một ngày niệm, mười ngày nghỉ, hoặc ngày nay niệm
ngày mai nghỉ, đó đều gọi là không có định lực. Ðịnh
lực đối với người tu hành rất là quan trọng; không có
định lực, tu đạo đương nhiên thất bại. Thiếu định
lực thì đạo tâm chẳng kiên cố, dễ dàng bị ảnh hưởng
bên ngoài chi phối làm đọa lạc.
Tiếp
đến là Huệ, tức là trí huệ. Làm người có kẻ thông minh,
người ngu dốt. Vì sao có kẻ thông minh lại có người ngu
độn? Ðấy là do nhân quả, nếu quá khứ tu hành niệm Phật
thì đời nầy chắc chắn có được trí huệ; ngược lại
chẳng trồng thiện căn thì trí huệ đương nhiên chẳng có.
Trong
Sách Ðại-học nói:
Ðịnh
nhi hậu năng Tịnh,
Tịnh
nhi hậu năng An,
An
nhi hậu năng Lư,
Lư
nhi hậu năng Ðắc.
Nghĩa
là:
Có
Ðịnh rồi mới Tịnh,
Có
Tịnh rồi mới An,
Có
An rồi mới Sáng,
Có
Sáng rồi mới Ðược.
Do
đó có Ðịnh mới sinh được Huệ. Nếu chẳng có Ðịnh,
tạp niệm đầy dẫy, vọng tưởng lăng xăng thì làm sao có
thể thấy suốt đúng, sai, rõ ràng chân lý được.
Giới
nghĩa là quy luật giúp mình đề phòng phạm tội. Khi chưa
phạm tội, mình cần tu Ðạo, bí quyết tu đạo là ở định
lực. Có định lực thì sinh trí huệ, từ đó mới có thể
liễu đạo thành Phật. Nên Giới, Ðịnh, Huệ là điều kiện
tất yếu mà người tu Ðạo phải có. Không trì giới thì
có thể tạo tội nghiệp, thiếu định lực thì tu Ðạo không
thành, không trí huệ thì ngu si vô trí.
Tôi
khuyên các vị hãy lấy "Giới Ðịnh Huệ" ba chữ này khắc
sâu vào lòng, thường đem ra tự cảnh tỉnh. Tôi tin rằng
đối với việc tu, chúng giúp ích mình lắm.
Giảng
ngày 18 tháng 6 năm 1958
Nước
Chảy Trào Trước
Cửa
Chùa
Bên
này xưa nay không có nước lại tự nhiên có. Chẳng lẽ thật
sự đây chính là do tôi mang lại?
Hôm
nay là lễ đức Bồ-tát, tuy Chùa Tây Lạc Viên (Hồng Kông)
xây ở trên núi xa xôi, phải leo ba trăm bậc thang cấp mới
lên tới được; song quý-vị tới đây tham gia đả thất thì
vô cùng vui sướng, đủ thấy rằng quý-vị có tâm chân thành,
tinh thần dũng mãnh tinh tấn.
Kể
về số lượng người tham gia đả thất thì mỗi năm mỗi
đông hơn. Nhiều người ở đây sau khi lạy Phật về cho biết
rằng công việc làm ăn của họ thuận lợi hơn xưa.
Như
vị cư sĩ Viên Quả Lâm, từ ngày đến chùa công việc càng
ngày càng phát đạt. Còn cư sĩ Ðàm Quả Bộc từ ngày quy
y thì tăng phước diên thọ, năm nay tám mươi tuổi ngoài mà
thân thể vô cùng tráng kiện.
Có
một em què từ bốn tuổi đến chín tuổi chẳng đi được,
nhưng khi đến đây lạy Phật thì chân lành bịnh, có thể
đi đứng được. Con gái nhà họ Viễn chân cũng bị bịnh,
tìm thuốc bắc, uống thuốc tây nhưng bịnh chẳng lành, sau
khi lạy Phật thì bịnh khỏi ngay. Do vậy nên nhiều người
tuyên truyền rằng tôi có thể trị bệnh, thực sự chẳng
qua đó là do công đức lạy Phật mà ra.
Còn
một chuyện đáng gọi là kỷ niệm: Trước khi chùa Tây Lạc
Viên thành lập thì khu đất nầy là một hố sâu bảy tám
thước. Sau đó mấy người thợ mới đổ đất san bằng để
làm chùa. Chỗ đất nầy xưa nay chẳng có nước, nhưng đạo
tràng xây xong rồi thì có nguồn nước chảy ra bất tận.
Có người nói rằng nước nầy là do tôi đem từ núi Phù
Dung lại. Vì khi tôi ở núi Phù Dung động Quán Âm thì ngoài
động có nước, nhưng kỳ quái thay khi tôi đến chùa nầy
thì nước bên kia lại cạn mất. Bên nầy xưa nay không có
nước lại tự nhiên có. Chẳng lẽ thật sự đây chính là
do tôi mang lại? Ðó chắc chắn là do sự cảm ứng của Phật,
sự ủng hộ của Thiên Long.
Hôm
nay quý-vị vui mừng, hăng hái như vậy, song cuộc vui chóng
tàn, phải chờ tới sang năm mới thực hành khóa khác. Sang
năm, quý-vị muốn tham gia đả Quán Âm Thất thì phải sớm
ghi danh đồng thời phát nguyện đả toàn thất. Ðến tháng
mười một thì sẽ có A Di Ðà Thất, quý-vị cần phải dũng
mãnh tinh tấn tham gia chẳng có phóng dật giải đãi.
Nay
tôi có pháp môn vô thượng nói cho quý-vị nghe, song trước
khi nói Pháp, quý-vị phải biết rằng cầu Pháp không phải
dễ. Nên quý-vị phải đáp ứng lời tôi rằng sau khi nghe
xong phải y Pháp tu hành thì tôi mới nói cho nghe.
Pháp
môn nầy quý-vị mỗi ngày phải trước mặt Phật mà phát
nguyện:
Chúng
sinh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền
não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp
môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật
đạo vô thượng thệ nguyện thành.
Bốn
đại nguyện nầy quý-vị đều hiểu rõ, chư Phật thành Ðạo
đều từ bốn lời nguyện này. Chư Bồ-tát lại cũng từ
nơi nguyện đây tu. Lại còn mấy lời nguyện mà quý-vị am
tường hơn, tức là:
Nguyện
sinh Tây-phương Tịnh-độ trung,
Cửu
phẩm liên hoa vi phụ mẫu.
Hoa
khai kiến Phật ngộ vô sanh.
Bất
thối Bồ-tát vi bạn lữ.
Nếu
như quý-vị mỗi ngày có thể phát nguyện như vậy, thì tôi
tin chắc rằng quý-vị sẽ được gặp mặt đấng Từ-tôn,
sẽ không lùi bước trên đường học Ðạo, và sẽ sớm được
thành Phật.
Giảng
ngày 19 tháng 6 năm 1958
Gia
Phong của Kim Sơn Thánh Tự
Hai
giờ sáng thức dậy tọa thiền đến nửa đêm mới ngủ.
Cả buổi chỉ có một giờ nghỉ ngơi.
Kim
phùng nhất cửu thất lục niên,
Thập
phương đại chúng lại tham thiền.
Thời
khắc phân thiền đương ái tích,
Hành
trợ tọa ngọa tế toàn nghiên.
Hư
không đã phá minh tâm địa,
Pháp-giới
y nhiên kiến tánh thiên.
Bổn
lai diện mục hà xứ mịch,
Trực
hạ thừa dương Kim Sơn Tự.
Nghĩa
là:
Nay
nhằm năm một chín bảy sáu,
Mười
phương đại chúng về tham thiền.
Giờ
phút tích tắc cần quý giữ,
Ði
đứng nằm ngồi khéo dũa mài.
Ðập
nát hư không tâm địa sáng,
Y nhiên
Pháp-giới thấy tánh thiên.
Bổn
lai diện mục ở đâu tìm?
Ngay
đây, tức khắc: Kim Sơn Tự.
Hôm
nay là ngày rằm tháng 12 năm 1976, quý-vị có thiện căn ở
mười phương tới cái lò lửa của Kim Sơn Thánh Tự để
tham thiền. Tham thiền không phải là chuyện đùa, phải chịu
nhiều sự khốn khổ. Buổi sáng bắt đầu dậy từ hai giờ
để ngồi thiền (tọa hương). Ngồi một mạch đến 12 giờ
đêm mới ngủ, trung gian chỉ có một giờ đồng hồ để
nghỉ ngơi. Ðây là gia phong của Kim Sơn Thánh Tự.
Trong
thời kỳ tham thiền, mình phải quên thân, quên tâm, quên cả
thế giới; tất cả mọi thứ đều quên hết; tức là không
còn cái "ngã" nữa, cũng có nghĩa mọi thứ đều là không.
Khi tới được cảnh giới chân không như vậy, thì mới sinh
được diệu hữu. Quý-vị phải chú ý! Trong lúc tu hành, mình
không thể tùy tiện nói chuyện, tùy tiện nghỉ ngơi, không
được vọng tưởng, cũng không được lười biếng hoặc
tìm cách đi ngủ. Mỗi một giờ mỗi một phút mỗi một giây
đều phải biết quý trọng nó, nuối tiếc nó, cho nên người
ta nói rằng:
Nhất
thốn thời quang, nhất thốn mệnh quang.
Nghĩa
là:
Một
chút thời gian là một chút mạng sống.
Bởi
vậy, khi đi cũng tham thiền, khi đứng cũng tham thiền, khi
ngồi cũng tham thiền và khi nằm cũng tham thiền. Ði đứng
nằm ngồi đều là tham thiền. Nên nói phải cần khéo lấy
cái tâm mà mài dũa. Mài qua dũa lại, càng mài càng dũa thì
càng sáng suốt.
Mài
dũa là tham thoại đầu, không được đình chỉ, không được
ngừng nghỉ. Lúc nào cũng tham câu "Niệm Phật Là Ai?" hoặc
là tham câu "Khi cha mẹ chưa sinh ra ta, thì bộ mặt ta như thế
nào?" Bởi vậy, nên nói mình cần phải dùi mài, đục dũa
cho tới một ngày nào đó mình sẽ "đập nát đi cái hư không"
(ám chỉ sự vô minh ngu muội). Ðến lúc đó thì mình sẽ
hiểu rõ tâm địa của mình. Hư không tuy bị mình đập phá
đi nhưng Pháp-giới thì vẫn y nhiên tồn tại. Pháp-giới đó
tức là mười Pháp-giới, vẫn tồn tại, không có tạp loạn
gì hết. Ðó là lúc mình thấy được tánh thiên nhiên của
mình. Cái bản lai diện mục của quý-vị thì phải tìm ở
đâu? Quý-vị nên đến Kim Sơn Thánh Tự để tìm lại bản
lai diện mục của mình. Quý-vị tới chỗ khác sợ rằng sẽ
tìm không thấy đâu.
Tám
câu kệ tôi nói hôm nay, hy vọng quý-vị lưu tâm nhớ nó,
theo đó mà tu hành, không thể ăn mà không tiêu hóa, đó thật
là vô lý. Chớ xem việc nầy như gió thổi qua tai, nghe rồi
cũng như chưa nghe, chẳng có ích lợi gì cả.
Giảng
ngày 15 tháng 12 năm 1976
nhân
dịp Thiền-thất tại Kim Sơn Thánh Tự
Học
Phật Cần Có Chân Tâm
Nhất
cử nhất động, nhất ngôn nhất hạnh, đều phải chân thật.
Học
Phật-pháp mình cần phải có tâm chân thật, nhất cử nhất
động, nhất ngôn nhất hạnh đều phải chân thật. Ðừng
nên như kẻ thế tục, một nửa thật nửa giả. Nói năng
thì lúc có chút thiệt thà; lúc lại đầy giả dối. Người
tu Ðạo lúc nào cũng phải nói thật, làm chuyện thật, không
được nói láo. Mỗi một ý niệm, phải bỏ đi điều lỗi
lầm; trừ tập khí trong vô lượng kiếp và cố gắng cải
đổi nó đi. Tội lỗi mình đã tạo trong vô lượng kiếp
phải sám hối cho hết sạch.
Tại
sao có kẻ học Phật lâu năm như vậy mà không có một chút
tương ứng nào cả? Là bởi vì mình còn bao che lỗi lầm của
mình, không chịu đem tâm chân thật ra mà tu hành. Cho nên thời
gian trôi qua uổng phí mà mình không khai được trí huệ chân
chính, và cũng không được định lực chân chính. Thời gian
trôi qua một cách oan uổng, mà mình đạo nghiệp chẳng được
thành tựu, đó là điều thật đáng tiếc thay.
Sống
trong chùa, mình cần phải cần kiệm tất cả những thứ vật
chất. Có câu rằng:
Ái
tích thường-trụ vật,
Như
hộ nhãn trung châu.
Nghĩa
là:
Hãy
quý vật của chùa,
Như
gìn giữ con ngươi (trong mắt).
Ðồ
vật của chùa như gạo, dầu, tương hay dấm, mình đều phải
quý nó, không được lãng phí bừa bãi. Cho đến những cái
mình dùng, một đầu ngọn cỏ, một khúc gỗ, một trang giấy
mình cũng phải biết quý, biết tiếc kiệm. Nếu ở những
chỗ nầy mình không cẩn thận, chẳng biết tiếc phước thì
làm tiêu hao công đức biết bao. Rằng:
Sở
tu, bất như sở tạo,
Sở
đắc, bất như sở đâu.
Nghĩa
là:
Công
mình tu không bằng nghiệp mình tạo,
Ðiều
mình được ít hơn thứ mình mất.
Thêm
một điều nữa là nhất cử nhất động, nhất ngôn nhất
hạnh mình chớ tổn hại đến người khác. Khi nói thì phải
dùng lời lẽ đức độ; không được nói lời ỷ ngữ (lời
thêu dệt), lời dối trá, lời ác ôn hay lời hai đằng. Miệng
là cái mà mình cần phải chú ý đặc biệt. Thân thì không
được sát sinh, không được trộm cắp, không được tà dâm.
Ý thì không được phạm tham sân si, đừng nên coi trọng tấm
thân thịt da hôi hám nầy. Nếu tâm tâm niệm niệm mình vì
thân này lén trộm đồ ăn, tìm áo quần trang sức, hoặc tìm
cách để thân nầy hưởng thụ, khoái lạc thì đó đều là
điên đảo! Mình phải nghĩ làm sao mà xuất ly tam-giới (Dục
giới, Sắc giới, Vô sắc giới), thoát ra khỏi lục đạo
(địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, A-tu-la, người và trời) luân
hồi nầy, làm sao cải biến sửa đổi tập khí của mình.
Phải làm cạn sạch bể ái tình. Lúc ấy mình mới toại tâm
mãn nguyện thành tựu đạo quả Bồ-đề được.
"Tu
đạo, mình không được hưởng phước." Hãy nhớ lại gương
các vị lão Tổ tông của Phật-giáo. Ðức Phật Thích Ca là
một vị thái tử quyền quý cao sang nhất, song Ngài có thể
bỏ tất cả để xuất gia tu Ðạo. Nếu nói đến thân phận,
thì dù Ngài xuất gia rồi, Ngài cũng có thể ăn ngon mặc đẹp,
ở chùa thật tốt thật sang; song Ngài đâu có làm vậy. Ngài
tới núi Tuyết Sơn chịu khổ sở, đói khát, nóng lạnh, tu
hành suốt sáu năm. Trong sáu năm đó, Ngài không ăn đồ ngon,
chẳng ở chỗ đẹp, cũng không có kêu người ta tới cúng
dường. Ngài chỉ ở đó kham chịu mọi khổ cực.
Thử
ngẫm nghĩ xem thân phận quyền quý của Ðức Phật Thích Ca
Mâu Ni, người tự ý chịu khổ tu hành như vậy; rồi hãy
thử ngẫm đến thân phận của mình ra sao? Mình bất quá chỉ
là kẻ phàm phu thì tại sao đòi ăn ngon, mặc đẹp, ở chỗ
tốt, tham hưởng thụ, không chịu cực lại còn sợ khổ!
Quý-vị thử nghĩ xem mình so sánh với Ðức Phật Thích Ca
Mâu Ni, thật chẳng hết sức hổ thẹn sao?
Ưng
Vô Sở Trụ
Nhi
Sanh Kỳ Tâm
Phải
làm như chẳng hề làm.
Khi
làm xong việc gì, đừng chấp
trước
rằng có được công đức gì.
Tác
lễ vô trụ hóa vãng sanh.
Vô
cùng vô tận nghĩa di phong.
Thập
phương Như Lai đồng nhiếp thọ.
Ly
khổ đắc lạc xuất hỏa khanh.
Nghĩa
là:
Không
trụ lễ lạy, độ vãng sanh.
Nghĩa
lý phong phú chẳng tận cùng.
Mười
phương Như Lai đồng tiếp thọ.
Thoát
hầm lửa khổ được an vui.
Ðạo
Phật thường có câu: "Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm" (khởi
tâm niệm mà chẳng trụ trước vào bất kỳ quan niệm, tình
cảm hay hình tướng gì cả). Do đó khi giảng Chú Lăng Nghiêm,
tôi có nói rằng: "Tác lễ vô trụ hóa vãng sanh." Chữ "sanh"
này có nghĩa là sanh sanh không ngừng, hóa hóa chẳng dứt.
Tác lễ là lễ lạy chư Phật. Vô sở trụ có nghĩa là không
chấp trước. Quý-vị nói: "Nếu tôi không tu hành gì hết
thì sẽ chẳng có gì chấp trước!" Như vậy là lầm! Khi tu
hành, quý-vị chớ chấp trước là mình có tu. Quý-vị nói:
"Nếu lúc không ăn uống mà tôi chẳng chấp trước là tôi
không ăn uống, thì cái bụng tôi có chịu đồng ý đâu."
Song le nếu quý-vị ăn no rồi, mà cứ muốn ăn thêm, thì cũng
chẳng đúng. Kinh Kim Cang nói: "Khởi tâm niệm song chẳng trụ
trước vào đâu cả."
Hôm
nay có một người nghĩ rằng câu "Khởi tâm niệm song chẳng
trụ trước vào đâu cả" thì cho rằng không cần tu hành,
không cần niệm chú, cũng chẳng cần tụng kinh; vậy thì mới
không chấp trước. Không phải vậy đâu! Mình phải "hành
sở vô sự" - làm mà như chẳng hề làm. Khi làm việc gì rồi,
quý-vị đừng nên chấp trước rằng mình được công đức
này nọ, thì đó chính là vô sở trụ. Khi có chỗ trụ trước
thì có chỗ dính mắc, chỗ kẹt cứng, không thể siêu thoát
được. Do đó, thâm tâm mình chớ trụ trước vào đâu cả,
quét sạch hết mọi pháp, xa lìa hết mọi tướng. Lúc đó
thì sự sanh sanh hóa hóa (cảnh do chân tâm hiển hiện) sẽ
vô cùng vô tận. Do đó câu: "Vô cùng vô tận nghĩa di phong"
là nói sự vô cùng tận của ý nghĩa câu Chú Lăng Nghiêm.
Ý nghĩa của câu Chú nhiều đến nỗi không còn gì nhiều
hơn nữa.
Bởi
vì thế khi mình niệm một câu Chú Lăng Nghiêm thì "Thập phương
Như Lai đồng nhiếp thọ," mười phương chư Phật đều nhiếp
thọ mình, hệt như khi mình đối xử với một em bé vậy:
"Con ơi đừng khóc nữa! Ta cho kẹo đây nè. Ðừng khóc! Chờ
một tí ta sẽ cho con trái táo!" Khi em bé nghe trái táo tai nó
vễnh lên, chú ý nghe. Cũng vậy, chư Phật mười phương nhiếp
thọ quý-vị, khiến quý-vị "ly khổ đắc lạc, xuất hỏa
khanh."
Trí
Huệ Quang Minh Từ Vô Lậu
Khi
lòng có dục niệm, thật giống như của cải
bị
bọn cướp đoạt mất.
Chư
Phật Bồ-tát hiền thánh tăng đều có trí huệ quang minh vô
lượng. Trí huệ đó là trí huệ vô lậu vô tận.
Người
thường ai cũng là hữu lậu bởi vì có vô minh. Phật Bồ-tát
là vô lậu bởi vì các Ngài không còn vô minh nữa. Vô minh
nghĩa là không hiểu biết, hồ đồ, không biết cái nào đúng
cái nào sai, không phân biệt được trắng với đen.
Cái
lậu lớn nhất là dục lậu (lòng dâm dục), nếu mình có
lòng dâm thì cũng giống như tài sản (công đức) của mình
bị bọn cướp (lòng dục vọng) đoạt mất đi. Cũng giống
như thân cây bị sâu khoét không còn dùng đặng. Lại cũng
giống như mâm đồ ăn thơm ngon lại bị bỏ một đống phân
ở bên trên làm cho người ta buồn nôn đến ba ngày.
Có
người lại nói: "ồ, tâm dâm dục nầy ai cũng có cả mà."
Ðúng, bởi vì do có lòng dâm đó, nên mình mới phải tu hành.
Nếu mình không còn dục vọng thì bản lai trí huệ quang minh
mới hiện ra. Nên "vô lậu" là chỗ mà người tu hành muốn
tới; đó là đồ quý nhất người tu muốn đắc.
Quý-vị
phải hết sức chú ý! Trong sáu thứ thần thông (Thiên nhãn
thông, Thiên nhĩ thông, Thần túc thông, Tha tâm thông, Túc mạng
thông, Lậu tận thông) Lậu-tận-thông nầy nghĩa là gì? Chính
là không còn dục lậu nữa, hoàn toàn không còn lòng dâm dục
nữa. Nên nói rằng mình phải "đoạn dục khử ái" (Cắt đứt
lòng dâm dục, chặt phăng tâm ái tình), nếu có thể tu đến
chỗ "lô hỏa thuần thanh" (công phu chín mùi) thì mình sẽ
tự tại. Nếu không đoạn dục, không khử ái thì mình luôn
bị vô minh chi phối làm điên đảo. Từ sớm đến tối không
được tự tại, không được sung sướng là bởi vì lòng
dâm dục cứ phá phách mình.
Các
vị thiện-tri-thức! Ðây là chỗ thiết yếu mà mình cần
phải đặc biệt dụng công. Bởi do nó mà mình phản bổn
hoàn nguyên, khôi phục bản lai diện mục của mình, chứng
được trí huệ vô tận; cái nguồn đó không bao giờ cạn,
lấy không hết, dùng cũng không xuể.
Quý-vị
cần phải phát tâm bồ-đề mới có thể phá được cửa
sinh tử. Tự mình phải phản tỉnh hỏi lòng mình: Tại sao
ta cần phải tin Phật? Tại sao ta muốn xuất gia? Tại sao xuất
gia rồi mà mình không tu hành? Tại sao xuất gia rồi ta vẫn
còn đủ thứ vọng tưởng? Ðó là những vấn đề mà mình
đừng nên bỏ qua, phải nghĩ cho thông suốt thì mới thoát
khỏi Tam-giới, liễu sinh thoát tử, đến chỗ Niết-bàn an
lạc được.
Tu
Ðức - Tạo Nghiệp
Trong
cuộc sống hằng ngày, ta giống như kẻ sống trong say đắm,
chết trong mộng mị. Không tu một chút công đức nào, thì
làm sao thành Phật được?
Quý-vị
thử nghĩ xem: Phật xưa kia, do tu vô lượng vô biên công đức,
nên mới thành Phật được.
Chúng
ta tại sao chưa thành Phật? Là bởi chúng ta chưa có tu vô
lượng vô biên công đức. Công đức của mình so với Ngài
thật quá sai lệch. Bởi vì một mặt thì mình tu hành, một
mặt thì tạo tội nghiệp; do đó "Công tu không bằng tội
nghiệp tạo ra."
Từ
sáng đến tối mình tạo thân nghiệp, tạo khẩu nghiệp, tạo
ý nghiệp. Thử xét tư tưởng của mình: Hết tưởng người
nầy không tốt lại tưởng người kia đối với mình không
đẹp; tưởng người nọ đối với mình nghĩ như vầy, nói
thế kia, cho nên trong lòng tạo ra đủ thứ nghiệp tham, sân,
si. Ở nơi miệng, mình cũng tạo nghiệp, nào là nói thị phi
(kẻ đúng người sai), hoặc là nói láo, nói lời thêu dệt,
nói điều ác ôn, nói điều đâm chọc hai đầu làm cho người
nầy người kia bất hòa. Có những người một ngày không
nói những chuyện thị phi thì giống như một ngày họ không
sống vậy. Một ngày không nói láo giống như ngày đó họ
không có cơm ăn vậy, họ cảm thấy rất là khó chịu, nên
từ sáng tới tối phải nói chuyện thị phi, nói chuyện láo
lếu thì họ mới sống được. Các vị coi thử mấy người
nầy có kỳ quái chăng? Thật làm cho người ta tốn công giải
thích!
Những
người có tật xấu mà tự mình không nhận lỗi, lại còn
che đậy, bao che cho cái tội của mình. Cho rằng mình đâu
có nói dối, mình nào có vọng tưởng, mình cũng chẳng có
dục niệm, đeo cái mặt nạ giả để đi lừa người khác.
Kỳ thật ở đời nầy làm sao mình có thể lừa được ai?
Chẳng những mình không lừa được người khác mà tự mình
cũng không lừa được chính mình. Tại sao vậy? Tại vì khi
mình có vọng tưởng, thì thử hỏi xem mình có biết hay không?
Nếu mình biết thì mình không cách gì lừa được mình. Nếu
không lừa được chính mình, thì làm thế nào để lừa người
khác chứ? Chỉ có người ngu si thì mới đi lừa kẻ khác
thôi.
Người
không thật sự tu hành thì mang mặt nạ, lòng dạ đen tối,
không giữ quy luật, chẳng làm chuyện quang minh chính đại,
song không chịu thừa nhận. Do đó trong sự sinh hoạt hằng
ngày, y giống như kẻ được sinh ra trong say đắm, chết đi
trong mộng mị (túy sinh mộng tử). Không tu một chút công
đức nào, thì làm sao thành Phật được? Những người nầy
cách xa Phật đến trăm ngàn vạn dặm.
Nói
cách khác, công đức mà mình tu được ít hơn tội nghiệp
mình tạo ra, tức là "Phần thu hoạch không nhiều bằng phần
mất đi." Thử hỏi như vậy thì làm sao thành tựu được?
Vạn
Vật Ðều Nói Pháp Cho Mình
Hễ
tỏ rõ thì mới buông bỏ đặng.
Không
tỏ rõ thì cứ mãi chấp trước.
Trong
Kinh Hoa Nghiêm có dạy rằng: "Phật thị hiện bách thiên ức
chủng âm thanh, vi chúng sanh diễn thuyết diệu Pháp." Nghĩa
là Phật thị hiện trăm ngàn ức loại âm thanh, để diễn
nói Pháp mầu cho chúng sinh. Chúng ta cần giác ngộ tất cả
các âm thanh trên thế giới, vì tất cả đều là tiếng thuyết
Pháp. Rằng:
Khê
thanh tận thị quảng trường thiệt,
Sơn
sắc vô phi thanh tịnh thân.
Nghĩa
là:
Suối
reo là tiếng lưỡi rộng dài,
Non
xanh là bóng thanh tịnh thân.
Tiếng
âm thanh của con suối, con lạch giống như tiếng nói từ nơi
lưỡi rộng dài của đức Phật diễn thuyết diệu Pháp; màu
xanh của núi, cũng chính là màu của thanh tịnh Pháp-thân,
khiến kẻ trông thấy sinh lòng hoan hỷ. Nếu hiểu được
triết lý này, thì trên đời, tất cả mọi thứ đều đang
nói Pháp cho mình nghe.
Người
thiện nói Pháp thiện. Người ác nói Pháp ác. Con ngựa thì
nói Pháp làm ngựa, con trâu thì nói Pháp làm trâu. Chúng làm
mình hiểu nguyên nhân làm thân ngựa, thân trâu. Thì ra, những
con ngựa, con trâu này kiếp trước là kẻ không hiếu thảo
với cha mẹ, không cung kính với sư trưởng, hoặc không muốn
nghe lời cha mẹ, ân sư giáo huấn, quay lưng nghịch lại cha
mẹ, ân sư, nên giờ đây sinh ra làm loài súc vật, chúng không
thay đổi gì mấy.
Nói
tóm lại, trì Ngũ-giới và hành Thập-thiện thì mình sinh làm
người hay lên trời. Khi có tham, sân, si, thì bị đọa ba nẻo
ác (địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh).
Con
mèo đuổi bắt con chuột. Con cọp rượt ăn con thỏ. Kẻ mạnh
hà hiếp kẻ yếu. Tất cả đều nói Pháp cho mình nghe. Sự
gì cũng đều có nhân quả của nó. Mỗi việc đều có lập
trường riêng, đều nói lên Pháp kỳ-diệu cho mình nghe. Ông
thầy thì nói Pháp của ông thầy. Học trò thì nói Pháp của
học trò. Vị Tỳ-kheo thì thuyết Pháp của vị Tỳ-kheo. Vị
Tỳ-kheo-ni thì thuyết Pháp của Tỳ-kheo-ni. Hữu tình thuyết
Pháp, vô tình cũng thuyết Pháp. Nếu nhận thức được thì
núi xanh, mây trắng, bông vàng, trúc biếc, vạn sự vạn vật
đều thuyết Pháp cho mình nghe cả.
Kẻ
thổ phỉ đi ăn cướp tài vật của người khác là bởi vì
trong quá khứ y từng bị kẻ khác cướp, nên bây giờ tới
đòi nợ. Nếu xưa không bị người cướp mà bây giờ đi
cướp của người, thì tương lai y sẽ bị người cướp lại.
Ðó gọi là hoàn trái (tức là trả nợ). Ðây là đạo lý
chân thật về sự báo ứng trong vòng tuần hoàn nhân quả.
Do
đó, làm người mình phải biết "chánh đại quang minh, đại
công vô tư" (đại công nghĩa là việc chung, vô tư nghĩa là
không có lòng ích kỷ, tư vị riêng). Bất cứ mọi nơi, mọi
lúc mình không nên nghĩ cách chiếm tiện nghi, không chịu thua
thiệt. Thật sự thì "chịu thua thiệt là cách để được
tiện nghi." Phải nhớ lấy, quý-vị, hãy ghi nhớ lấy. Ðừng
nên tìm cách để chiếm tiện nghi, mình phải nhường cho người
khác, chịu thua thiệt đi. Khi được tiện nghi mà mình không
nhận, mình nhường lại cho người khác, thì đó chính là
mình tồn giữ được cái đức.
Mọi
người phải làm đúng với cương vị, tận tình vì chức
vụ của mình. Ðừng tham những thứ mình không xứng đáng
hưởng, đừng uống quá lố những thứ rượu chè. Ðó cũng
là thuyết Pháp vậy.
Nên
nói:
Thanh
thanh thúy trúc tổng thị pháp thân,
Uất
uất hoàng hoa vô phi bát nhã.
Nghĩa
là:
Xanh
xanh trúc biếc đều lộ Pháp thân.
Lấp
lánh cúc vàng không chẳng Bát-nhã.
Mình
phải quan sát tất cả mọi sự việc như vậy. Hễ hiểu rồi
thì hãy buông bỏ mọi thứ. Không hiểu thì sẽ mãi chấp
trước.

|