cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Tu
Hành Có Bốn Giai Ðoạn
Hãy
coi ngày quy y là ngày sinh nhật.
Cuộc
đời tu hành tính từ đó.
Một
năm có bốn mùa: Xuân, hạ, thu, đông. Ðó là chuyện hiển
nhiên, ai cũng biết. Nhưng quý-vị có biết chăng là đời
người cũng phân thành bốn giai đoạn: Sanh, lão, bệnh, tử.
Làm người, ai ai cũng chết, nên mình phải tính chuyện về
sau mà lo tu Ðạo. Tu hành cũng có bốn giai đoạn, tức là:
học, hành, thành, và liễu.
Con
người từ lúc mới ra đời đến lúc hai mươi tuổi là khoảng
thời gian học Ðạo. Trong thời kỳ này mình phải học hỏi,
học Phật-pháp cho giỏi. Cũng giống như là trong sách Ðại-học
có nói: "Tại minh minh đức." Nghĩa là làm chói ngời cái đức
sáng suốt. Ðó là lúc mình huấn luyện đức tánh của mình
ngày càng thêm trong sáng. Từ hai mươi mốt tuổi cho đến
lúc bốn mươi là khoảng thời gian hành Ðạo. Ðây là lúc
mình áp dụng cái sở học; đem chỗ học hỏi và sự hiểu
biết khi trước của mình ra phổ độ chúng sinh, khuông phò
thế tục. Như trong sách Ðại-học có viết: "Tại thân dân"
nghĩa là làm đổi mới đời dân. Từ tuổi bốn mươi mốt
cho đến tuổi sáu mươi gọi là thời gian thành Ðạo. Trong
sách Ðại-học có ghi rằng: "Chỉ ư chí thiện" nghĩa là ngừng
lại ở nơi tốt đẹp nhất. Khổng-tử giảng về "chí thiện"
nhưng không được triệt để lắm, bởi vì chưa đạt tới
cảnh giới Chân-không Niết-bàn, nên chưa phải là cứu cánh.
Vì vậy ở giai đoạn chót, chúng ta cần phải "liễu Ðạo."
Sau khi thành Ðạo rồi, mình trở về cảnh giới Niết-bàn.
Nếu so sánh với ba cương lĩnh của Nho-giáo: "Minh-đức, thân-dân,
chỉ ư chí-thiện" thì Phật lý tu hành viên dung hơn nhiều
nữa.
Có
người nói: "Từ lúc nhỏ tới lúc hai mươi tuổi tôi chưa
tin Phật. Bây giờ, nói là học Ðạo thì thời gian đó đã
qua rồi. Làm sao tôi còn học hỏi được? Phải chăng tôi
không cần học?" Quý-vị phải hiểu, khi tôi nói tới bốn
giai đoạn, đó chỉ là điều lý tưởng mà thôi, không phải
là cố định, bất di bất dịch. Bởi thế mình có thể coi
ngày quy y như là ngày sinh nhật vậy, rồi từ ngày đó tính
đi mới kể là thời gian bắt đầu tu hành.
Lại
có người nói: "Tôi đã quy y được bốn năm rồi mà sao chưa
học được một chút Phật-pháp gì cả?" Kỳ thật quý-vị
tuy đã quy y được bốn, năm năm, nhưng đối với Phật-giáo,
chẳng qua quý-vị chỉ là một đứa trẻ bốn, năm tuổi mà
thôi. Bởi thế quý-vị đừng lo sầu rằng mình không làm
nên việc gì cả. Phật-pháp rất là thâm áo. Chỉ cần sau
khi mình quy y, hai mươi năm nổ lực học Ðạo, hai mươi năm
nổ lực hành Ðạo, thì chẳng lẽ mình không có ngày thành
tựu sao?
Lại
có một ông lão cảm khái thở dài mà than rằng: "Hiện nay
tôi đã tám mươi tuổi rồi, e rằng không còn cơ hội để
có được hai mươi năm rồi thêm hai mươi năm nữa để mà
hạ thủ công phu." Ðúng vậy. "Thời gian giảm khứ mệnh quang
vi," tức là ngày tháng trôi đi, mạng giảm dần. Ngày tháng
thì không còn nhiều đâu, thật đó! Nếu mình đem thời gian
làm rút lại mà tính, cứ hai tháng tu Ðạo, hai tháng hành
Ðạo như vậy mà suy rộng thì chỉ cần mình chân tâm với
quyết chí thì dù già cũng như kẻ thanh niên, tinh tấn dũng
mãnh, từng bước, từng bước mà tu tập thì lo gì không có
ngày thành đạt. Hãy nổ lực!
Giảng
ngày 15 tháng 6 năm 1958
Thức
Khuya Dậy Sớm,
Vì
Ai Mà Bận Rộn?
Mình
phải thức khuya dậy sớm lễ Phật, niệm Phật, cầu tiêu
tan tội chướng.
Nên
vì Pháp mà bận rộn.
Túc
hưng dạ mỵ vi thùy mang.
Chúng
sinh nan độ phả kham thương.
Mê
chư trần lao tánh điên đảo.
Nhĩ
đề diện mệnh háo vô phương.
Nghĩa
là:
Thức
khuya, dậy sớm vì ai rộn?
Chúng
sinh khó độ thật đáng thương.
Mê
mờ đời bụi lòng đảo lộn.
Nhéo
tai trỏ mặt, dạy chẳng xong.
"Túc
hưng" nghĩa là dậy sớm, "Dạ mỵ" nghĩa là ngủ ban đêm.
Có những người luôn làm nô lệ cho bản thân mình. Thức
khuya dậy sớm tại vì sao? Cứu cánh vì ai mà bận rộn lăng
xăng như vậy? Vì người khác? Vấn đề này tôi tin chắc
rằng có nhiều người không giải đáp được, thậm chí có
người còn nói: "Tôi không bận rộn chuyện gì cả, không
lăng xăng gì hết!"
Như
vậy thật cũng lạ. Có những người làm việc mà cũng chẳng
rõ công việc của mình là gì. Giống như con buôn, những kẻ
ngày đêm lăng xăng bận rộn lo cho chuyện buôn bán của mình
đến nỗi đêm ngủ không yên giấc. Ðó gọi là thức khuya
dậy sớm lăng xăng vì đồng tiền. Cho đến những kẻ sĩ,
nông, công, thương, bởi vì muốn thành công nên không còn
tự chủ, phải thức khuya dậy sớm. Trong Thi-kinh có một đoạn
như sau:
Kê
ký minh dĩ hỷ, triều ký doanh hỷ.
Phi
kê tắc minh, thương giăng chi thanh.
Nghĩa
là:
Gà
gáy sáng ư? Trời hừng tỏ ư?
Chẳng
phải gà gáy! Ấy! Tiếng ruồi bay!
Nghĩa
là gà đã gáy sáng rồi, bây giờ mình phải dậy. Phải chăng
là ban ngày rồi? À! Nào phải là tiếng gà gáy, đó chỉ là
tiếng con ruồi xanh mà thôi. Ðoạn văn nầy trong Thi-kinh diễn
tả các vị hiền minh quân chủ thời xưa. Các vị thấy đó,
tuy thân làm hoàng đế mà đêm ngủ cũng không ngon giấc, vì
mãi lo trời chóng sáng phải lâm triều xử lý công việc đến
nỗi nghe tiếng ruồi bay mà tưởng lầm là tiếng gà gáy.
Như vậy thì thức khuya dậy sớm vì dân mà bận rộn. Nên
nói rằng: "Nhất nhân hữu khánh triệu dân lại chi." Nghĩa
rằng một người có phước thì triệu dân được nhờ. Cũng
như nếu một nước có một vị minh quân, vị vua hiền, nhân
nghĩa trị vì thì trăm dân sẽ được hưởng ấm no hạnh
phúc. Nên một vị quân vương sao lại không thể thức khuya
dậy sớm để lo lắng hạnh phúc cho dân chứ?
Là
người tu Ðạo, chúng ta cần phải thức khuya dậy sớm, không
vì lợi mà bận rộn cũng chẳng vì danh mà lăng xăng. Mình
phải vì Pháp mà bận rộn. Mình phải "Túc dạ phỉ giải,
dĩ sự chư Phật" nghĩa là ngày đêm không mệt mỏi phụng
sự chư Phật. Mình phải dậy sớm thức khuya ngày ngày lễ
Phật, tụng kinh để biểu thị tâm trung thực, lòng chân thành
của người con Phật. Ðây không phải là lòng nghĩ một đằng
mà miệng nói một nẻo, hoặc nói mà không làm.
Khi
lạy Phật phải chuyên tâm thành ý, vì lạy Phật có thể
tiêu trừ tội chướng. "Phật tiền đảnh lễ tội diệt hà
sa," nghĩa là đảnh lễ trước mặt Phật tiêu tội nghiệp
nhiều như cát sông Hằng. May rằng tội không có hình tướng,
nếu như có thì sẽ nhiều như cát trên sông Hằng vậy. Do
đó mình phải thức khuya dậy sớm lễ Phật, niệm Phật,
cầu cho tội chướng của mình tiêu trừ; mình nên vì Pháp
mà bận rộn.
Thật
khó mà đo lường bản tính của chúng sanh. Ví như những kẻ
thích ăn ngọt mà cho họ đồ chua thì họ không thích, không
vui. Kẻ thích đồ chua mà cho đồ ngọt thì y lại chẳng vui
mừng. Ðối với hạng người như vậy, nếu không biết phẩm
tánh của họ thì khó có thể độ họ được. Bởi vì Phật
có trí huệ, Ngài biết được căn tánh của chúng sinh, nên
tùy nghi ứng hóa, bôn ba không ngại lao khổ để độ chúng
sinh. Song le, chúng sinh không những chẳng sinh lòng cảm động,
lại còn chẳng chịu tiếp thọ sự dạy bảo của Phật Bồ-tát.
Cho nên nói rằng: "Chúng sinh nan độ phả kham thương." Nghĩa
rằng chúng sinh khó độ chẳng đáng thương sao? Chữ "thương"
ở đây có nghĩa là bi thương. Vì chúng sinh ngu muội, điên
đảo nên chư Phật Bồ-tát mới sinh lòng xót thương vậy.
Tại
sao chúng sinh lại khó độ như vậy? Ðó là bởi "mê chư trần
lao tánh điên đảo." Nghĩa là bị trần lao làm cho mê hoặc,
điên đảo. Ðó là lời giải đáp. Bởi vì chúng sinh, trong
vô lượng kiếp đã bị lục trần làm cho nhiễm ô sâu đậm.
Lặn hụp trong biển khổ, triển chuyển trầm luân, điên đảo,
ngược ngạo, lấy sự khổ làm niềm vui, lấy điều sai cho
là đúng. Ví như ngày nay con người ưa thích ăn mặc theo thời
trang, chẳng những không có chút trang nghiêm nào mà còn sinh
ra nhiều hậu quả không tốt về sau. Người đời ai ai cũng
biết nhưng đều phạm vào cái lỗi đó. Ai ai cũng tranh giành,
ganh đua, không biết rằng biển khổ thì vô biên, nhưng quay
đầu thì sẽ tới bến. Cũng giống như những võ khí chiến
tranh bây giờ, loài người chẳng những không hủy bỏ chúng
đi mà còn mỗi ngày tìm cách làm cho chúng thêm tinh xảo, nổ
lực phát minh ra những thứ giết người cho thật tối tân,
thật tinh vi. Quý-vị xem, đây không phải là chuyện điên
đảo thì là gì?
Bởi
vì sự điên đảo của chúng sinh cho nên tất cả các vị
thánh nhân, thiện-tri-thức đều hết lòng khuyên dạy chúng
sinh; giống như người lớn dạy đứa trẻ con, kéo tai mà
huấn dụ. Dù vậy, chúng sinh cũng chẳng chịu nghe theo; thậm
chí còn tìm trăm phương nghìn cách để che dấu tội lỗi
của mình, không cho kẻ trên biết. Ðây thật chính là "Nhĩ
đề diện mệnh hóa vô phương." Nghĩa là kéo tai, chỉ vào
mặt để dạy nhưng cũng không sao dạy được.
Ôi!
Bản lĩnh phạm tội của chúng sinh thật vô song; ngay đến
Phật Bồ-tát còn cảm thấy khó độ chúng sinh. Quý-vị thấy
có thật đáng bi thương chăng?
Giảng
ngày 16 tháng 6, năm 1958
Niệm
Phật Giống Như
Gọi
Ðiện Thoại
Nếu
mình không gọi điện thoại,
đâu
ai trả lời.
Niệm
niệm chân thành niệm niệm thông,
Mặc
mặc cảm ứng, mặc mặc trung.
Trực
chỉ sơn cùng thủy tận xứ,
Tiêu
dao Pháp-giới nhậm Tây Ðông.
Nghĩa
là:
Niệm
niệm chân thành, niệm thấu suốt,
Lặng
lặng cảm ứng, lặng trung dung.
Ðến
khi núi mòn sông cạn hết,
Tiêu
diêu Pháp-giới khắp Ðông Tây.
Không
biết quý-vị có liễu ngộ được chân nghĩa của bài kệ
vừa rồi hay chăng?
"Niệm
niệm chân thành, niệm thấu suốt," chữ niệm đầu tiên nói
lên ý niệm do tâm phát ra. Chữ niệm thứ hai là chỉ ý niệm
do miệng thốt ra. Nếu chỉ có ý niệm thứ nhì, tức là ý
"niệm" phát ra từ nơi miệng thì không còn là ý niệm chân
thành. Cho nên tâm khẩu cần phải chân thành khi niệm danh
hiệu Phật Bồ-tát. Chúng ta cần niệm đến chỗ tâm và miệng
hợp nhất, một mà không hai. Chúng ta không thể tùy tiện
mà niệm, cũng không thể niệm một cách tán loạn, và càng
không nên niệm một cách tạp nhạp với nhiều vọng tưởng
của mình. Nếu mình làm được như vậy thì mới gọi là
chân thành được.
Có
được ý niệm chân thành thì nhất định sẽ được cảm
ứng. Cảm ứng đó là gì? Là sự tương thông giữa tâm phàm
phu của mình với tâm sáng lạng của chư Phật Bồ-tát. Ðó
gọi là:
Quang
quang tương chiếu;
Khổng
khổng tương thông.
Nghĩa
là:
Ánh
sáng này chiếu ánh sáng kia;
Lỗ
lông này thông lỗ lông kia.
Tại
sao có được cảm ứng như vậy? Giống như khi gọi điện
thoại, bên này có quay số, bên kia mới trả lời. Niệm danh
hiệu Bồ-tát cũng vậy, sẽ có lúc Bồ-tát hỏi mình rằng:
"Thiện nam tử, thiện nữ nhân, các vị cần điều chi?" Lúc
đó mình cầu gì sẽ được nấy. Nếu thiếu thành tâm thì
cũng như điện thoại có năm số, mà mình chỉ quay có ba số
rồi ngừng tay, làm sao đường dây có thể thông được. Niệm
danh hiệu Bồ-tát cũng vậy, nếu mình niệm một chốc rồi
ngừng lại, đó là thiếu thành tâm. Nhất định không có
chuyện cảm thông được.
Chỉ
ai có cảm ứng mới nhận biết sự "quang quang tương chiếu"
này. Cũng như khi gọi điện thoại, phải nhấc ống nghe lên
mới nghe rõ người bên kia đầu dây. Vì phàm phu không sao
thấy được luồng sóng qua lại của điện thoại nên bài
kệ nói rằng: "Im lặng cảm ứng, im lặng trung dung."
Còn
nói đến: "Núi mòn, sông cạn hết" là chỗ mà "Bách xích
can đầu trùng tiến bộ. Tán thủ thiên không biệt hữu thiên."
Nghĩa là: Ðầu sào trăm trượng cứ bước tiếp. Duỗi tay
trời sập: một trời mới. ý nói rằng: ở nơi đầu sào
trăm trượng, mình buông tay thì ngoài trời kia còn có bầu
trời khác. Khi mình niệm đến chỗ sơn cùng thủy tận, thì
lúc đó mình niệm mà không niệm bởi vì niệm và mình đã
thành một khối. Ðó là lúc mình có thể "Tiêu dao Pháp-giới,
nhậm Tây Ðông." Thí dụ khi mình muốn vãng sinh Cực-lạc
thế giới thì tức khắc được như ý. Nếu muốn "đảo giá
từ hàng," trở lại độ chúng sinh thì mình cũng có thể ứng
nghiệm; từ thế giới Cực-lạc mà trở lại thế giới Ta-bà,
hoặc đến tất cả Pháp-giới khác. Không chỗ nào mình muốn
tới mà chẳng đặng, nên nói rằng "nhậm Ðông Tây" chính
là:
Nhất
như ý, nhất thiết như ý.
Nhất
tự tại, nhất thiết tự tại.
Nghĩa
là:
Một
việc như ý, muôn việc như ý,
Một
việc tự tại, muôn việc tự tại.
Cho
nên người học Phật lúc nào cũng phải chân thành. Nếu mình
không như vậy tức là hư ngụy, là thứ: "Khai không hoa, bất
kết quả" tức là nụ hoa giả có nở ra cũng không sao kết
trái được. Học Phật cần nhất là đừng tự dối mình.
Thêm
vào đó, cổ nhân lại có câu: "Quân tử cầu chư kỷ, tiểu
nhân cầu chư nhân." Nghĩa rằng người quân tử thì tìm đáp
án nơi chính mình, dựa vào năng lực của mình, còn kẻ tiểu
nhân thì nương tựa, cầu cạnh kẻ khác. Chúng ta không thể
có tâm ỷ lại, phải biết rằng sự cảm ứng là tự mình
chiêu cảm lấy, không do nơi khác. Có người nói: "Niệm Phật
để được sinh Tịnh-độ; như vậy nhờ Phật mới được
tiếp dẫn." Câu nầy có thể đúng nhưng cũng có thể không
đúng. Tại sao vậy? Bởi vì thuyết tiếp dẫn do đối căn
cơ mà lập. Ðối với chúng sinh còn đầy lòng tham, luôn hy
vọng chỉ dùng ít sức mà hoạch kết quả lớn; hay thích
cho vay ít lấy lãi nhiều, thánh nhân do đó phải tùy cơ ứng
biến, nói rằng Phật lực tiếp dẫn với mục đích là muốn
chúng sinh nổ lực niệm Phật. Kỳ thật kẻ niệm danh hiệu
Phật Bồ-tát mà được vãng sinh Tịnh-độ đều hoàn toàn
do dựa vào sức lực của chính họ.
Niệm
Phật nào phải do Phật niệm giúp mình đâu! Khi muốn niệm
danh hiệu Bồ-tát, có phải là ý niệm đó xuất phát từ
Bồ-tát không? Nếu không thì làm sao gọi là nhờ vào tha lực
được? Ðây giống như là Phật và Bồ-tát phóng quang gia
bị cho mình. Ðó cũng là sự cảm ứng do công đức mình niệm
Phật Bồ-tát. Ðem chuyện gọi điện thoại ra ví dụ thêm
lần nữa, nếu mình không nhấc điện thoại quay số thì đâu
ai có thể tiếp chuyện cùng mình? Niệm Phật cũng đồng đạo
lý như vậy.
Kỳ
thật, tâm niệm hy vọng Phật tiếp dẫn mình vãng sinh Tịnh-Ðộ
thực ra là tâm tham, tâm ỷ lại, là cái tâm mình không muốn
có. Khi tu hành, phải tự dựa vào năng lực của mình, phấn
chấn tinh thần, dũng mãnh tinh tấn; phải biết quả báo không
phải là kẻ khác mang đến mình. Cho nên niệm Phật không
thể nói rằng nhờ Phật lực tiếp dẫn được.
Cổ
nhân có câu: "Tướng tướng bổn vô chủng, nam nhi đương
tự cường." Nghĩa rằng các vị tướng không phải sinh ra
đã thành, kẻ nam nhi phải tự lực tự cường. Chúng ta học
Phật cũng phải có tâm khí như vậy:
Phật-đà
bổn vô chủng,
Chúng
sinh đương tự cường.
Nghĩa
là:
Ðức
Phật không do chủng tộc nào thành,
Chúng
sinh phải tự lực tự cường.
Nếu
không như vậy suốt ngày cứ ỷ lại vào uy lực của Phật
thì cũng như là những người con của tỷ phú, ỷ lại nơi
di sản của ông cha mình, rồi rốt cuộc tự mình sẽ hại
mình mà thôi. Cho nên quý-vị mau mau tỉnh ngộ.
Giảng
ngày 16 tháng 6 năm 1985
Ðừng
Chờ Ðến Lúc Khát
Mới
Ðào Giếng
Ai
bảo mình lúc chưa bịnh,
toàn
làm việc hồ đồ,
không
biết lo gìn giữ thân.
Bịnh
hậu thủy tri thân thị khổ,
Tử
hậu phương tri thác dụng tâm.
Nghĩa
là:
Bịnh
rồi mới biết thân nầy khổ,
Chết
xong mới rõ lầm dụng tâm.
Ðây
là bịnh thông thường của chúng sinh: Khi chưa bịnh thì thế
gian nầy thật hết sức sung sướng và đầy đủ. Ðến khi
bịnh, không động đậy được, không ăn uống được, mất
hết tự do, chịu đủ thứ thống khổ khó nhẫn, lúc đó
mới biết rằng nguyên nhân cái khổ là do thân nầy mà ra.
Nhưng lúc biết vậy thì đã quá trễ. Nên nói:
Lâm
nhai lạc mã thu cương vãng.
Thuyền
đáo giang tâm bổ lậu trì!
Nghĩa
là:
Ngựa
đến vực thẳm, thâu cương thì quá trể.
Thuyền
tới giữa dòng, vá lỗ chậm lắm thay!
Ai
bảo lúc chưa bịnh, cứ làm việc hồ đồ, không biết lo
giữ gìn thân mình. Bịnh khổ như vậy, hà huống chuyện lớn
sinh tử.
"Tử
hậu phương tri thác dụng tâm," chết rồi mới biết mình
dùng tâm sai lầm. Bình thường mình không chịu kiểm điểm,
đến khi xuống tới Diêm-vương mới biết rằng, lúc sinh tiền
mình làm những chuyện không chính đáng, những chuyện sai
lầm. Lúc sống thấy người niệm Phật, thì mình phỉ báng,
nói rằng họ mê tín; cười cho là họ ngu si. Bây giờ có
hối hận thì đã muộn rồi! Sự đau khổ trong núi kiếm và
vạc dầu như thế nào, tự mình chiêu cảm lấy. Cho nên "Ngựa
khi đã tới bờ vực thẳm mới gò cương thì quá trể. Thuyền
đến giữa dòng rồi mới vá chỗ thủng thì quá chậm." Cho
nên ai kêu mình không chịu chuẩn bị tương lai.
Vì
thế Chu Tử nói rất hay: "Nghi vị vũ nhi trù mâu, vật lâm
khát nhi quật tĩnh." Nghĩa là khi trời chưa mưa thì mình phải
lo sắp đặt trước; thí dụ như sửa mái nhà. Khi chưa mưa
xuống mình phải mau mau chuẩn bị đối phó những chuyện
sẽ xảy ra lúc trời mưa. Như ở miền bắc Trung Hoa vì những
cửa sổ làm bằng giấy, nên trước khi mưa, cửa sổ cần
dán kín. Nếu cửa không dán kỹ trời mưa sẽ ướt đồ vật
bên trong. Ðợi mưa mới đi dán cửa sổ thì đã quá muộn
rồi. Ðừng chờ tới lúc khát rồi mới đào giếng. Như những
người ở nơi xa xăm không có ống nước dẫn nước lại,
họ phải nghĩ cách để giải quyết vấn đề cung cấp nước.
Không phải chờ đến lúc khát rồi mới đi đào giếng; như
vậy thì quá trể.
Mình
học Phật cũng vậy, phải hiểu rằng mọi sự vô thường,
không ai thoát được cái chết. Tại sao mình không lo chuyện
hạ thủ công phu để giải quyết cái chết? Cho nên:
Nhược
yếu nhân bất tử,
Tiên
hạ tử công phu.
Nghĩa
là:
Mình
nếu muốn không chết,
Thì
phải tu hết mình.
"Tử
công phu" (tu hết mình), có nghĩa là giống như ngày hôm nay
mình đả thất, niệm danh hiệu Bồ-tát. Ðả thất, thứ nhất
là cầu thế giới hòa bình; thứ hai là vì chuyện về sau
của chính bản thân mình. Thế cũng giống như chưa mưa mà
mình đã chuẩn bị trước. Mình đả thất thì năm nào cũng
phải tham gia, không thể gián đoạn, như vậy mới có thể
kết được đại nhân duyên với A Di Ðà Phật và Quán Thế
Âm Bồ-tát. Mình cần phải niệm Ðức A Di Ðà Phật tới
độ là coi Ngài như sư phụ của mình, xem Ngài Quán Thế Âm
Bồ-tát như là người bạn của mình. Nếu như được làm
đệ tử của Phật, làm bạn của Bồ-tát, trải qua nhiều
năm tháng, tự nhiên mình cũng sẽ trở thành bạn thân của
các vị đó. Như vậy thì chư Phật Bồ-tát sẽ tiếp dẫn
mình về thế giới Cực-lạc vào phút cuối cùng. Quý-vị
đừng nên hồ nghi, bởi vì:
Tu
Ðạo chi nhân tâm mạc nghi,
Nghi
tâm nhất khởi tiền đồ mê.
Nghĩa
là:
Lòng
người tu Ðạo chớ ngờ nghi,
Nghi
ngờ nổi dậy liền mờ mê.
Nghĩa
là người tu Ðạo chớ có tâm nghi ngờ, khi lòng nghi nổi
dậy thì đi vào sự mê mờ. Chúng ta nên nghe lời của thiện-tri-thức,
không nên có lòng nghi ngờ. Thí dụ như thiện-tri-thức nói
tu hành cần phải có khổ công, thì mình phải tin như vậy.
Nếu mình có lòng tin một cách triệt để nhất định sẽ
được minh tâm kiến tánh, phản bổn hoàn nguyên. Do đó mình
phải thường nghe lời chỉ dạy của bậc thiện-tri-thức.
Nếu vị đó dạy mình "niệm Phật" thì mình nhất định phải
theo lời mà niệm Phật; nếu vị ấy dạy mình "đừng buông
lung" thì mình không được buông lung, đó là yếu quyết của
việc tu Ðạo vậy.
Như
đã nói trên: "Bịnh rồi mới biết thân này khổ." Bởi vì
con người mà không trải qua một cơn bịnh khổ thì không
chịu phát tâm tu hành đâu. Do vậy, kẻ chưa bịnh thì không
hiểu sự thống khổ.
Lại
có câu rằng: "Phú quý tu đạo nan." Nghĩa rằng người giàu
tu đạo rất khó, bởi vì việc gì cũng như ý cả thì làm
sao họ nghĩ đến chuyện tu. Do đó nghèo với bịnh là thứ
trợ duyên cho việc tu Ðạo. Bịnh đến thì mình đừng âu
lo, nghèo khốn cũng chớ ưu sầu. Có bài kệ như sau:
Ngã
kiến tha nhân tử,
Tử
tâm nhiệt như hỏa,
Bất
thị nhiệt tha nhân,
Tiệm
tiệm luân đáo ngã.
Nghĩa
là:
Ta
thấy người ấy chết,
Lòng
ta nóng như lửa,
Chẳng
phải nóng cho người,
Mà
từ từ lửa tới ta.
Nghèo
khốn hay bịnh hoạn hẳn nhiên giúp mình trưởng dưỡng tâm
tu Ðạo. Cũng như khi thấy người khác nghèo khốn, bịnh khổ,
già chết, mình cũng phải phát tâm như thế. Ðời người
giống như: "Trường giang, hậu lãng thôi tiền lãng." Nghĩa
là "Sông Trường giang, sóng sau đẩy sóng trước." Nếu mình
kịp thời phát nguyện vãng sinh, lúc gần chết, mình sẽ có
sự chuẩn bị. Không vậy, lúc ấy mình hoảng sợ không biết
cách đối phó. Giống như đất nước nếu không trải qua
một cơn biến loạn thì nhân dân chỉ thích sống trong cảnh
sung sướng an lạc, không màng đến chuyện bảo vệ đất
nước. Hiện tại Phật-giáo cũng như vậy, người ta không
nghĩ cách để phục hưng Phật-giáo, nên Phật-giáo đi vào
tình trạng ủy mị.
Vì
vậy mình phải đề xướng Phật-giáo; trách nhiệm không phải
chỉ ở các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, mà ở tại mỗi tín đồ
Phật-giáo. Nếu như mỗi người chúng ta đều tự nhận trách
nhiệm, thì lo gì Phật-giáo không phát triển! Hiện tại có
những tín đồ Phật-giáo cho rằng đạo Phật không bằng
những ngoại đạo thời nay, chẳng những họ không dám nhận
mình là Phật-giáo đồ, thậm chí còn a dua với kẻ khác chê
bai Phật-giáo là mê tín. Quý-vị thấy như vậy có phải là
đáng thương lắm không? Giống như ở Cửu Long (Kowloon) nơi
Ðạo Phong Sơn có một đoàn thể ngoại đạo chuyên thu nạp
những Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni trong Phật-giáo, tới đó để trải
qua một phiên cải tạo làm cho họ mất đi gốc gác rồi trở
ra phỉ báng Phật-giáo.
Do
đó chân chính tin Phật thì dù chết cũng không thay đổi,
luôn luôn đề cao chí khí của mình, không vì kẻ khác chê
cười, không vì lợi ích mà thay đổi chí của mình. Nếu
như mọi người không quên mình là tín đồ Phật-giáo thì
Phật-giáo chắc chắn sẽ phục hưng.
Tuy
những thứ ngoại đạo hiện đang hưng thịnh, nhưng chỉ nhất
thời mà thôi. Bởi vì thiên đạo thì tuần hoàn: Vật tới
cùng cực thì sẽ quay ngược lại. Quý-vị đừng để cái
vẻ bên ngoài của chúng làm dao động tâm trí mình. Chân lý
thì bất diệt, sự phục hưng của Phật-giáo thì hoàn toàn
dựa vào nỗ lực của đại chúng.
Giảng
ngày 17 thánhg 6 năm 1958
Niệm
Danh Hiệu Bồ-Tát
có
thể Minh Tâm Kiến Tánh
Tâm
tánh của chúng sinh, luôn luôn quang minh lỗi lạc. Chẳng qua
là vì bị vô số tội chướng, vọng niệm, làm cho lu mờ
đi thôi.
Bản
tính của chúng sinh thì thích sướng, ghét khổ. Do vô minh
che đậy nên chúng sinh không biết cách để đạt tới sự
an lạc sung sướng, thoát ra khỏi sự thống khổ. Do đó, tuy
rằng miệng luôn nói là truy cầu sự an lạc nhưng, bất hạnh
thay, hễ càng tìm kiếm thì càng thêm thống khổ.
Bồ-tát
là người có lòng từ bi quảng đại, đã giác ngộ, biết
được làm thế nào để ly khổ, đắc lạc. Vì vậy đối
với chúng sinh đau khổ, đáng thương xót, Ngài phát tâm nguyện
đại bi rộng lớn, tầm thanh cứu khổ. Nên chúng sinh mình
không phải là hoàn toàn tuyệt vọng. Chỉ cần mình có lòng
thành khẩn, niệm tụng "Nam Mô Quán Thế Âm Bồ-tát," thì
Ngài sẽ dùng pháp lực vô biên để độ thoát, giúp mình
ly khổ, đắc lạc. Sự an lạc này là sự an lạc cứu cánh,
là sự an lạc ở Tây-phương Cực-lạc. Do vậy, nói rằng
niệm danh hiệu Bồ-tát không những được thoát ly khỏi sự
thống khổ của thế giới nầy, mà mình còn được vãng sinh
về thế giới Cực-lạc, khi hoa khai kiến Phật, tới được
chỗ an lạc thanh tịnh cứu cánh nhất.
Niệm
Bồ-tát có thể ly khổ, có thể làm cho mình liễu ngộ tâm
tánh. Phải chăng có một việc quá dễ dàng như vậy? Nhiều
chúng sinh còn ngu tối, đặt ra câu hỏi nầy. Bồ-tát quả
phát tâm muốn làm chuyện tiện nghi cho chúng sinh, nên Ngài
mới nói ra pháp môn phương tiện như vậy. Tuy nhiên, vẫn
còn nhiều chúng sinh, dầu với sự dễ dàng tuyệt đỉnh kia
cũng không nhận thức được. Thật đáng tiếc thay!
Có
người lại nói rằng: "Niệm danh hiệu Bồ-tát thì có thể
tiêu trừ được tội khổ, đó là điều tôi tin tưởng. Nhưng
làm sao niệm Bồ-tát lại có thể làm cho tôi minh tâm, kiến
tánh được?" Vài ngày trước, tôi có nói ví dụ về chuyện
đánh điện thoại. Bây giờ, lại kể cho quý-vị nghe một
ví dụ khác còn đơn giản hơn.
Ví
như có một người bị bịt mắt, chỉ thấy bốn bể tối
đen. Người đó đi tới đâu, nếu không đụng phải vào tường
thì cũng va vô vách, làm cho sứt đầu bể trán, khổ không
thể nói được. Nhưng, tự y lại không biết thế nào để
tháo tấm khăn bịt mặt kia ra. May thay, y gặp được một
người có lòng từ bi, trông thấy y tội nghiệp như vậy,
liền giúp y mở khăn bịt mắt ra. Nhờ đó, từ chỗ không
thấy đường, nay hắn ta có thể thấy mọi sự, không còn
khổ sở, cũng không phải đi đụng vào tường, vào vách như
xưa.
Ðạo
lý niệm Bồ-tát để được minh tâm kiến tánh cũng tương
tự như vậy. Chúng sinh, y hệt như người bị bịt mắt kia,
xưa nay mắt đâu bị mù, chẳng qua chỉ bị che kín mà thôi.
Tâm tánh của chúng sinh cũng như vậy, xưa nay vẫn không mất
mát, luôn luôn quang minh lỗi lạc. Chẳng qua là vì bị vô
số tội chướng, vọng niệm, làm cho lu mờ đi thôi. Bồ-tát
cũng giống như người có lòng từ bi kia. Ngài giúp mình giải
trừ nghiệp chướng đã che đậy bản tánh quang minh trong tâm
mình; để mình có thể phản bổn, hoàn nguyên; khôi phục
lại bản lai diện mục.
Cho
nên, mình không thể không niệm danh hiệu Bồ-tát được.
Bởi vì, giống như người bị bịt mắt kia, nếu không cầu
kẻ khác, không chịu tiếp nhận sự giúp đỡ của kẻ khác,
thì đừng nói là vẫn cứ phải đi đụng vào tường, mà
còn có khi đi lạc lối, rơi xuống hố thẳm, nguy hại đến
tánh mạng nữa.
Ở
đời nầy, số người có tội ác thì nhiều vô kể. Nếu
như không cẩn thận, lỡ một mai lạc bước, rơi xuống vực
sâu tội lỗi, mất đi thân người, thì muôn vạn kiếp khó
mà tìm lại được, mang hận ngàn đời. Các vị cư sĩ! Hãy
mau mau tiếp thọ sự khuyên dụ của đức Bồ-tát mà thường
xuyên niệm tụng danh hiệu Ngài để được cứu độ ra khỏi
chốn biển khổ sanh tử này.
Giảng
ngày 17 thàng 6 năm 1958

|