cHòa
Thượng Tuyên Hóa
Khai
Thị Quyển 1
Ban Phiên
Dịch Việt Ngữ Trường Ðại Học Pháp Giới
Vạn Phật
Thánh Thành Talmage, California
Phật
Pháp là Thực Hành,
Không
Phải Chỉ Nói Suông
Ðạo
đức là căn bản làm người.
Một
khi có đạo đức rồi, chúng ta mới có thể đứng vững được.
Ngày
đêm như tên bắn, năm tháng như thoi đưa. Sóng trên sông,
ngọn sau đẩy ngọn trước; cảnh đẹp mau tàn. Ðời người
tuổi trẻ qua nhanh, chẳng mấy chốc sẽ già chết hủ diệt,
không lưu lại dấu vết, đủ thấy mọi thứ thật vô thường.
Do
mọi thứ vô thường nên mình phải mau tìm nơi quy túc. Quý-vị
rất là may mắn, sau khi tìm tòi, truy đuổi, cuối cùng đã
có lòng tin Phật. Tin Phật thì mình mới đến được chỗ
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh; tức cái vui rốt ráo nhất. Do đó
mình phải tin Phật. Nhưng tin suông chưa đủ, mình phải y
theo Pháp mà tu hành. Nếu tin mà không tu thì cũng như bàn chuyện
ăn cơm, hay đếm giùm tiền người, mà mình thì chẳng thấy
no, hoặc chẳng giàu thêm. Cho nên người xưa có nói:
Ðạo
thị yếu hành,
Bất
hành tắc yếu đạo hà dụng?
Ðức
thị yếu tu,
Bất
tu tắc đức tòng hà lai?
Nghĩa
là:
Ðạo
phải hành,
Không
hành sao gọi là đạo.
Ðức
do tu,
Không
tu đức sao thành.
Thế
nên mình phải "cung hành thực tiễn," thật sự tu hành. Thường
đem hai chữ sinh tử treo giữa đôi mày và hai chữ "đạo đức"
đạp dưới chân. Nói ra nghe có vẻ khó hiểu. Tại sao lại
đem "đạo đức" đạp dưới chân? Vì đạo đức là gốc
làm người, ví như là gốc của cây. Có đạo đức thì mình
mới đứng vững, còn ngược lại, không có đạo đức thì
mình như cây chẳng có gốc, không sao đứng vững đặng. Mình
cần đem đạo đức ra thực hành thì nhân cách mới vững
vàng, mọi sự mình làm tự nhiên sẽ thành công. Cho nên: "Ðạo
đức nhị tự, thị tố nhân căn bổn." Tức là đạo đức
là căn bản làm người. Sách Luận Ngữ nói: "Quân tử vu bổn,
bổn lập nhi đạo sanh." Tức là bậc quân tử chú trọng đến
cái gốc, khi gốc vững thì Ðạo phát sinh. Chăm lo cái gốc
thì mới sinh được đạo. Ðó là lời minh huấn của cổ
nhân.
Như
đã nói lúc nãy, thời gian trôi nhanh như tên bắn mà ta nào
hay. Chuyện quá khứ đã qua thì đành vậy, song chuyện tương
lai, cần phải lập ra tông chỉ, không thể để trôi qua một
cách mê mờ được.
Tông
chỉ của Chùa Tây Lạc Viên là đề xướng Pháp-môn Tịnh-độ;
chủ trương tinh tấn niệm Phật. Thường lệ mỗi năm vào
ngày 19 tháng 6 và ngày 17 tháng 11 âm lịch thì Chùa cử hành
Pháp-hội Quán-âm và Thất Di Ðà. Song quý vị không thể chỉ
tham gia cho có lệ thôi. Năm nay phải tinh tấn hơn năm trước,
lúc nào cũng phải chuyên tâm, trong bảy ngày này, mỗi giờ,
mỗi phút đều phải siêng năng niệm danh hiệu Bồ-tát mà
không biết mỏi mệt.
Khi
niệm Bồ-tát, mình chớ mong Bồ-tát niệm mình. Tại sao vậy?
Vì trong thời gian đả thất, nếu mang danh là tham gia đả
thất mà mình không siêng năng niệm hồng danh, lòng lại đầy
tạp niệm thì chỉ làm cho đức Bồ-tát đại từ đại bi
sẽ thấy tội nghiệp: Rằng mình đã không thành tâm đả
thất, rằng mình thật đáng thương xót. Cho nên đại chúng
phải khẩn thiết thành tâm mà niệm và phát lòng từ bi hỷ
xả. Ðược như vậy tôi khẳng định rằng Bồ-tát chắc
chắn sẽ gia hộ cho quý-vị.
Xưa
nay, Tây Lạc Viên chưa từng phát thiệp mời đả thất, mà
là đại chúng tự nguyện phát tâm đến dự. Tinh thần tự
động phát tâm như vậy rất tốt, đáng được tuyên dương.
Song mình đừng để sự chân thành nầy bị lãng phí, mà phải
phát nguyện niệm cho tới khi "thủy lạc, thạch xuất"
nghĩa là nước cạn, đá lộ ra. Niệm đến lúc Bồ-tát hiện
thân thuyết Pháp. Vậy mới không uổng công tham gia đả thất.
Hôm
nay là ngày đầu tiên của Pháp-hội. Tôi chúc quý vị năm
nay sẽ gặt hái được nhiều thành quả. Ngược lại, tôi
sẽ thanh toán món nợ nầy với quý-vị. Nếu món nợ này
tính không xong, thì đừng hối hận! Thôi được rồi, tôi
không nói đùa với quý-vị nữa, hãy niệm nhiều danh hiệu
Bồ-tát là hơn!
Giảng
ngày 13 tháng 6 năm 1958,
nhân
dịp lể Quán Âm Thất
Tây
Lạc Viên, Hồng Kông
Chú
Ðại Bi Tiêu Trừ Tai Nạn
Sự
lợi ích chân chính thường khó diễn bày.
Giống
như người uống nước,
lạnh
hay nóng chỉ tự mình biết.
Ngay
trong lúc thời tiết nóng bức tột độ mà quý-vị không sợ
nóng cũng chẳng sợ đường xa núi cao, tới đây tham gia đả
thất thì như vậy có điều gì lợi chăng? Sự lợi ích chân
chính thường khó diễn bày. Giống như người uống nước,
lạnh hay nóng chỉ tự mình biết. Duy người có tâm chân thật
mới lãnh hội được sự diệu kỳ.
Làm
thế nào để thu hoạch được điều lợi ích này? Không gì
khác hơn là thành tâm niệm danh hiệu Bồ-tát. Chân tâm tức
là chuyên tâm vậy. Cho nên nói: "Chuyên nhất tất linh, phân
chi tất tệ." Tức là chuyên nhất thì linh ứng, phân chia
thì bế tắc. Khi tâm chuyên nhất, tự nhiên sẽ được cảm
ứng đạo giao. Sự cảm ứng đạo giao vốn không thể nghĩ
bàn. Tuy nhiên, tự mình phải dụng công mới được, người
khác không thể làm thay mình đặng, lại càng không thể cầu
may mà được.
Giống
như "nói về chuyện ăn cơm hay đếm tiền giùm kẻ khác."
Có kẻ thường hay đề cập đến những thứ dinh dưỡng thế
này thế nọ, nhưng tự họ chẳng hề ăn, thì đồ ăn dù
có bổ dưỡng cách mấy đi nữa họ cũng không thể tận hưởng
được. Cho nên nói:
Chung
nhật sổ tha bảo, tự vô bán tiền phần.
Y pháp
bất tu hành, kỳ quá diệc như thị.
Nghĩa
là:
Suốt
ngày đếm tiền người, tự mình không một xu.
Học
pháp không tu hành, lỗi lầm cũng như vậy.
Mình
niệm Phật cũng thế. Không phải hiểu biết hay bàn luận
về công đức niệm Bồ-tát là đủ; phải thật sự niệm
đến chỗ nhất tâm bất loạn; thậm chí đến độ nước
chảy, gió thổi mà tai mình cũng chỉ nghe tiếng danh hiệu
Bồ-tát mà thôi. Cho nên nói:
Hữu
tình, vô tình,
Ðồng
diễn Ma-ha diệu pháp.
Nghĩa
là:
Loài
hữu tình hay vô tình,
Ðều
nói diệu pháp đại thừa.
Nếu
mình không thể niệm tới chỗ nhất tâm bất loạn thì gió
có thổi vi-vu, nước có chảy róc-rách, mình cũng chẳng tài
nào cảm nhận được sự kỳ diệu của nó. Cho nên mình phải
thành tâm niệm và đừng để vọng tưởng lôi kéo thì mới
gặt được lợi ích của Pháp.
Khi
đả thất, quý-vị phải tôn trọng qui củ của thất. Bởi
vì "Vô qui củ bất năng thành phương viên." Tức là
không có qui củ thì không thành phương viên. Qui củ của Tây
Lạc Viên là không nói năng ồn ào để tránh làm chướng
ngại kẻ khác tu hành.
Trong
thời gian bảy ngày này, chúng ta còn niệm thêm Chú Ðại-bi.
Công đức của Chú Ðại-bi rất khó nghĩ bàn. Nếu người
không có thiện căn, thì họ khó nghe đặng ba chữ "Chú Ðại-bi."
Bây gìờ đại chúng không những đã được nghe mà lại còn
thọ trì đọc tụng, đủ biết quý-vị có đầy đủ thiện
căn rồi. Nếu đã có thiện căn, quý-vị không nên coi thường
và đừng để kiếp sống này trôi qua một cách lãng phí.
Tôi
còn nhớ khi Chùa Tây Lạc Viên đả thất lần đầu tiên,
trong mười vị cư sĩ thì tám, chín vị chẳng thể niệm được
Chú Ðại-bi. Nhưng nay, mười người thì có đến tám người
có thể niệm được. Ðây chứng tỏ rằng sự tiến bộ của
các vị cư sĩ. Tôi kể cho quý-vị nghe một câu chuyện để
chứng minh về công đức của Chú Ðại-bi.
Ở
Mãn-châu có một vị tài chủ, tậu rất nhiều điền sản.
Vào một mùa thu, vị tài chủ này tự mình đi theo bốn, năm
xe hàng chở đầy cao lương xuống phố để bán. Bởi vì từ
nông thôn đến thành thị cách hơn 150 dặm, nên một giờ
sáng y đã khởi hành. Chẳng may đi được nửa đường thì
gặp cướp. Thấy thế y lập tức niệm Chú Ðại-bi. Lạ thay!
Bọn thổ phỉ bổng như đui mù không nhìn thấy xe của y,
nên y an toàn qua khỏi nguy hiểm. Ðó là một trong những sự
linh cảm của Chú Ðại-bi mà chính tôi chứng kiến.
Kinh
Ðại Bi Tâm Ðà-la-ni dạy rằng: "Kẻ tụng trì chú Ðại-bi
có thể tiêu trừ tai nạn: Lửa không thiêu được, nước
chẳng dìm đặng." Bởi thế, tôi khuyên các vị mỗi ngày
trì tụng tối thiểu ba lần. Nếu vị nào chưa biết niệm
thì mau mà học. Công đức trì tụng Chú Ðại-bi không những
có thể đẩy lui trộm cướp, mà còn tiêu trừ trăm bịnh,
thoát khỏi sự quấy rối của chư ma. Cho nên các vị nên
thành tâm tụng trì.
Hôm
nay là ngày bắt đầu đả thất, bầu không khí của pháp
hội rất phấn khởi và nghiêm trang. Tôi hy vọng các vị nổ
lực, ra công tinh tấn.
Giảng
trưa ngày 13 tháng 6 năm 1958
tại
Tây Lạc Viên, Hồng Kông
Cực
Lạc Thế Giới
Ở
Ngay Trước Mắt
Chỉ
cần nổ lực tinh tấn,
thì
mình có thể "Trở Về."
Quy
khứ lai hề.
Ðiền
viên tương vu hồ bất quy.
Ký
tự dĩ tâm vi hình dịch.
Hề
trù trướng nhi độc bi.
Ngộ
dĩ vãng chi bất gián.
Tri
lai giả chi khả truy.
Thật
mê đồ kỳ vị viễn.
Giác
kim thị nhi tạc phi.
Nghĩa
là:
Về
đi chứ!
Ruộng
vườn hoang phế, sao chẳng về!
Tâm
bị hình đọa, tỏ đã lâu.
Sao
còn sầu muộn, than với lòng?
Lỗi
xưa chưa sửa, nay đã thấu.
Mới
biết tương lai còn đuổi kịp.
Ấy
thật đường mê, chửa dấn sâu.
Rõ
rằng: Nay đúng, xưa sai xấu.
Bài
thơ trên do ông Ngũ Liễu (Ðào Uyên Minh) sáng tác. Nhưng chẳng
biết nhà thơ có thật sự liễu ngộ được ý nghĩa thâm
sâu của lời thơ chăng? Bởi lẽ nếu lấy Phật-pháp mà soi
xét thì bài thơ trên vô cùng khế lý.
Sao
gọi là "Quy khứ lai hề?" Chúng ta đã biết tự-tánh
Pháp-thân là chốn thường tịch quang của mười phương chư
Phật. Kinh viết: "Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh."
Bổn tánh của ta và của Phật vốn không có gì khác biệt.
Nếu không như vậy, sao nói là "đều có Phật tánh."
Nay chúng ta không ngộ được Phật tánh bởi do trần lao ngũ
dục của thế giới Ta-ba nầy làm ta ô nhiễm. Bởi bội giác
hợp trần, nên ta chẳng hiểu ngộ tự tâm, chẳng thấy suốt
được bổn tánh.
Tuy
nhiên, ta không thể điên đảo trầm luân mãi được. Ta phải
phản bổn hoàn nguyên, bội trần hợp giác. Ðó chính là "Quy
khứ." Nghĩa là mình phải khôi phục lại bổn lai diện
mục vậy. Khi nương tựa vào nguyện lực của Phật Bồ-tát,
nhờ công đức tụng niệm hồng danh của Ngài mà ta sinh Tịnh-độ.
Ðó cũng gọi là "Quy khứ."
Khi
đã ngộ tự tâm, sinh Tịnh-độ rồi, ta cần phát đại nguyện:
"Ðảo
giá từ hàng," nghĩa là lái chiếc thuyền từ bi trở lại
độ chúng sinh tới bờ an lạc. Ðó gọi là
"lai," tức
là Trở Về.
Thế
nào là "Ðiền viên tương vũ hồ bất quy?" Ðiền tức
là ruộng, là ruộng tâm. Khi ta chẳng tu tâm, để mặc cho
tạp niệm phát sanh thì cũng giống như ruộng vườn đầy
cỏ dại vậy. Ruộng tâm trở thành hoang dã. "Mao tắc bất
khai," cỏ dại dẫy đầy, không nhổ sạch được, thì
ta không cách gì phản bổn hoàn nguyên, minh tâm kiến tánh
được.
"Hồ
bất quy" là lời của chư Phật mười phương và các vị
Thánh-nhân. Các Ngài ân cần dạy dỗ chúng ta rằng: "Chúng
sinh ngu độn đáng thương thay! Các con vì sao không mau quay
đầu trở về bến?"
"Tâm
vi hình dịch" nghĩa là tâm bị thân thể điều khiển và
ý nói rằng chúng sinh vì chấp trước lục trần nên chẳng
ngộ được tự tâm, luôn luôn bị cảnh trần chi phối nên
vì cuộc sống mà lăng xăng, vì danh lợi bất kể sinh mạng,
lưu chuyển trong biển khổ sinh tử, thọ vô số khổ đau.
Thật là ngàn thu bi thương, khổ không thể nói hết. Ðó chính
là ý nghĩa của câu "Trù trướng như độc bi."
Thế
thì, phải chăng chúng sinh mình không có thuốc cứu? Phải
chăng vĩnh viễn đọa nơi hố thẳm lục đạo luân hồi? Tuyệt
đối không phải. Tuy trước kia mình phạm lầm lỗi, song nhìn
về tương lai vẫn còn hy vọng. Nên biết "Tri lai giả chi
khả truy," biết tương lai còn đuổi kịp, còn cứu vãn
được.
Trong
tương lai, chúng ta càng không nên giống như dĩ vãng, bỏ giác
ngộ, theo bụi trần, tâm làm nô lệ cho thân. Xưa kia mình
không tin nhân quả, không siêng tu hành, tạo nghiệp, sát sinh
v.v... đều là những việc sai lầm. Như hôm nay đả thất
niệm Phật là việc đúng. Nên chúng ta
"Giác kim thị nhi
tạc phi," nghĩa là "Hiểu được hôm nay đúng, hôm qua sai."
Ðối với việc tốt thì phải duy trì, đối với việc xấu
thì phải lập tức hết lòng hối cải. Cổ nhân nói: "Nhất
thốn quang âm nhất thốn kim." Tức là một tấc thời gian
là một tấc vàng. Thực sự đối với người tu hành, một
đoạn thời gian là một đoạn của mạng sống. Một đoạn
thời gian trôi qua tức là mạng mình ngắn đi một chút vậy.
Ngày
hôm nay qua đi, mạng cũng tùy giảm;
Ðại
chúng! Phải siêng năng, tinh tấn như cứu đầu mình.
Phải
mau mau sửa điều xấu ác, làm điều tốt lành. Vì mình "Thật
mê đồ kỳ vị viễn," tức là chưa đi sâu vào con đường
u mê lắm. Thế giới Cực-lạc ở trước mắt, chỉ cần nổ
lực tinh tấn, thì mình có thể "Quy khứ."
Giảng
ngày 14 tháng 6, năm 1958
Sám
Hối tức là Cải Quá Tự Tân
Nếu
mình chân chính có tâm sám hối,
thì
sợ gì không có hy vọng.
Pháp
lực của Phật rất là vĩ đại, song nghiệp lực của chúng
sinh cũng rất lớn, nên có câu rằng: "Người phàm thì nghiệp
nặng tình mê, Phật thì nghiệp tận tình không." Do đó, thánh
và phàm khác nhau ở chỗ là "nghiệp" đã dứt chưa, và còn
có "tình" hay không.
Giác
giả, Phật dã,
Mê
giả, chúng sanh.
Nghĩa
là:
Khi
giác ngộ là Phật,
khi
mê là chúng sinh.
Chúng
sinh thì bội giác hợp trần (quay lưng rời bỏ sự giác ngộ
sáng suốt để hòa mình trộn lẫn với bụi bặm vô minh),
luôn bị trần lao ngũ dục (tham tài, tham sắc, tham danh, tham
ăn, tham ngủ) làm cho xoay chuyển, khiến nghiệp chướng càng
ngày càng tăng thêm. Phật thì siêu thoát mọi ngũ dục trần
lao, không còn tạo nghiệp nữa. Chúng sinh do nghiệp nặng nên
muốn liễu Ðạo thành Phật, trước tiên cần phải sám hối
những tội nghiệp đã làm. Nếu như không có tâm sám hối
mà muốn thành Phật thì cũng như nấu cát mà mong thành cơm
vậy. Tuy rằng cát nấu hằng hà sa số kiếp nhưng cuối cùng
cũng không thể nào thành cơm đặng. "Sám" nghĩa là sám trừ
lỗi lầm xưa, hổ thẹn với những lỗi lầm đã phạm. "Hối"
là hối cải, sửa đổi; nhất định quyết tâm sửa đổi
con người mình, vĩnh viễn không còn tái phạm nữa. Như ông
Viên Liễu Phàm đã nói:
Dĩ
tiền chủng chủng, ví như tạc nhật tử.
Dĩ
hậu chủng chủng, ví như kim nhật sinh.
Nghĩa
là:
Những
điều xấu mình làm từ trước,
hôm
qua kể như là ngày cuối cùng.
Những
điều mình làm về sau,
hôm
nay là bắt đầu một cuộc đời mới.
Nếu
như mình không siêng năng sám hối thì tội nghiệp mình tạo
ra sẽ khiến mình mãi đọa lạc. Chắc quý-vị còn nhớ khi
quy y, trước tiên quý-vị xưng tên mình rồi sau đó sám hối
như sau:
Tùng
ư vô thủy, dĩ chí kim sinh,
Hủy
báng Tam-bảo, tác nhất xiển đề,
Báng
Ðại-thừa Kinh, đoạn học Bát-nhã,
Thí
hại phụ mẫu, xuất Phật thân huyết,
Ô
tăng già lam, phá tha phạm hạnh,
Phần
hủy tháp tự, đạo dụng Tăng vật,
Khởi
chư tà kiến, bác vô nhân quả,
Hiệp
cận ác hữu, vĩ bối lương sư...
Nghĩa
là:
Con
từ vô thỉ, cho tới ngày nay,
Nguyền
rủa Tam-bảo, làm Nhất-xiển-đề,
Chưởi
Kinh Ðại-thừa, dứt học Bát-nhã,
Giết
hại mẹ cha, làm Phật đổ máu,
Bẩn
chốn chùa chiền, phá phạm hạnh người
Ðốt
hủy chùa tháp, ăn cắp đồ Tăng,
Dấy
đủ ý sai, nói không nhân quả
Gần
bạn bè xấu, nghịch lại thầy lành...
Bây
giờ, tôi sẽ giảng lại đại ý của đoạn văn sám hối
trên.
Chúng
ta từ vô thủy đến nay đã tạo ra không biết là bao nhiêu
tội nghiệp, không kể xiết. Thứ nhất là mình hủy báng
Tam-bảo: Phật, Pháp, Tăng. Trong các tội, hủy báng "Tăng-bảo"
là tội lớn nhất, nặng nhất, bởi vì chư Tăng đại biểu
cho Phật để tuyên dương Phật-pháp. Bởi vậy hủy báng Tăng
tức tội không thể sám hối được. Thế nào gọi là "Xiển
đề"? "Xiển đề" tiếng Phạn dịch nghĩa là "tín bất cụ,"
không đủ lòng tin, hoặc là "vô thiện căn," không có căn
cơ lành. Thí dụ như khi quý-vị thuyết Pháp cho người đó,
không những họ không thích nghe mà thậm chí còn nói ngược
lại rằng: "Tôi không tin đâu!" Ðây không phải là tự đem
thiện căn của mình mà đoạn tuyệt đi sao?
"Báng
Ðại-thừa Kinh" tức là phỉ báng kinh điển Ðại-thừa. Như
có người nói đạo lý trong kinh là giả hoặc nói rằng kinh
điển Ðại-thừa là do ma vương nói ra, v.v... Ðây cũng là
phạm tội không thể sám hối được. "Bát-nhã" là tiếng
Phạn, nghĩa là trí huệ. Bát-nhã có ba loại: Thật-tướng
Bát-nhã, Quán-chiếu Bát-nhã và Văn-tự Bát nhã. Nếu như
"đoạn học" (không chịu học) bất cứ loại Bát-nhã nào,
thì mình sẽ trở nên ngu si. Quả báo của ngu si là sẽ đọa
làm thú vật.
"Thí
hại phụ mẫu" nghĩa rằng giết hại cha mẹ của mình. Câu
nầy bao hàm luôn việc sát hại các vị A-la-hát và thánh nhân.
Thí dụ như Ðề-Ba-Ðạt-Ða giết một vị đắc Tứ-quả
A-la-hán.
Kế
đến là "Xuất Phật thân huyết" nghĩa là dấy máu Phật.
Ðây cũng là một tội không thể sám hối sạch được. Nhiều
người hiểu lầm cho rằng tội nầy chỉ áp dụng khi đức
Phật còn tại thế. Khi dùng dao cắt chém thân thể Phật thì
mới mang tội nầy. Song thật sự sau khi Phật diệt độ rồi,
hễ ta hủy hoại tượng Phật, hình ảnh Phật, tất cả đều
phạm tội nầy. Phá lớp vàng trên tượng Phật hoặc đập
bể tượng Phật, tuy rằng không làm tổn hại đến xác thịt
của Phật nhưng cũng là cắt chém thân Phật vậy.
"Ô
tăng già lam" nghĩa là làm ô uế chốn thanh tịnh của chùa
chiền. Giống như một số cư sĩ có gia đình trú ngụ trong
chùa, song lại làm những việc không chính đáng như ăn thịt,
sát sinh, v.v... "Phá tha phạm hạnh" nghĩa là phá hạnh thanh
tịnh của kẻ khác. Thí dụ như người xuất gia xưa nay vốn
thanh tịnh không bị nhiễm ô, nhưng có người lại phá quấy
họ, khiến họ phạm giới luật, đó cũng là tội không thể
sám hối được.
"Phần
hủy tháp tự" nghĩa là đốt hoặc thiêu hủy, phá hoại tháp
đền và chùa chiền. Thí dụ như trong lịch sử có Phùng Ngọc
Tường hỏa thiêu Chùa Bạch Mã và Chùa Thiếu Lâm. "Ðạo
dụng Tăng vật" là ăn cắp vật dụng của chư tăng. Ðây
là nói đến những kẻ dùng thủ đoạn không chính đáng để
đoạt của thường trụ lấy làm của riêng họ. Những hạng
người như vậy đều có tà tri, tà kiến, ý tưởng sai lầm,
luôn cho mình là đúng. Họ thường cho rằng không có nhân
quả và luôn luôn làm những điều nghịch lại với đạo
lý. Không có chuyện ác, chuyện xấu nào mà họ không dám
làm. Hạng người như vậy thì làm sao mà không đọa địa
ngục được?
Cuối
cùng là "Hiệp cận ác hữu, vĩ bối lương sư" nghĩa là thân
cận với những kẻ ác, bạn xấu và đối nghịch lại với
những vị thầy tốt. Bạn xấu là những người mà các nhà
nho gọi là "tổn hữu" (hại bạn). Những thứ cướp giựt,
những bọn bất lương sống ngoài vòng pháp luật là thứ
mình không nên kết bạn. Kết giao với họ chỉ làm tổn hại
cho mình, từ từ làm cho mình đi vào con đường sai lầm, không
còn nghe theo lời khuyên bảo của cha mẹ, thầy tốt; lấy
điều sai lầm cho là đúng và không còn phân biệt được
chuyện phải trái trắng đen gì cả, cứ làm việc ngược
ngạo, thật đáng thương xót thay!
Những
tội lỗi kể trên là những điều mà mình không nên phạm,
tuy rất dễ bị phạm. Nếu chẳng may mình đã phạm những
lỗi đó thì phải làm sao? Quý-vị đừng lo sợ. Có câu rằng:
"Di thiên đại tội, nhất sám tiện tiêu." Nghĩa là tội phạm
tầy trời, sám hối sạch tiêu. Tội vốn không hình tướng.
Nếu mình chân chính có tâm sám hối thì sợ gì không có hy
vọng. Quý-vị đừng nên coi thường mình, đừng cam tâm để
bị đọa lạc.
Giảng
ngày 14 tháng 6, năm 1958
Xúi
Người Khác Làm Ác,
Tội
Mình Tăng Gấp Ba
Bất
luận trước mặt người nào cầu xin sám hối, chúng ta đều
phải bày tỏ lỗi lầm cho rõ ràng, không được nói lời
có ý mơ hồ, bóng gió.
Hôm
qua tôi giảng một cách đơn sơ cho quý-vị nghe về ý nghĩa
của sự sám hối, chỉ giảng tới đoạn "Thân cận ác hữu,
hủy bối lương sư." Bây giờ tôi sẽ giảng tiếp đoạn sau:
"Tự
tác giáo tha" nghĩa là tự mình làm, xúi người khác làm hoặc
thấy hay nghe người khác làm, mà thuận lòng theo. Chúng ta
phải biết rằng sát sanh, ăn cắp, tà dâm, nói dối hay rượu
chè đều là những hành vi không chính đáng, đó là những
thứ tạo tội nghiệp. Những tội nầy được phân làm bốn
loại: Nhân, duyên, pháp, nghiệp (nguyên nhân, điều kiện tiếp
trợ, phương thức và việc làm). Sự sát sinh gồm có sát
nhân, sát duyên, sát pháp, sát nghiệp; bất luận giới nào
trong đó cũng có "tự tác" hay "giáo tha tác," nghĩa là tự
mình làm hoặc xúi kẻ khác làm.
"Tự
mình làm" nghĩa là không dùng tay kẻ khác, mà chính mình đi
làm chuyện bất chính. "Xúi kẻ khác làm" tức là cổ vỏ
hoặc bảo người đó làm chuyện không đúng. Ðó là phạm
tội một cách gián tiếp. So sánh với tội trực tiếp thì
tội gián tiếp nầy nặng hơn một phần, bởi vì tự mình
đã có tội rồi mà mình còn mang thêm tội nữa là xảo trá.
Cho nên tự làm đương nhiên có tội rồi, mà xúi kẻ khác
làm thì tội càng nặng hơn.
Thế
nào là "kiến văn tùy hỷ"? (thấy, nghe rồi tùy hỷ), nghĩa
là mình biết kẻ khác phạm tội mà còn giúp kẻ đó nữa,
cũng giống như người xưa nói: "Trợ trụ vi xuyết" nghĩa
là giúp vua Trụ làm việc bạo ngược. Hãy thử nhắm mắt
lại tưởng tượng rằng từ vô thỉ đến nay, mình đã phạm
lỗi lầm nầy bao nhiêu lần rồi? Cũng không cần hồi tưởng
lâu xa như vậy. Chỉ xét trong cuộc đời ngắn ngủi này,
tội mình phạm đã không thể kể xiết rồi.
Cho
nên trong bài Sám-hối tiếp theo là câu: "Như thị đẳng tội,
vô lượng vô biên." Nghĩa là những tội như vậy không bờ
bến, không hạn lượng được. Không những tội mình không
thể kể hết được mà nó còn nhiều không biên tế. Nếu
như đã biết tội sâu dầy như vậy thì mình phải làm sao
bây giờ? Không nói cũng biết rằng mình cần đối trước
Phật mà khẩn thiết sám hối.
Do
vậy cho nên bài Sám-hối lại tiếp: "Cố ư kim nhật, sinh
đại tàm quý. Khắc thành bì lộ, cầu ai sám hối." "Khắc
thành" hai chữ này có nghĩa là thành tâm. Khi sám hối điều
cần nhất là phải thành tâm. Có những người tuy sám hối
với sư phụ nhưng họ hết sức dối trá. Nhưng thường thì
giấu đầu lòi đuôi. Ðem tội lỗi của họ mà ngụy trang
che giấu đi. Ðó cũng là biểu thị họ không có thành ý sám
hối tội lỗi của mình. Với cách sám hối lếu láo như vậy
thì dù họ có trải qua trăm ngàn vạn ức, hằng hà sa số
kiếp cũng không thể nào làm cho tội nghiệp họ tiêu trừ
tường tận được.
Cho
nên nói "Trực tâm là đạo tràng" tức là tâm ngay thẳng là
đạo tràng. Khi sám hối với ai, mình phải bày tỏ lỗi lầm
cho rõ ràng, không được nói lời có ý mơ hồ, nghĩa hai đằng.
Ví dụ như khi hỏi rằng có phạm tội chi không? Thì trả
lời rằng "tôi không nhớ" hoặc là "có lẽ có" v.v... Sám
hối không triệt để như vậy không những không tiêu trừ
được tội nghiệp mà còn trồng thêm nhân xấu nữa. Trong
Phật-pháp, dù cho việc nhỏ như sợi tóc cũng không được
lếu láo, coi thường. Nhưng có người lại nói lên ví dụ
như sau: "Có ông nọ luôn luôn tạo ra những tội nghiệp, toàn
làm những chuyện ác nhưng không hiểu sao hiện giờ ông nầy
vẫn làm ăn giàu có, như vậy là không có nhân quả, không
có công lý phải không?" Có một bài kệ như sau:
Túng
sử bách thiên kiếp, sở tác nghiệp bất vong;
Nhân
duyên hội ngộ thời, quả báo hoàn tự thọ.
Nghĩa
là:
Trải
qua trăm ngàn kiếp, nghiệp tạo chẳng mất tiêu;
Nhân
duyên đầy đủ thời, quả báo mình lại thọ.
Bởi
thế cho nên phải biết nghiệp mình tạo ra thì thế nào cũng
có báo ứng; chỉ là vấn đề thời gian, mau hay chậm, nhân
duyên đã hội hợp đầy đủ chưa mà thôi.
Lại
có người nói nếu như "Trải qua trăm ngàn kiếp, nghiệp tạo
chẳng mất tiêu, vậy mình không có cách gì để làm tiêu
trừ được tội chướng của mình sao?" Cũng không phải là
không có biện pháp. Biện pháp để trừ tội nghiệp là "Duy
nguyện Tam-bảo, từ bi nhiếp thọ, phóng tịnh quang minh, chiếu
xúc ngã thân." Nghĩa là nguyện xin Tam-bảo, từ bi dẫn dắt,
phóng ánh sáng lành, chiếu rọi thân con. Hy vọng Phật, Pháp,
Tăng, Tam-bảo có thể theo chí nguyện từ bi của các Ngài
mà dùng ánh quang minh thanh tịnh vô ngại chiếu sáng nơi thân
của mình. Khi ánh quang minh chiếu đến thân mình, tam chướng
(phiền não chướng, báo chướng, và nghiệp chướng) được
tiêu trừ, giống như mây trôi trăng hiện, bản lai thanh tịnh
của tâm mình lại bừng hiện vậy. Cho nên nói "Chư ác tiêu
diệt, tam chướng nguyện trừ. Phục bổn tâm nguyên, cứu
cánh thanh tịnh." Nghĩa là chư ác tiêu diệt rồi thì tam chướng
đều quét sách. Khôi phục lại nguồn tâm cứu cánh luôn thanh
tịnh.
Sau
khi giảng xong bài văn Sám-hối nầy, tôi hy vọng rằng quý-vị
hiểu sự tai hại của chuyện không sám hối và lợi ích của
việc sám hối. Ngoài ra còn có một bài sám hối như sau:
Vãng
tích sở tạo chư ác nghiệp,
Giai
do vô thủy tham sân si,
Tùng
thân ngữ ý chi sở sinh,
Nhất
thiết ngã kim giai sám hối.
Dịch
là:
Mọi
thứ ác nghiệp tạo từ xưa,
Ðều
do vô thỉ tham, sân, si,
Ở
nơi thân, miệng, ý mà sinh,
Con
nay sám hối hết tất thảy.
Bài
sám hối nầy không những có thể làm mình sám hối được
tội chướng mà còn chỉ cho thấy nguyên nhân của việc tạo
tội. Do đó tôi hy vọng rằng quý-vị mỗi ngày ở trước
bàn Phật niệm bài văn nầy tối thiểu ba lần. Bây giờ tôi
sẽ giải thích sơ qua ý nghĩa của bài này cho quý-vị nghe.
"Vãng
tích" nghĩa là hồi xưa; gần là nói trong đời nầy mà xa
nữa là nói vô lượng kiếp về trước. Trong thời gian đó,
chẳng những là có lúc mình vào bụng trâu hay ra thai ngựa,
cũng có khi sinh vào nhà họ Trương, lại có lần làm con họ
Lý. Luân chuyển trong lục đạo, và trong giai đoạn nầy, không
biết mình đã tạo ra bao nhiêu là tội nghiệp nữa.
Vì
sao mà mình tạo tội nghiệp? Bài sám hối giải thích rất
rõ ràng, "Tất cả đều do vô thỉ tham, sân, si" nghĩa rằng
do tam độc tham, sân, si làm phát sinh vô số tội nghiệp. Cũng
lại vì ba thứ độc nầy làm chủ nên thân thể mình mới
phạm vào những tội như sát sinh, trộm cắp, và dâm dục.
Miệng thì phát sinh ra những tội vọng ngữ, nói thêu dệt,
nói lời ác ôn, nói lưỡi hai đằng. Cho nên trong bài văn
có nói "Tùng thân ngữ ý chi sở sanh" nghĩa là do nơi thân,
ngữ, ý mà phát sinh ra.
Bất
luận là tội do thân tạo ra như là sát sinh, trộm cắp, dâm
dục hoặc là nơi miệng tạo ra như là nói láo, nói lời ác
ôn, nói lời thêu dệt, nói lưỡi hai đằng hoặc là tội
phát sinh nơi ý niệm như tham, sân, si, mình đều phải khẩn
thiết sám hối. Nếu không thì mình giống như người rớt
vào bùn lầy, càng lúc càng lún sâu. Khi tội nghiệp càng lúc
càng thâm trọng thì chính mình cũng không còn chỗ nào ngoi
lên được, không còn cách gì mà cứu vớt được nữa.
Tôi
hy vọng rằng quý-vị hiện ngồi đây đều có đầy đủ
thiện căn, không quên chuyện sám hối, nhất định quý-vị
có thể phát nguyện sám hối nghiệp chướng và tiêu trừ
tất cả tội lỗi.
Giảng
ngày 15 tháng 6 năm 1958

|