| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
c
Của Ngài Triệt Ngộ Thiền Sư Người dịch : Thích Ðạt Dương Phật Lịch 2512 In tại ấn quán: Nam - Trung - Bắc, 134 Lý Thái Tổ, Sài Gòn, Việt Nam
Hết thảy chúng sanh bị năm thứ lợi sử và năm thứ độn sử sai khiến thân tâm mà phải trôi lăn trong biển sanh tử kiếp nọ sang kiếp kia chịu sự thống khổ không ra khỏi được thiệt cũng nên buồn. A- Năm thứ lợi sử tức là 5 kiến kể dưới đây: 1-
Thân Kiến: Gồm cả ngã kiến và ngã sở kiến. Ta thường
nghĩ là không biết rằng cái tâm ta là do 5 uẫn gỉa hợp
mà lại trở chấp cho là thiệt có, ấy là kiến ngã. Lại
không biết những vật xung quanh thân ta nó vẫn không có chủ
sở hữu nhất định mà lại trở chấp làm vật sở hữu
nhất định của ta. Ấy là ngã sở kiến.
B-
Còn năm thứ độn sử là:
Vì
năm sử ấy do lợi sử sanh ra, có phần chậm lụt hơn nên
kêu là độn sử.
Cho nên người tu hành mà nếu kiến hoặc và tư hoặc còn dính níu chút ít như một mảy lông, một sợi tóc thì cũng đọa vào ác địa ngục đặng chịu khổ. Còn như sanh về cõi nhơn gian thì lại chịu mọi sự khổ não, phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa, cái khổ trạng ấy không thể kể xiết. "Vì đại vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước nên mới hưởng sự tôn vinh như vậy. Nếu nay đại vương giữ gìn giới luật thì sẽ đặng phước báo lớn hơn nữa, còn như tự học chánh pháp thì sẽ có được nhất thiết chủng trí. Vậy xin đại vương nên phát tâm cầu đạo vô thượng Bồ Ðề, chứ đừng cầu xin những phước nhỏ nhen như hạng người hèn vậy." Vua Vô Tránh Nhiệm nghe quan đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế, thì tâm lượng bừng sáng, tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: "Trẩm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu. Trẩm muốn trải khắp trong đường sanh tử làm việc bố thí trì giới hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ tát và cứu giúp chúng sanh. Do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Ðề." Ðại thần Bảo Hãi nói rằng: "Bồ Ðề là một đạo rất trong sạch và sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng, rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao siêu, khắp cả hư không trùm cả tam giới, rất có oai thần mảnh lực. Vả lại đạo Bồ Ðề là hạnh bố thí, sẽ được giàu sang. Là hạnh trì giới sẽ đặng được thanh tịnh. Là hạnh nhẫn nhục sẽ đặng vô ngã. Là hạnh tinh tấn sẽ đặng bất thối. Là hạnh thiền định sẽ đặng vắng lặng. Là hạnh bát nhã sẽ đặng sáng suốt.Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng qủa Niết Bàn. Vậy xin đại vương nên phát tâm mà cầu đạo vậy." Vua Vô Tránh Nhiệm đáp rằng: "Nầy khanh, đương thời kỳ trung kiếp mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi. Nay đức Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh. Hoặc có kẻ chứng pháp tam muội, hoặc có người đặng được bậc bồ tát. hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi nhơn thiên. Trong hàng chúng sanh có một người nào ra khỏi phân đoạn sanh tử vậy. Thì thừa biết thụ xuất tam giới khó đến bực nào" Song thụ xuất tam giới như vậy thì khó mà hoành xuất tam giới thì dễ vì mười sử ấy cũng gọi chung một tiếng là tri kiến của chúng sanh đó thôi không có chi khác. Mà tri kiến của chúng sanh thì phải lấy tri kiến của Phật mà đối trị. Tri kiến của Phật tức là cái tánh linh tri ly niệm hiện tiền của chúng ta. Nhưng tánh linh tri ấy không thể cô lập một mình được mà tất phải tùy duyên ứng khởi. Nếu nó chẳng tùy duyên Phật giới thì nó sẽ tùy duyên vào chín giới kia mà phát khởi. Vì lià ngoài 10 giới ra thì sẽ không có duyên khởi nào khác nữa. Mà
bây giờ muốn tùy theo duyên khởi Phật giới, thì không chi
bằng lấy cái tâm tín nguyện của ta mà trì danh hiệu của
Phật. Duy có một điều là tín phải cho sâu, nguyện phải
cho thiết và trì danh phải cho chuyên cần mới được.
Nếu ta đề được một cái tín nguyện trì danh vào trong tam thập sử. Thì tất nhiên ta chuyển được duyên khởi chúng sanh mà làm thành duyên khởi Phật giới. Ðó là điểm sắt biến thành vàng rất mầu nhiệm ở trong pháp môn tu học và không có pháp nào hay hơn pháp này. Nhưng phải đảm đương Pháp này một cách cho tận tình. Ðừng để một giây phút ngoại duyên nào xen tạp dính líu. Niệm Phật càng lâu càng thiết tha và mãi tới không lui sụt. Thì ta có thể ngồi đợi đài vàng đến rước. Ðó là do nơi cõi đồng cư bên này sanh về cõi đồng cư bên kia mà theo bề ngang ra khỏi tam giới. Nếu so sánh với cách ra theo chiều đứng kia thì dễ hơn biết là chừng nào. Một câu A Di Ðà Phật là dược vương thuốc A Di Ðà không chứng bệnh gì mà không chửa lành. Ðó là hạt châu như ý. Không nguyện vọng nào mà không thỏa mãn. Là chiếc thuyền từ trong biển khổ sanh tử. Không có cái khổ nào mà chẳng độ được. Và là ngọn đèn huệ trong đêm trường vô minh. Không một bóng tối, âm u nào mà chẳng phá tan. Miễn mình một phen nghe lọt vào tai tức là có duyên hoặc mình một niệm muốn khởi tín tâm tức là tương ứng rồi. Nếu tín tâm qủa được chơn thiệt, thì nguyện tâm chẳng hẹn phát mà tự nhiên cũng đã phát rồi. Ta chỉ đem hai món tín và nguyện ấy để luồng vào tâm. Cũng giống như người dân phụng thỉnh mật chỉ của thánh quân. Và cũng như con thảo theo cái nghiêm mạng của từ phụ. Là một việc cần yếu thứ nhất và nhớ mãi không khi nào dám quên. Thì dầu ở trong hoàn cảnh thanh danh hay là huyên náo, thông thả hay rộn ràng, niệm nhiều hay niệm ít. Cũng đều làm cho cái chánh nhân vãng sanh được cả. Nhưng chỉ sợ cách nhau ở trong cảnh siêng năng và lười biếng đó thôi. Chúng ta từ vô lượng kiếp nhẫn lại đây mãi ở trong vòng lục đạo luân hồi. Lẽ nào lại không biết phát cái tâm cầu đạo giải thoát và tu cái hạnh hướng đạo hay sao? Nhưng thiệt ra là tại nơi tánh nhơn tuần đày đọa của ta làm cho thất bại, mà phải chịu nỗi thống khổ với cái luật sanh tử từ hồi nào chưa hề ra khỏi. Vậy mà ngày nay đã nghe được pháp môn trì danh niệm Phật là pháp môn rất giản dị và rất thiết yếu. Mà nếu còn theo dấu xe trước kia đành chịu một bề nghiên úp. Thì thiệt là một hạng người không có huyết tánh chút nào. Cái nghĩa trì danh niệm Phật là nói: Giữ chắc danh hiệu Phật A Di Ðà vào trong tâm ta mà không lúc nào tạm nghĩ. Bằng như trong tâm niệm Phật của ta có gián đoạn hay là xen tạp chút ít cũng đều không phải là nghĩa trì danh niệm Phật. Hãy nối luôn đừng cho xen hở vậy mới gọi là thiệt tinh tấn, mà nếu tinh tấn mãi không thôi thì lần lần đi tới chổ nhất định tâm bất loạn mà tịnh nghiệp chắc được viên thành. Ðến khi đã đến chổ nhất tâm bất loạn rồi mà trình độ tinh tấn của ta vẫn cứ lên mãi. Thì sẽ thấy được cái công hiệu mỡ được trí tuệ, phát được biện tài, chứng được thần thông và thành được niệm Phật tam muội cho nên đến bao nhiêu những tướng thoại linh dị cũng đều được hiện tiền tất cả, duy có một điều trước khi được những công hiệu ấy ta không nên dựa để cái tâm hý cầu. Mà ta phải nên ráng sức đi tới chổ nhất tâm bất loạn đó thôi. Chẳng hạn tu tập pháp môn gì cũng cần phải rõ được tông chỉ là qúy, thế mà người đời nay chỉ biết vạn pháp duy tâm. Chỉ biết ngoài tâm không có Phật mà không biết ngoài Phật không tâm. Chỉ biết vô lượng làm một mà không biết một làm vô lượng. Và chỉ biết chuyển sơn hà đại địa về tự kỷ mà chẳng biết chuyển tự kỷ về sơn hà đại địa. Nếu chẳng biết tâm duy vạn pháp thì đâu thiệt biết được vạn pháp duy tâm. Nếu chẳng biết ngoài Phật không tâm thì đâu thật biết được ngoài tâm không Phật. Thiệt chẳng khác nào một qủa cầu tròn tách làm hai. Rời ra thì hai, nếu cả hai hiệp lại thì thành một, tất cả cập vậy. Cho
nên người niệm Phật phải lấy duy Phật, duy độ làm tông.
Mà nếu cái tông duy Phật, duy độ chẳng rõ thì cái nghĩa
chơn duy tâm chẳng thành.
Ðó là lấy cái tâm thiệt tưởng niệm ông Phật thiệt. Tưởng lấy cái tâm pháp giới niệm ông Phật pháp giới. Niệm niệm tuyệt đãi, niệm niệm viên dung. Vì tuyệt đãi siêu hơn hết thảy các pháp môn khác , không pháp nào sánh kịp. Vì viên dung cho nên thấu triệt hết thảy pháp môn không pháp gì lọt ngoài. Cho nên một câu A Di Ðà Phật phải tin như thế và phải niệm như thế thì mới bất tư nghì ở trong bất tư nghì vậy. Nguyên
lai cái tánh linh tri ly niệm hiện tiền của chúng ta đó, là
cái chư phật giới chúng sanh đồng có do một bực không hai
không khác.
Còn
chúng sanh thì bị tùy theo nhân duyên mê muội ô nhiễm. Mê
muội rồi lại mê muội nữa. Ô nhiễm rồi lại ô nhiễm
nữa. Cho nên tánh linh tri bị cục xúc ở trong ngũ uẫn mà
thành nhỏ nhen hèn hạ.
Trái
lại ta cần phải biết linh tri hiện tiền đó, nếu luận
theo cái cảnh sở tri của nó thì vẫn có rộng hẹp hơn kém
chẳng đồng nhau thật, nhưng nếu luận theo cái trí năng tri
của nó thì toàn thể của nó vẫn như giống y không khác.
Cũng ví như đồng một thứ lửa mà đốt hương chiên đàn
thì thơm, đốt phẩn khô thì thúi. Lại đồng một thứ nước,
mà hoặc có nước đục nước trong. Ðồng một thứ gương,
mà lại có gương mờ gương tỏ. Nhưng thiệt ra nước tuy
có trong có đục mà cái tánh ước của nước không hai. Gương
tuy có tỏ có mờ mà cái thể trong sáng của gương như một.
Bởi
cái thể của nó không khác cho nên ở trong môn phương tiện
tu hành có nhiều cách:
1-
Phái chỉ kính ngưỡng hâm mộ nơi các đức Phật:
2-
Phái chỉ tôn trọng nơi tánh linh tri của mình:
3-
Phái ngoài ngưỡng mộ các đức Phật mà còn tôn trọng tánh
linh tri của mình:
4-
Phái ngoài chẳng ngưỡng mộ các đức Phật mà trong
chẳng tôn trọng tánh linh tri của mình:
Trong 4 cách tu nói trên đây, thì người học Phật nên tự xét lấy tánh căn của mình ứng tu theo cách nào. Thì chỉ một đường đi tới thì trải qua một thời gian lâu. Công hạnh thuần thục đều chắc có phần tương ứng tất cả. Quyết chẳng nên sanh lòng vọng chấp. Buột miệng khinh bàn mà quí Pháp này chê Pháp khác. Hay thì cho Pháp nọ phải, dở thì thì cho Pháp kia quấy. Thì chẳng những trái với đạo mầu mà tạo thành sự chướng ngại cho phần mình thôi. Lại còn sợ hủy báng chánh pháp mà mang lấy tội lỗi thêm là khác. Kinh
Lăng Nghiêm nói: Chổ biết của các thánh lần lượt truyền
cho lẫn nhau, là chỉ nói cái vọng tưởng không có tánh. Ngài
Nhị tổ nói: Tìm cái tâm không thể được.
Sách
Khởi Tín Luận nói: Nếu có người quán được cái vô niệm,
tức là người xu hướng về Phật trí.
Vậy nên ngày nay phải lấy duyên khởi thanh tịnh mà lần lần lay chuyển nó. Nghĩa là dùng cái nhơn tâm tức Phật của ta mà niệm công qủa Phật tức tâm của ta. Thì nhơn quả thông suốt lẫn nhau, Tâm và Phật tự nhiên bình đẳng. Niệm
công qủa Phật tức tâm của ta đã là gốc của lòng vô duyên
Ðại Từ và đồng thể Ðại Bi không thể nghĩ lường được,
không thể bàn được cho nên nó có thể ở trong niệm niệm
lóng trong các thứ ô nhiễm, tròn rõ cái tánh ban không mà
khế hợp nguồn linh và thẳng tới biển quả. Vậy thì cái
duyên thanh tịnh có gì hơn đó nữa!
Lại
Niệm Phật phải sanh 4 thứ tâm:
Nếu trong 4 thứ tâm ấy mà có được một thì tịnh nghiệp chắc thành tựu ngay. Lại niệm Phật phải cho lâu dài, chẳng nên gián đoạn nếu gián đoạn thì tịnh nghiệp càng khó nổi thành, nhưng lâu dài lại phải cho dõng mãnh, chẳng nên giải đãi. Nếu giải đãi thì tịnh nghiệp cũng không chắc được. Vì lâu dài mà chẳng dõng mãnh tức là phải lui, còn dõng mãnh mà chẳng lâu dài tức là khó tới. Chúng ta cần phải biết: Ðương lúc niệm Phật chẳng nên có cái tưởng gì khác tức là chỉ. Lại trong lúc niệm Phật phải cho lâu lâu phân minh tức là quán. Ấy là trong một niệm chỉ quán gồm đủ. Và chẳng có pháp chỉ quán nào riêng cả. Chỉ tức là cái nhơn của định. Ðịnh tức là cái qủa của chỉ. Quán tức là cái nhơn của huệ. Huệ tức là cái qủa của quán. Hễ một niệm chẳng sanh mà lâu lâu phân minh, tức là tịch mà chiếu. Còn mà lâu lâu phân minh mà một niệm chẳng sanh tức là chiếu mà tịch. Nếu được như vậy, thì tịnh nghiệp chắc chắn thành công với quả bậc thượng phẩm. Từ một người nhẫn đến trăm ngàn muôn ức người đều tu như vậy thì đều thành tựu như vậy cả, quyết không sai chạy chút nào. Thế nên người niệm Phật cần phải biết rõ. HẾT Hồi
Hướng :
WP: Mẫn Lê Từ Hỷ |
c
|
|||||||||||||||||||||||