| THƯ VIỆN HOA SEN |
c
|
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
c
Của Ngài Triệt Ngộ Thiền Sư Người dịch : Thích Ðạt Dương Phật Lịch 2512 In tại ấn quán: Nam - Trung - Bắc, 134 Lý Thái Tổ, Sài Gòn, Việt Nam
1-
Nói về tông chỉ duy tâm :
a-
Hiện lượng: là nói thân chứng
cái lý trong lúc hiện tiền. Tức như Ngài La Thập Ðại Sư
lúc còn nhỏ mới được bảy tuổi, đi theo mẹ về chùa lễ
Phật, chợt thấy cái bát của Phật, bèn mừng rỡ lấy đội
trên đầu, bèn phút chốc lại nghĩ rằng: tuổi của ta quá
nhỏ mà bát của Phật qúa nặng, thì làm sao đội nổi. Trong
khi cái niệm ấy vừa khởi ra, thì ngài thoạt nhiên tắt tiếng
mà để bát xuống rồi ngài tỏ ngộ cái lý vạn pháp duy
tâm liền.
b- Tỷ lượng: Là nơi muôn các tướng mà quan sát cái nghĩa rồi so sánh ví dụ mà biết. Nhưng ở trong các ví dụ, thì chỉ có dụ chiêm bao, như ta trông thấy núi sông, người, vật... nhưng đều không lìa cái tâm nằm mộng chiêm bao của ta. nếu ngoài mộng tâm ra thì không có một pháp gì có cả. Xét đó thì có thể tỷ dụ mà biết được hết thảy các pháp hiện tiền cũng chỉ từ tâm ta mà duy tâm sở hiện vậy. c-
Thánh ngôn lượng: Là nói cái lý
tam giới duy tâm, vạn pháp duy tâm ấy là, ngàn kinh muôn luận
cũng đều nói như thế cả.
Danh
khác mà Thể khác : là như một cái danh kêu rằng : Chơn Như,
Phật tánh, thiệt tướng pháp giới của trong các kinh nói
đó, cũng đều là cái tâm kiên thiệt thuần chơn ấy cả.
Do bốn nghĩa ba lượng sự lý, danh thể và bản hữu hiện tiền như trên mà hiểu rõ cái nghĩa duy tâm. Cho nên lấy duy tâm làm tông vậy. 2-
Nói về tông chỉ duy Phật :
3-
Nói về tông chỉ tuyệt đãi viên dung :
4-
Nói về tông chỉ siêu tình ly kiến :
Tóm
lại trong một thời kỳ hóa đạo của Phật ba tạng mươi
hai bộ, khai thị những pháp môn thiên viên ấy là cũng hiểu
rõ cái duy tâm, tự tánh, đặng viên mãn thành tựu cái cực
qủa vô lượng diệu giác đó thôi. Vậy đủ biết những
pháp môn ấy tức là một pháp môn niệm Phật tổng cọng
lớn lao chớ không có chi khác.
Cho nên hiệp cả hai phái năm tông và 1700 công án, cũng đều chỉ điểm cái tánh bản nguyện của người đã hiểu rõ cái pháp thân thanh tịnh sẵn có. Mà Pháp thân bàng bạc khắp nơi, không đâu chẳng khắp. Còn người tham thiền thì lúc nào cũng hiện tỉnh giác niẹâm và cái gì cũng tương ứng. Vậy thì ở đâu mà không phải pháp môn niệm phật. Thế
mà những bọn vô tri lại nói: người trọng tông môn chẳng
nên niệm Phật. Ấy là chẳng những không biết niệm Phật
mà cũng không biết tới tông nữa.
Lại
có 8 việc ta cần phải rõ:
Trong
8 việc ấy, người tu tịnh nghiệp cần phải hiểu rõ biết
hết.
Thân người đã khó được như vậy, huống chi ở trong đám người mà làm được cái thân nam tử trọn vẹn sáu căn lại còn khó nữa. Còn Phật pháp đã khó nghe như vậy, huống chi ở trong Phật Pháp mà nghe được danh hiệu Di Ðà và pháp môn tịnh độ lại càng khó được nữa. Thế mà ngày nay ta may mắn có được cái thân người khó được này. Và được nghe cái Phật pháp khó nghe, là một sự hết sức may mắn hy hữu và hết sức quý hóa. Mà nghe được nhưng không chịu tin. Ôi thật đáng tiếc biết là dường nào! Nhưng mấy kẻ không tin thì chẳng nói đến làm chi. Còn như những kẽ đã tin mà chẳng nguyện thì cũng như là kẻ không tin. Nguyện mà chẳng hành thì coi như là kẻ không nguyện. Có hành mà chẳng dỏng mảnh thì cái nguyện chẳng khẩn thiết. Mà cái nguyện sở dĩ chẳng thiết là do cái tin chẳng chơn vậy. Xét như thế thì biết phát được cái tín tâm cho chân thật là khó. Mà tín đã chân thì nguyện tự nhiên phải thiết. Nguyện đã thiết thì hành tự nhiên phải dõng mãnh. Nếu tín và nguyện đã chân thiết mà lại thêm cái sức thiệt hành dõng mãnh. Thì quyết định được sanh về cõi tịnh độ. Quyết định được thấy Phật A Di Ðà. Quyết định chứng được bất thối và quyết định được bổ xứ làm Phật sự ngay. Mà nếu được sanh về tịnh độ Phật quốc thì nghiệp căn sanh tử trong vô lượng kiếp nhẫn lại đều từ đó mà đoạn tuyệt luôn. Còn đã được bổ Phật xứ rồi, thì cái cực qủa vô thượng diệu giác rất tôn quý kia chắc được viên mãn thành tựu. Vậy thì một niệm chân tín ấy đối với người tu rất có cái quan hệ lớn lắm. Nếu không phải là bậc người trồng sẵn có căn lành đã lâu và nghiệp duyên sanh tử có ít thì làm sao được vậy. Nhưng chúng ta đã trải qua thời gian từ vô lượng kiếp nhẫn lại. Nghiệp lực dầu nặng hay nhẹ và thiện căn dầu cạn hay sâu cũng đều không thể biết được. Duy có một điều là nghiệp lực do nơi tâm chuyển biến, thiện căn do nơi người vun trồng, cho nên những kẻ hoằng pháp cần phải dùng cơ phương tiện tỏ bày và những kẻ học đạo cũng phải hết sức dõng mãnh đi tới. Nếu một lời nói nghe lọt vào lỗ tai hay là một niệm phát khởi trong cõi lòng cũng đều có thể chuyển được nghiệp lực và trồng được thiện căn trong đời. Chỉ
sợ những hạng người dầu nghe giáo pháp khai thị cách nào
đi nữa cũng không khởi tâm để ý. Tuy gặp hoàn cảnh cũng
không một lời để ý. Tuy gặp hoàn cảnh thuận nghịch cho
mấy cũng không một niệm phát tâm thì hạng người ấy chính
là người nghiệp lực quá nặng và thiện căn quá ít, cũng
không biết làm sao cho được.
Phật
tuy không thêm, mà vì thuận theo tánh ấy cho nên hưởng thọ
cái vui pháp lạc. Phật vì tâm đại từ đại bi niệm niệm
nhớ nghĩ đến ta và luôn nhiếp hóa ta. Còn ta thì ở trong
tâm tánh đồng thể, tuy gặp phải cái khổ trầm luân mà
chẳng biết trông cầu nơi Phật, chẳng biết nhớ nghĩ đến
Phật. Chỉ cứ đắm cảnh sanh lòng theo tình tạo nghiệp từ
vô thủy kiếp nhẫn lại. Nào ngũ nghịch thập ác, Cái nghiệp
xấu ác nào cũng dám làm. Nào bát nạn tam đồ không cái khổ
lớn nào mà chịu từ bỏ. Khi nói đến đáng nên thẹn mặt
và nghĩ đến đáng nên rùng mình.
Lại
vì ta đã trãi qua nhiều kiếp số lâu dài, đã chịu đủ
mọi sự thống khổ. Vì thế nên ngày nay ta muốn cầu cho
được giải thoát sanh tử mà phải niệm Phật.
Lại cái tâm tánh đồng ấy đã nói rằng tất cả là bạn hữu, thì ngày nay đâu phải là không có. Chỉ vì ta thiếu sự chứng ngộ đó thôi. Vậy ta nếu muốn cầu cho tỏ ngộ tâm tánh ấy thì phải niệm Phật. Nếu
ta biết dùng cái tâm câu ngộ, tâm hổ thẹn, tâm sợ khổ,
tâm cảm ơn Phật mà niệm Phật. Thì phải niệm Phật cho
chắc thiết, huống chi trước kia ta chẳng biết niệm Phật
mà Phật còn nhớ ta, nghĩ đến ta. Thì ngày nay ta niệm Phật
khẩn thiết thì chắc Phật sẽ luôn thường nhớ nghĩ đến
ta và tiếp dẫn độ ta trong từng giờ phút.
Ðó là cái cảnh giới của đại sĩ đã tự mình chứng rõ và mình thiệt đi đến. Mà đem hết chân thật ruột gan để bày tỏ cho chúng ta biết vậy. Thế thì chúng ta ngày nay niệm Phật, chắc được thấy Phật mà đã thấy Phật thì chắc chắn thoát khỏi mọi sự ưu não và sẽ có thời kỳ tỏ ngộ. Mà nếu đã tỏ ngộ thì tức đã rữa được những cái hổ thẹn của ta. Vậy nếu không niệm Phật thì niệm cái gì được gọi là tối thượng đây? Hết thảy chúng sanh, bản lai là Phật, là chân tâm, là gốc có vọng tánh nguyện không tất cả Pháp. tánh mình sẵn có đủ. Chỉ vì chúng sanh từ hồi nào đến giờ cứ đeo theo cái duyên mê nhiểm, mà chưa đoạn được vọng nguyện không và chưa chứng được cái chân gốc có. Cho nên tánh của mình đủ mà chưa tu và ông Phật của mình có sẵn mà chưa thành là thế. Vậy ngày nay nếu muốn đoạn thứ vọng ấy, muốn chứng cái chân ấy, muốn tu hạnh lành ấy và muốn thành ông Phật ấy, mà theo duyên ngộ tịnh ấy thì quyết không có pháp nào vừa thẳng tắc, vừa mau chóng và viên đốn cho bằng pháp trì danh niệm Phật. Bởi vì cái tâm năng niệm của ta gốc là toàn chân mà thành vọng và toàn vọng mà tức chơn. Còn ông Phật sở niệm gốc toàn đức. Ngoài cái tâm năng niệm không có ông Phật niệm nào khác và ngoài ông Phật sở niệm không có cái tâm năng niệm nào riêng biệt. Năng sở đều quên, tâm Phật như một ở trong niệm niệm tròn phục và tròn đoạn năm trụ phiền não, tròn chuyển, tròn diệt ba thứ nhiễm chướng, tròn phá năm ấm, tròn vượt năm trược, tròn sạch bốn cõi, tròn niệm ba thân, tròn tu muôn hạnh, tròn chứng bản chơn, mà tròn thành cái qủa vô thượng diệu giác. Một niệm như thế, niệm niệm đều như vậy, nếu được niệm niệm nối luôn, thì cái trình độ đi tới của sự phục đoạn tu chứng không thể nghĩ bàn được. Ấy là lấy cái tâm toàn Phật, niệm ông Phật toàn tâm thì thiệt có phần oai đức, thần lực của tự tâm qủa Phật mà gia hộ ở trong chổ minh minh đó vậy. Xét như thế thì đủ biết một câu Phật hiệu, đừng có xen lộn chút tạp duyên nào, thì chỉ cần mười niệm thành công. Không cần đợi trải qua nhiều kiếp. Thế mà người đối với pháp môn niệm Phật còn không chịu tin, thì thiệt chẳng khác gì cây đá. Coi như người không tu pháp môn niệm Phật mà tu cho các pháp môn khác. Dầu không phải là người cuồng thì cũng là người si, không còn nói gì được nữa. Có người hỏi rằng : Mười phương đều có tịnh độ, mà chỉ khen ngợi tây phương và cầu nguyện xin vãng sanh về đó là sao vậy? Ðáp:
Có nhiều nguyên cớ:
Coi
như chúng sanh ở cõi này, chẳng luận kẻ tăng người tục,
nam hay nữ, già hay trẻ, kẻ thiện hay lành, mà trong lúc trực
tiếp sống trong hoàn cảnh quá thuận hay quá nghịch, quá khổ
hay quá sướng thì phần nhiều trong miệng đã phát ra một
tiếng niệm Phật, mà có niệm Phật thì niệm Phật A Di Ðà
chớ không niệm Phật nào khác.
Vã lại kinh A Di Ðà do ngài La Thập đầu tiên dịch ra. Sau lại ngài Huệ Viễn. Tổ chùa Ðông Lâm cùng với một trăm hai mươi ba người kiết xã niệm Phật, rồi trong số 123 người ấy lần lượt hoá diệt , mà lúc lâm chung đều có điềm tốt lưu lại. Tuy như chim Anh Võ và con Bát Bát Nhi là loài súc sanh mà trong khi chết cũng đều có tướng tường thoại. Vậy thì biết chúng sanh có cái duyên rất thâm sâu với Phật A Di Ðà. Lại
kinh Vô Lượng Thọ nói: Sau khi Kinh pháp diệt hết rồi. Ta
sẽ còn dùng nguyện lực lưu kinh này lại trụ thế thêm một
trăm năm để độ thoát cho chúng hàm thức.
Chúng sanh trong thế gian mổi khi gặp phải lúc hoạn nạn thống khổ, thì đã kêu la với cha mẹ hay kêu trời trách đất để cầu cứu, mà chẳng biết cha mẹ với trời đất không thể cứu ta ra khỏi sinh tử và làm cho ta hết kiếp luân hồi được. Vì cha mẹ với trời đất cũng đồng ở trong vòng sanh tử như ta không khác. Dầu cho tất cả các bực thánh nhơn trong tam thừa, tuy ra khỏi sanh tử, mà vì không lòng đại bi, thì cũng không ích gì cho ta. Ðến như các vị bồ tát thì tuy có lòng đại từ đại bi, đại độ. Mặc dầu đạt chổ tâm chứng đều có phân hạng, cũng chưa có đủ khả năng phổ lợi được quần sanh và đầy đủ hết thảy các nguyện nhẫn đến mười phương chư Phật tuy đều chứng tột pháp giới, nhưng không phải sức ta cảm được Phật. Mà giả sử như có cảm được mà thấy Phật đi nữa, thì cũng chẳng qua rảnh khổ trong tạm thời chứ không phải là thiệt rốt ráo. Duy Phật A Di Ðà, hể ta một phen thấy được Ngài, thì tức thời thoát khỏi mà đời đời dứt hết cội gốc thống khổ đó thôi. Vậy nên đối với một câu A Di Ðà Phật đáng đem hết tâm lực, nguyện lực mà thọ trì, nên ta thường có kệ rằng : Nghĩ khắp thế gian và xuất thế gian, chẳng niện Di Ðà lại niệm ai. Nhưng niệm Phật chẳng khó, mà khó ở sự bền lâu. Quả được kiên trì một niệm. Như gan rèn sắt đúc. Như một người địch với muôn người, ngàn thánh đón ngăn không đứng lại, muôn trâu lôi kéo chẳng quay đầu. Cứ trì mãi như vậy thật lâu thì chắc chắn sẽ được cảm thông tương ứng, mà nếu đã được một niệm cảm thông rồi, thì liền ra khỏi ải sanh tử và đi thẳng lên bực bất thối mà chứng thành Phật qủa ngay. Bằng chổ dụng tâm chia được như thế mà trở lại nói lời Phật không nghiệm, không linh ứng và cho rằng tâm Phật khó cảm. Thì đây là lối nghĩ sai theo lối tâm vô minh phàm phu, nên hiểu rỏ điều này. Biết việc nhỏ mà chẳng biết việc lớn, thấy chổ gần mà chẳng thấy chổ xa ấy là thường phận của chúng sanh như vậy. Cho nên Phật A Di Ðà là một đấng có ân đức lớn. Chỉ có vài chúng sanh không biết mà thôi. Trong vô lượng kiếp về đời qúa khứ, Ngài A Di Ðà đối trước mặt Ðức thế giới Tự Tại Vương Như Lai. Vì cả thế giới ác trược và chúng sanh tội khổ mà phát ra 48 đại nguyện rồi ngài y theo nguyện đó mà trải qua kiếp số lâu dài tu hạnh Bồ tát bỏ cả ngôi kim luân, quốc thành, thê tử. Cho đến đầu, mắt, tủy, nảo đều thí xả trong bao nhiêu trăm ngàn muôn ức kiếp như vậy. Ngài đã làm những việc mà con người khó làm. Ngài nhẫn những sự việc mà con người khó nhẫn được, tròn tu hành, sức tột công thuần mà tự làm trang nghiêm được quốc độ và viên thành được Phật qủa, chia rải thân mình nhiều đến vô lượng mà tiếp dẫn chúng sanh phương tiện nhiếp hoá, khiến cho chúng sanh tròn đủ duyên để được sanh về nước ngài. Phật đã vì hết thảy chúng sanh thì tức là Phật cũng vì ta, cho nên cái nguyện ấy là Phật vì ta, mà phát cái đại định ấy. Là Phật vì ta mà tu. Bốn độ ấy là: Phật vì ta mà nghiêm tịnh; Có ba thân Phật là vì ta mà viên mãn; nhẫn đến chổ nào cũng hiện thân tiếp dẫn, lúc nào cũng ứng rõ điềm lành, mỗi mỗi đều vì ta tất cả. Lúc ta tạo nghiệp thì Phật cảnh tỉnh ta. Lúc ta thọ khổ thì Phật cứu vớt ta. Lúc Ta quy mạng thì Phật nhiếp thọ ta. Lúc ta tu hành thì Phật gia hộ ta. Phật sở dĩ mỗi mỗi vì ta là Ngài muốn cho ta niệm Phật. Muốn cho ta lần lượt truyền hoá hết thảy chúng sanh mà thẳng đến lúc bổ sứ làm Phật, thì ngài mới mãn nguyện. Ôi! Cái ơn sâu đức nặng của Phật ban cho ta thật không thể lường. Không thể lấy ơn cha mẹ so sánh bằng. Không thể lấy ơn trời đất để bì kịp. Mà nếu không chịu nghe lời Phật khai thị thì làm sao biết được ân này! Nếu không chịu đọc tụng kinh Phật thì làm sao rõ tới lý ấy? Vậy thì ngày nay cho đến tương lai, ta đã biết rõ rồi, thì chỉ có một điều là ta nên hết sức tịnh tu và liều chết niệm Phật mà thôi không còn đợi nói gì nữa. WP: Mẫn Lê Từ Hỷ |
c
|
|||||||||||||||||||||||