I. Khái niệm:
Khai:
mở ra, mở đầu, mở mang, bắt đầu.
Quang:
sáng.
Khai
Quang: là lễ dâng cúng Đức Phật ( Khai Quang còn có nghĩa
là Lễ Điểm Nhãn cho tượng Thần, Phật. Cũng có một số
quan niệm hòa đồng cùng lễ Hô Thần Nhập Tượng ).
Điểm
Nhãn: là lễ vẽ con mắt Phật.
Tóm
lại, Khai Quang là khai mắt cho tượng Phật. Khi vẽ xong
1 tượng Phật, khi tạo xong một cốt Phật, trước khi thờ
phượng, người ta làm lễ, niệm kinh, đọc Chú và điểm
vào cặp mắt Phật, ấy là lễ Khai Quang. Cũng gọi là lễ
Khai
Quang Điểm Nhãn ( Khi một tượng Phật được đắp
và tô vẽ xong, đem tượng Phật đặt đúng vị trí rồi lựa
ngày tổ chức lễ Khai Quang Điểm Nhãn cho tượng
Phật, sau đó mới bắt đầu thờ cúng tượng Phật ).
II. Vấn đề
Khai Quang Điểm Nhãn:
" Khai
Quang " và " Điểm Nhãn " là 2 vấn đề hoàn toàn khác biệt
với nhau trong một Nghi Thức Phật Giáo.
1.Điểm
Nhãn:
Theo
sự hiểu biết của Chúng tôi thì " Điểm Nhãn
" không hề dính líu gì đến Nghi Thức Phật Giáo mà
phát xuất từ giới họa sĩ của Trung Quốc thời xưa. Họ
quan niệm rằng trong những bức tranh vẽ về người hay thú
vật, tài nghệ của người họa sĩ được thể hiện qua việc
vẽ con mắt. Họa sĩ chân tài thì vẽ con mắt có " Thần ",
làm cho bức tranh linh hoạt, sống động, y như thật. Thế
nên trong một họa phẩm, con mắt thường được vẽ cuối
cùng và nếu như người họa sĩ này tôn trọng một bậc họa
sư nào đó trong vùng thì cố thỉnh mời cho được vị này
đến để " Điểm Nhãn " , tức là hoàn thành nét vẽ cuối
cùng của bức tranh: con mắt.
Việc
này lấy từ Điển Tích Vẽ Rồng Điểm Nhãn của Trung Quốc:"
Lương
Võ Đế sùng mộ việc trang hoàng Chùa Phật, nên thường sai
Tăng Dao họa nơi các Chùa; Chùa An Lạc ở nơi Kim Lăng có
vẽ 4 con rồng trắng song không có vẽ mắt. Tăng Dao thường
bảo nếu chấm vẽ mắt rồng ( Điểm Nhãn ) thì nó sẽ bay
đi. Người ta cố nài chấm vẽ mắt. Trong chốc lát, sấm
sét nổi lên phá vỡ bức tường, 2 con rồng cỡi mây bay lên
trời, còn 2 con chưa vẽ mắt vẫn ở chỗ cũ " (Theo Lịch
Đại Danh Họa Ký Đời Lương ). Do đó, trong quảng đại quần
chúng mới ứng dụng Điển Tích này trước khi bắt đầu
Lễ Hội Múa Lân Sư Rồng: Trước khi " Khai Trương " 1 con Lân
mới, họ phải làm lễ " Khai Quang Điểm Tinh " tức là " Điểm
Mắt Cho Lân " ( Khi chế tạo đầu Lân, các nghệ nhân bao giờ
cũng chừa lại 2 con mắt ). Lân sau khi hoàn thành tại cơ sở
sản xuất, thì phải tới Chùa hoặc trước bàn thờ Sư Tổ
để làm lễ " Tinh Điểm Khai Quang " trước khi đem biểu diễn.
Sau khi lựa ngày tốt, các chú Lân-Rồng sẽ thực hiện Nghi
Thức " Khai Quang Điểm Nhãn " với 1 dấu chấm CHÂU SA vào
Giữa Trán hoặc Lưỡi để chính thức hoạt động. Cúng Tổ
và điểm mắt rồi thì Lân-Rồng mới " sống dậy " và múa
được; Khi Lân-Rồng đã cũ, thì người ta đốt cháy nó để
" trả lại cho Trời "...Như vậy việc " Điểm Nhãn " là như
thế.
2.
Khai Quang:
Khai
Quang theo như chúng tôi được biết là một phần nằm trong
Nghi Lễ An Vị Phật. Một số Phật tử khi mới thiết lập
bàn thờ Phật trong gia đình, hay khi thỉnh tôn tượng của
Phật hay Bồ Tát về thờ, thường mời quý Thầy đến làm
lễ an vị Phật, trong đó có Nghi Thức Khai Quang.
Cũng có khi Phật tử mang những tôn tượng này đến Chùa
để nhờ 1 vị Thầy Khai Quang dùm. Nghi Thức này bao gồm các
điểm chính yếu như sau: Vị Thầy dùng cái Kính đàn ( Tức
là kính soi mặt mới mua về chưa có ai soi vào đó ), 1 chén
nước và 3 nén hương. Tôn tượng đó được phủ bằng 1
tấm vải vàng, sẽ được vị Thầy chủ lễ vừa đọc kinh
vừa từ từ kéo ra và làm những công việc cụ thể như chiếu
kính vào bức tượng, rảy nước...đồng thời vừa đọc
Chú vừa lấy tay vẽ chữ " Án " ( OM ) bằng tiếng Phạn (Theo
người Atlantis: Thượng Ðế là đấng tối cao, ít khi được
nói đến tên, mà chỉ tôn xưng là Ngài. Khi cần cầu đến
Thượng Ðế thì chúm môi lại tròn như chữ o và phát âm
thanh "o" để chỉ mặt trời, và ngậm miệng lại phát âm
thanh "om"( Nhiều câu chú trong kinh Phật có chữ "Ôm", ta thường
đọc là "Úm" hoặc "Án"). Nếu được như thế thì đó
là căn nguyên của tiếng "Om" trong khi thiền vậy). Nghi thức
" Khai Quang " tựu chung là như vậy và quý Thầy của tất cả
các tông phái Bắc Tông, Nam Tông và Mật Tông của VN đều
sử dụng Nghi thức này nếu có yêu cầu của Phật tử.
III. Theo Huyền
Môn:
Vì
đời này không có Phật nên sau khi tạo thành hình tượng
Phật Bồ Tát thì chúng ta làm lễ thỉnh Chư Phật Bồ Tát
đến chứng minh gọi là Lễ An Vị Phật.
Các
Pháp Sư có những bài Chú hay những linh phù mượn sắc lệnh
Ngọc Hoàng Thượng Đế, làm " Phép Trấn Thần " vào bát nhang
hay ảnh tượng mới mua (thỉnh ) về, nhằm không cho các vong
linh hỗn tạp tá vào. Sau đó sên bùa hay dùng Thần Chú để
gia trì vào tượng hoặc hình, cuối cùng dùng sắc lệnh đó
để Hô Thần Nhập Tượng. Khi gia trì thì sẽ được nguyện
lực của Thần Chú sên vào tượng hoặc hình, vì vậy mới
có các vị theo chứng minh cho thân chủ khi van vái cúng bái
và tạo được linh khí để có thể giúp đỡ cho họ. Nếu
không thì chỉ là một tượng hoặc hình bình thường mà thôi,
có thể dùng để An Tâm ( Khai Quang Điểm Nhãn là làm tăng
linh khí cho pho tượng chứ không phải điểm nhãn cho các vị
Phât-Tiên-Thánh-Thần. Mỗi vị đều có 1 bài Chú thỉnh riêng
).
Ngưới
Á Đông chúng ta rất tin tưởng vào vấn đề tâm linh, 1 bức
tượng, 1 vật thể, nếu gọi đúng tên, đúng lúc thì sự
linh thiêng sẽ ứng nghiệm. Sự cầu khẩn đó ứng nghiệm
không phải là ngẫu nhiên mà các vật thể đó đã được
vị Thầy làm cho trở nên linh vật, huyền bí. Như vậy, việc
khai mở một vật từ vô tri trở nên linh thiêng thì phải
có những vị Thầy biết được bộ môn Khai Quang Điểm Nhãn,
tức là phải biết mật mã để khai mở (Nếu không có
khả năng Khai Quang thì 1 bức tượng chỉ là 1 khối đồng,
1 khối đất mà thôi ). Sự khác biệt giữa vật vô tri
và vật linh thiêng là nhờ các Thầy Pháp Sư đọc Thần Chú,
cộng thêm những nguyên tắc về tâm linh. Đi sâu vào vấn
đề này rất phức tạp.
IV .Theo Phật
Giáo Chánh Tín:
An
vị Phật là một nghi thức do các hàng tín đồ xưa tổ chức
là một nghi lễ rất rườm rà, lắm khi sai lệch tôn chỉ
từ bi và giáo lý chơn truyền của Ðạo Phật, điển hình
như: làm lễ khai nhãn, hay truyền oai lực từ tượng Phật
cũ sang tượng Phật mới v.v... đây là những việc làm
không cần thiết và không liên quan đến việc thực hành theo
giáo lý của Ðức Phật.
Tại
sao chúng ta thờ phượng và lễ bái Ðức Phật, trong khi Ngài
không có mặt để thọ lãnh sự lễ bái đó, mà chỉ là một
hình tượng vô tri vô giác. Ðứng trước pho tượng Phật
người Phật tử chỉ hồi nhớ lại những đặc tánh của
Ngài, chúng ta phải tri ân vì Ngài đã khám phá chơn lý và
vạch ra con đường giải thoát cho chúng sanh. Do đó không có
việc xem tượng Phật là một thần linh cần phải truyền
oai lực.
Vậy
người Phật tử muốn làm lễ an vị Phật, chỉ cần thỉnh
tượng Phật về tư gia, tịnh xá, niệm Phật đường hay chùa
chiền, an vị một nơi trang nghiêm và thỉnh chư Tăng chứng
minh lòng thành của mình đối với Tam Bảo bằng thân, khẩu,
ý, cúng dường đến chư Tăng sau khi các vị tụng thời kinh
An Vị. Ðó là một cách an vị Phật rất giản dị và đúng
theo nghi thức Phật giáo.
Khi
thỉnh tượng Phật Bồ Tát về nhà, nhiều người thích làm
lễ gọi là "khai quang". Theo quan điểm Phật giáo chính
thống thì nghi thức đó không cần thiết. Bởi vì tượng
Phật và Bồ Tát chỉ là những công cụ để tu hành. Điều
quan trọng ở đây là đức tin và lòng thành, lòng sùng kính,
chứ đâu phải ở nơi tượng Phật và Bồ Tát.
Khi
Phật Thích Ca còn tại thế, lúc Phật lên cõi trời Đao Lợi
thuyết pháp cho mẹ ba tháng, dân chúng ở cõi người chúng
ta có tạo tượng Phật để cúng dường. Lúc bấy giờ không
thấy chép có nghi thức khai quang. Về sau này kinh sách Phật,
tranh tượng Phật, các pháp khí chùa chiền, bảo tháp đều
có ý nghĩa biểu tượng cho tính thường trụ của đức Phật
và Phật pháp. Nghi thức càng long trọng càng thu hút nhiều
người phấn khởi tín tâm. Vì vậy càng ngày càng có nhiều
nghi thức cúng dường, mà khai quang tượng Phật, Bồ Tát là
một trong những nghi thức đó. Các nhà chùa, tu viện hiện
nay, mỗi lần đặt tượng Phật, Bồ Tát mới đều có triệu
tập đông đảo tín đồ làm lễ khai quang, cũng tương tự
như lễ khai giảng năm học mới, khai mạc công ty hay cửa
hàng mới, khánh thành một công trình kiến trúc mới phải
tổ chức để công bố cho đông đảo quần chúng biết.
Còn
như đặt tượng, tranh Phật, Bồ Tát ở gia đình thì không
cần cử hành nghi thức khai quang làm gì, cũng không cần triệu
tập đông người đến chứng kiến. Chỉ cần có lòng thành
kính, đem tượng Phật Bồ Tát bố trí ở nơi thích đáng,
rồi ngày ngày cúng hương hoa quả trái, không ngày nào quên.
Lễ vật cúng dường phải đảm bảo thường xuyên tươi tốt
và mới, như vậy sẽ phát huy đầy đủ tác dụng của bàn
thờ Phật, Bồ Tát, đạo tâm của người cúng dường nhờ
vậy mà được tăng tiến.
Những
người thờ Phật tại gia khi lập bàn thờ Phật trước hết
phải nhờ người làm lễ khai quang các tượng Phật, Bồ Tát,
lại phải chọn ngày tốt, hương tốt. Đó cũng là do tín
ngưỡng dân gian hoặc phong tục dân gian. Theo quan điểm
"vào làng nào theo tục lệ làng ấy" mà nói thì tục
lệ đó cũng không có gì sai trái lắm, làm lễ khai quang là
để tỏ ý thận trọng, chọn ngày chọn hướng là để tỏ
ý cầu mong tốt lành. Nhưng theo quan điểm Phật giáo
thì chư Phật, Bồ Tát có ở khắp mọi nơi, không một chỗ
nào không ứng hiện. Tất cả mọi hướng đều có chư Phật
thập phương, Tam bảo thập phương, Long thiên hộ pháp.
Như vậy, đương nhiên là không hề có những vấn đề do
tín ngưỡng dân gian tưởng tượng ra. Chỉ cần chọn một
chỗ nào mình cho là tôn quí nhất, rồi với tình cảm thành
kính nhất và chọn một thời điểm thích đáng nhất để
đặt tượng thờ Phật là được.
V. Kết Luận:
Như
vậy, các tranh ảnh tôn tượng Phật Bồ Tát thỉnh về thì
đã có mắt rồi, đâu cần có ai " điểm nhãn ", mà " điểm
nhãn " để làm gì cơ chứ ?
Những
bức tượng vô tri vô giác thì làm thế nào mà linh được?
Nên vấn đề " Khai Quang Điểm Nhãn "là khai như thế nào?
Mà chúng ta phải khai cho ai? Khi mua (thỉnh) 1 bức tượng về
để thờ cúng, người ta thường nhờ 1 bậc chân tu " Khai
Quang Điểm Nhãn " cho người muốn thờ ảnh tượng
đó! Đây là lúc mà vị chân sư sẽ chỉ điểm cho hành
giả cách hành lễ thờ cúng, giữ giới luật, những
điều kiêng kỵ, sau cùng là " Phép Trấn Thần " nơi bức tượng
ấy không cho vong linh hỗn tạp tá nạp vào. Đó chính là Khai
Quang Điểm Nhãn cho người trần tục khi bước vào con
đường tu hành chứ chẳng phải Khai Quang Điểm Nhãn cho các
Đấng Thiêng Liêng (Vì Các Đấng này lúc nào cũng linh
hiển và biết rất rõ, và thấy rất rõ, chứ chẳng phải
đợi có người Khai Quang Điểm Nhãn thì mới thấy được
). Như vậy mục đích Khai Quang Điểm Nhãn chính là việc
khai thị cho người mới tập tu hành vậy. Thật vô
lý và nực cười làm sao! Khi mình là một con người trần
tục mà lại đi Khai Quang Điểm Nhãn cho Bậc Đại Giác và
Chư Tôn Bồ Tát cùng hàng Tiên Thánh? Chỉ có nhờ vào sức
mạnh của lòng tin và kiên trì tu tập thì Ảnh-Tượng đó
sẽ hiển linh do tư tưởng chân chính của chính hành giả
gia trì hằng ngày (Linh tại ngã, bất linh tại ngã).
Nghi
thức này do đâu mà có? Sỡ dĩ có chuyện Khai Quang hay An Vị
là vì người ta tin rằng nếu không làm lễ Khai Quang tức
là đưa Thần Lực của Phật an ngự vào tôn tượng thì có
những loài ma quỷ sẽ nhập vào đó để hưởng hương khói
và sự cúng dường, Và như vậy, chúng ta quỳ lạy tôn tượng
Phật Bồ Tát mà thực sự ra là quỳ lạy ma quỷ. Niềm tin
này xét về phương diện giáo lý của Đạo Phật là không
có cơ sở vì như vậy đã biến Đấng Giác Ngộ của
chúng ta thành 1 ông Thần! Chưa kể việc dùng Kính đàn có
phần nào giống với việc làm của những ông thầy cúng (
thầy phù thủy )! Nghi thức này, theo như chúng tôi thấy thì
không
phải là một Nghi thức chánh truyền, theo bộ phận
nghi lễ của Giáo Hội trước đây thì không hề có 1 văn
bản chính thức nào nói về Nghi lễ này cả. Khi tham bác một
số Chư Tôn Đức về vấn đề này thì các Ngài tỏ ra không
tán đồng, thậm chí còn xem Nghi lễ này là do các ông
thầy cúng bày ra để kiếm ăn! Nói thì nói như vậy,
thế nhưng có những chuyện " Xưa bày, nay làm ", nếu có Phật
tử thỉnh quý Ngài đến để An vị Phật thì quý Ngài cũng
sẽ đi, bởi vì " Phụng sự chúng sanh là phụng sự Chư
Phật ",nếu có chúng sanh nào cần có Nghi thức " An vị
Phật " mới có thể "an " được thì quý Ngài cũng giúp cho
họ được " an " vậy. Tùy duyên mà.
" Linh
thiêng ngàn mắt ngàn tay
Cũng
trong một điểm Linh Đài mà ra. "