c
THIỀN
CỦA LUẬT
Hòa
Thượng Kim Cang Tử
Tạp
Chí Nghiên Cứu Phật Học Số 6 /1992 (Hà Nội)
Người ta
thường coi giới thuộc về sự tướng. Vì giới luật chủ
trương sự phòng ngừa điều sai trái và uốn nắn tình hình
xảy ra mà thi hành cho đúng đắn nên phải bầy ra tỉ mỉ
mọi chi tiết xuất phát từ thân miệng (hai nghiệp) của người
ta gây nên rõ rệt, pháp đoán mọi lý lẽ để sửa chữa
cho được nghiêm chỉnh.
Phàm điều
gì đã bộc lộ hành vi phạm tội lỗi là đều do đầu mối
ở cái tâm (hay ý) bất chính và si mê mà ra.
Mỗi khi xử
đoán một điều gì về giới luật cho ai, cần phải xét cái
tâm người đó xem có phải cố ý hay vô tâm (cố tình hay
vô tình). Cố ý làm thì đúng là sai phạm, vô tâm thì kết
nhẹ hay vô tội.
Nhưvậy rõ
ràng: giới luật lấy tâm tư làm gốc. Nói về làm các điều
lành hay điều đúng giới luật, muốn được tinh vi cũng phải
xét ở cái tâm như thế.
Về Thanh
văn đạo giới luật của bảy chúng thụ trì gọi là “giới
tâm”- giới bản là tâm yếu của giới luật.
Mỗi khi người
nào trót phạm điều gì thì bậc thầy răn bảo:
“Tự trách
tâm ngươi, nên phải từ bỏ điều đó”.
Về Bồ Tát
đạo, các thứ giới pháp của Đại thừa đều gọi một
tên chung là “Tâm giới”, chủ yếu ngăn ngừa cái tà phi
từ lúc tâm niệm mới bắt đầu manh nha ra. Đây là đối
lại với Tiểu thừa. Giới của Tiều thừa nếu chỉ kể
theo hai nghiệp thân và miệng gây ra chính thì lại thường
gọi là “thân giới”.
Kinh Đại
thừa lăng nghiêm nói “Tiếp tâm là giới”.
Không tĩnh
tâm thì lỗi lầm hay mắc phải.
Tâm giới
lại thâm ý của luật Tứphận tôn sùng.
Ngài Nam sơn
luật sư đối với chế giáo (chế giáo là luật trạng Thính
giáo là Kinh tạng. Thính giáo cũng gọi là Hoá giáo nhưng nghĩa
có khác chút ít) lập ra hai thứ giới thâm phòng và phận
hạn. Phận hạn tức là tâm giới.
Giữa luật
và thiền có những danh từ : “thiền giới”, “thiền luật”
tương quan. Nghĩa là thiền định với giới pháp, thiền tông
với luật tông có liên quan mật thiết với nhau. Vì thiền
là tâm của Phật, luật là hạnh của Phật. Cho nên thiền
với luật đi sát với nhau. Trong luật pháp có đủ cả thiền
định tính.
Chiếu theo
tinh thần Tứ phận luật tông biểu thị về thiền pháp, ngài
Đạo Tuyên đã căn cứ vào tôn chỉ, mục đích của luật
về thiền, nêu lên phương hướng gọi là “Thường nhất
chi giáo”.
Đặc điểm
là điều trong luật dạy “Ưu nhất thiết thời thường nhỉ
nhất, tâm niệm trừ chư cái”. Nghĩa là: “lúc nào cũng
nhất tâm luôn chuyên niệm diệt trừ năm thứ che lấp”.
Ham muốn
: ham mê dục lạc bị che tâm tính.
Tức giận
: trái ý giận bực, bị che lấp tâm tính.
Hay ngủ
: mờ mịt lòng dạ, bị che lấp tâm tính.
Ngủ vừa
để đề nuôi mắt dưỡng thân thì là đúng, nếu ham ngủ
li bì vô điều độ thì là nết hư, chướng ngại đạo pháp.
Lời Phật
dạy: “Đừng vì ham ngủ mà bị thiệt mất lợi ích của
cả cuộc đời”.
Phải nghĩ
lửa vô thường đốt cháy thế gian, nên mau cầu độ thoát.
Bọn giặc
phiền não thường rình giết người quý hơn kẻ thù, sao cứ
mê mết không tỉnh táo ra? Rắn độc phiền não nó ngủ ở
trong tâm người; ví như có con rắn độc nằm lịm trong buồng
đem cái móc trì giới khử nó đi! Rắn ngủ ra rồi thì mình
mới nằm yên được, nếu cứ để nó đấy mà ngủ lấy
được, đó là người không biết tự thẹn.
Ngài Sa Môn
Thủ Toại chú thích, viện dẫn thêm:
Ngủ là
che lấp chân tính thêm lớn “vọng hoặc vô minh”). Trong
lúc ngủ mệt thân thể thô tháo không biết xấu hổ. Ngài
Tôn giả A na luật đà là con trai vua Bạch Phạn, em thúc bá
của Phật xuất gia vẫn cứ ham ngủ, Phật quở rằng:
Này này ngủ
chi gì lắm,
Như trai
hến ngao sò;
Giấc ngủ
chướng nghìn năm,
Không được
nghe hiệu Phật.
Nghe vậy
Tôn giả khóc lóc trách mình, suốt bảy ngày liền không ngủ,
bị hỏng đôi mắt thịt, nhưng lại được có thần thông
“Mắt đạo thiên nhỡn” soi khắp thế giới Đại thiên
rõ như nhìn trong lòng bàn tay; lại được chứng phép Tam muội
rất kỳ diệu (trích dịch trong Kinh Di giáo, tiết Hổ thẹn
thứ tư.
Trong kinh
Đại thừa thường nói:
“Chư Phật,
chư đại Bồ Tát trong giấc ngủ cũng vẫn làm Phật sự,
lợi ích vô lượng chúng sinh.”
Trạo hối:
não loạn không ngừng, bị che lấp tâm tính.
Nghi pháp:
ngờ vực giáo pháp, bị che lấp tâm tính.
Trừ bỏ
được năm điều trên thì tâm tính phẳng lặng sáng suốt
không bị huỷ phạm, dẫn tới đắc định phát tuệ mà thành
đạo vậy.
Có năm đoạn
kệ dạy răn như sau:
Kệ nói
và ham muốn:
Dục lạc
khi cầu khổ, được thì hay sợ hãi
Khi mất
lại não nùng, không có lúc nào vui.
Vạ dục
lạc như thế, sao lại không chịu bỏ.
Đắc mọi
thiền định lạc, không bị cái gì lừa.
Dục lạc
thật khó gỡ, lấy gì mà gỡ ra.
Chí có quán
“thực tướng” là không bị ràng buộc.
(Quán thực
tướng là quan sát mọi hành tướng trong thế gian, do thể
tính chân thực ứng hiện ra tất cả, không bị lầm lạc
theo đuổi những cái mà bị sa đoạ sinh tử luân hồi)
Như vậy
các pháp quán, hay diệt mọi lửa dục.
Như trận
mưa rào lớn dập tắt lửa cháy đồng.
Kệ nói
về tức giận:
Dù không
tội gieo vào không bị sự khiển trách.
Còn nên
sẵn lòng lành nữa là họ đã khổ.
Hãy xét
lão bệnh tử nào ai tránh khỏi đâu.
Nên khởi
lòng từ bi sao nỡ đối xử tệ.
Thường
đem lòng từ bi Định tâm tu thiền định.
Không nên
mang mối hận Mã não hại người ta.
Nếu muốn
diệt tức giận Nên suy nghĩ lòng thành.
Ở một
nơi tĩnh mịch Đẹp mọi sự não lòng
Kệ nói
về hay ngủ:
Lửa chết
đương đốt khắp thế gian
Không cầu
thoát khỏi còn ngủ yên.
Như người
bị trói giong đi chết.
Mất mạng
đến nơi ngủ được sao.
Ngủ là
mê nuội chỉ mơ màng,
Nó cướp
ánh sáng của người đó.
Màng ngủ
phủ lòng chẳng biết gì
Ham ngủ
mất nhiều công đức lợi.
Kệ nói
về trạo hối:
Trạo loạn
khó tiếp tâm
Như voi say
thả rổng.
Hối não
như trúng tên
Đâm sâu
không rút ra.
Điều đáng
kiêng thì làm
Đáng làm
lại không làm
Lửa áo
não đốt lòng
Sau phải
sa đường dữ
Người có
tội hay hối
Biết hối
rồi thì thôi.
Như vậy
tâm yên vui.
Đừng nên
vướng vấn mãi
Có hai thứ
hối tâm
Không làm
hay đã làm
Hối hận
như vậy mãi
Đó là hạng
người ngu.
Kệ nói
về nghi pháp:
Như người
giữa đường rẽ
Ngờ vực
cứ quanh co
Với “thực
tướng” mọi pháp
Ngờ vực
cũng như vậy.
Ngờ nên
không cần cầu
Thực tướng
của mọi pháp
Bởi si mê
sinh ngờ
Trong pháp
lành chẳng lành
Sinh tử
và Niết bàn
Quyết định
có thực pháp
Điều đó
chớ sinh ngờ.
Nếu sinh
lòng ngờ vực
Tử ngục
tự giam mình
Hươu bị
sư tử vồ.
Không thể
giải thoát được.
Năm đoạn
diệu kệ trên trích dịch trong bộ Đại Trí Độ luận quyển
thứ 17.
|