IX.
NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG VÀ SỰ VIÊN TỊCH CỦA PHÁP SƯ
Khi
dịch xong 600 quyển Đại Bát-nhã, Pháp sư cảm thấy cái chết
gần kề và quyết định không dịch thêm gì nữa. Ngài bảo
các môn đệ rằng sau khi Ngài viên tịch, đám táng nên cử
hành đơn giản, nhục thể của Ngài nên gói trong một chiếc
chiếu tre thô sơ và chôn vùi trong một góc núi xa xôi nào,
nhưng chớ gần chùa hay gần cung điện. Những môn đệ chủa
Ngài đều khóc trách Ngài đã ám chỉ sự chết chóc như thế
trong khi Ngài trông còn vẻ mạnh khỏe và đầy nhuệ khí.
Pháp sư chỉ trả lời rằng Ngài tự biết mình.
Vào
ngày 1-1 mùa xuân niên hiệu Lân Đức nguyên niên (năm 664 Tây
lịch) Pháp sư cố dịch bộ kinh Đại Bảo tích theo lời thỉnh
cầu của các môn đệ, nhưng khi vừa dịch được vài hàng,
Ngài buông bút, vì rõ Ngài sẽ chết trước khi hoàn tất dịch
phẩm. Ngài có ý định viếng thung lũng Lan Chi cùng những
nơi khác và đi chiêm bái lần cuối cùng 10 Koti (cu-chi: tượng
Phật). Sau khi đã đảnh lễ các đức Phật, Ngài trở lại
tu viện, đình chỉ việc phiên dịch và chuyên tâm vào việc
tu tập thiền quán.
Vào
ngày 8, một trong những đồ đệ của Ngài tên là Huyền Giác
nằm mộng thấy ngôi chùa cao lớn đồ sộ bị sập đổ.
Pháp sư nghe kể gíâc mộng này thì biết ngay đấy là điềm
báo Ngài sắp chết. Ba ngày sau, khi băng qua một cái hố Pháp
sư ngã quỵ và xương ống bị thương tích. Ngài bị ốm,
sức khỏe bắt đầu suy giảm.
Vào
ngày 16 và 17, ngài nằm thấy hai điềm chiêm bao: một hoa sen
lớn trắng mướt xuất hiện và hàng nghìn người đi đến
tu viện trong những cỗ xe, mang theo thức ăn và phẩm vật
cúng Ngài. Khi tỉnh dậy Ngài cảm thấy sung sướng và bảo
vị trụ trì Huệ Đức rằng những giấc mộng ấy chỉ rõ
luật nhân quả nhà Phật rất đúng đắn. Đoạn Pháp sư nhờ
tỳ kheo Gia Thương ghi tất cả các việc thiện mà Pháp sư
đã làm trong đời. Bảng liệt kê cho thấy Ngài đã dịch
74 bộ kinh và luận gồm 1.335 quyển. Ngài đã sơn phết tô
vẽ 1.000 bóng Phật, 1.000 tượng đức Di Lặc cùng với 1 triệu
tượng Phật. Ngài đã sao chép bộ Năng đoạn Kim Cang bát
nhà, bộ Dược sư, bộ Lục môn Đà-la-ni và vài bộ kinh khác,
mỗi bộ chép thành một ngàn quyển. Ngài đã cúng dường
cho hơn mười ngàn vị tăng và sinh vật. Ngài lắng nghe đọc
bảng liệt kê các việc thiện đã làm và chắp tay sung sướng.
Đoạn Ngài bảo tăng chúng nhóm họp lại trong phòng. Ngài
phân phát tất cả tăng phục của Ngài và cúng tiền để
làm thêm tượng Phật và mời tăng chúng dữ lễ. Vào ngày
23, Ngài cúng dường trai tăng cho tất cả tăng chúng. Vào ngày
ấy Ngài nhờ một điêu khắc gia tên là Tổng Pháp Trí tạc
một tượng Phật trong thế ngồi lúc đạt đạo để ở trong
tiền đường gia Thọ. Khi tạc xong tượng phật, Ngài từ
biệt tăng chúng và những người cộng sự với Ngài trong
việc phiên dịch, với một tâm trạng hân hoan, Ngài nói: "Nhục
thân độc địa này của Huyền Trang thật đáng nhàm chán.
Nay công việc đã xong, tôi quả không nên lưu lại ở đây
nữa. Tôi xin hồi hướng tất cả công đức và tri thức của
tôi cho tất cả chúng sanh, cầu mong tất cả chúng ta sẽ được
sinh lên cõi trời Đâu Suất theo học Bồ tát Di Lặc và phụng
sự Ngài. Khi đức Phật lại xuống trần, chúng ta cầu mong
sẽ được xuống lại cùng với Ngài để tiến hành Phật
sự cho đến khi chúng ta đạt được mục đích tối thượng."
Sau
khi nói lời từ biệt ấy, Pháp sư lại thiền định. Đoạn
Ngài tụng niệm những đoạn về lý chơn không, không của
ngũ uẩn, không của 18 giới, không của 12 nhân duyên trong
lý duyên khởi từ vô minh đến lão tử, không của sự chứng
ngộ và không của ngay cả cái không. Đoạn ngài đọc lên
một bài kệ tán Phật Di Lặc và lập nguyện được tái sinh
lên cõi trời Đâu Suất [Đạo gia gọi chỗ Thái Thượng
lão quân ở là Đâu Suất Thiên. (BT)]. Ngay lúc ấy hai biến
cố mầu nhiệm đã xảy ra. Vị trụ trì Huệ Đức nằm mộng
thấy một nghìn hình tượng từ phương Đông đi đến và
đi vào trong phòng phiên dịch, không khí tỏa đầy hương thơm.
Vào nửa đêm ngày 4 tháng 2 một vị sư điều dưỡng tên
là Minh Tạng mộng thấy hai người cao lớn chừng một trượng
cầm một hoa sen trắng lớn bằng bánh xe, đóa hoa có ba lớp
cành và một ngọn lá dài hơn 2 tấc tây rất tinh khiết đẹp
đẽ. Hai người đến gần Pháp sư và bảo rằng tất cả
nghiệp xấu Ngài đã làm đối với chúng sanh vô thỉ, nay
đã tiêu diệt nhờ cơn bệnh nhẹ ngài đang chịu đựng. Vậy
thì Ngài nên vui mừng về điều đó. Pháp sư chắp tay nhìn
họ một lúc lâu. Đoạn Ngài để tay phải chống lên má,
tay trái để trên về phía tả, duỗi chân ra chồng lên nhau
và nằm xuống phía hữu. Ngài sắp từ trần, Ngài không cử
động cũng không ăn uống gì.
Vào
nửa đêm ngày thứ năm, đồ đệ của Ngài là Phổ Quang và
những người khác đến hỏi: "Thầy có chắc được tái sinh
lên cõi trời Đâu Suất không?" Pháp sư trả lời: "Chắc chắn
như vậy." Nói xong, hơi thở Ngài yếu dần và Ngài tịch một
cách bình an, đến ngay những người hầu cận cũng không biết.
Sau khi Ngài mất, nhục thể bắt đầu lạnh từ chân lên đến
đỉnh. Đầu Ngài còn nóng một lúc lâu. Da của Ngài vẫn
không đổi và nhục thân không thoát ra mùi gì khó chịu.
Tin
Pháp sư từ trần được chuyển đến Hoàng đế do viên quan
lại sứ ở Phương Châu tên là Đâu Sư Luân. Khi nhận được
tin buồn này, Hoàng đế vô cùng bi ai, Ngài ngừng buổi thiết
triều và phán: "Trẫm đã mất một quốc bảo."
Trong
lúc ấy tất cả những viên chức quân sự cũng như dân sự
không ngăn nổi sự khóc thương và Hoàng đế phán: "Trẫm
tiếc thương quá không thể nào tự kềm chế được."
Ngày
hôm sau, Hoàng đế lại phán với đình thần: "Thật vô cùng
đáng tiếc cho trẫm và quốc dân đã mất đi Pháp sư Huyền
Trang. Chẳng khác nào như rường cột ngôi Tăng bảo đã sụp
đổ và nay chúng sanh đã mất đi người hướng dẫn. Chẳng
khác nào con thuyền đã chìm trong bể khổ mênh mông, một
ngọn đèn đã tắt đi trong phòng đầy bóng tối."
Nói
xong nhà vua thở dài não nuột.
Vào
ngày 26 cùng tháng ấy Hoàng Đế ra một chiếu chỉ: "Theo lời
báo của Đâu Sư Luân, Pháp sư Huyền Trang chùa Ngọc Hoa đã
viên tịch. Tất cả phí tổn tống táng sẽ do triều đình
đài thọ.'
Vào
ngày 6 tháng 3 lại ban một chiếu chỉ khác: "Pháp sư Huyền
Trang đã viên tịch. Việc phiên dịch kinh sách phải đình
chỉ. Những bản kinh đã dịch sẽ cử những viên chức sao
chép lại như đã làm trước kia. Những bản kinh chưa dịch
phải được lưu trữ tại chùa Từ Ân không được làm hư
hại hay mất mát. Những đồ đệ và người cộng sự với
Pháp sư trong việc phiên dịch, ai không thuộc vào tu viện
thì được phép trở về chùa riêng."
Vào
ngày 15 tháng 3, lại ra một chiếu chỉ khác như sau: "Vào ngày
tống táng cố Pháp sư Huyền Trang ở chùa Ngọc Hoa, những
tăng ni ở thủ đô sẽ đựơc phép mang cờ lọng và đưa
linh cữu đến nghĩa trang."
Những
đồ đệ theo lời di chúc của Ngài đã làm một cái hòm bằng
tre mang nhục thể của thầy đến đặt trong gian phòng phiên
dịch ở chùa Từ Ân. Hàng trăm đồ đệ của Ngài khóc thương
thảm thiết và dân chúng trong thủ đô vừa xuất gia vừa
cư sĩ tụ tập lại chùa để đảnh lễ lần cuối cùng.
Vào
ngày 14-4, lễ tống táng được cử hành. Những tăng ni trong
thủ đô cùng với dân chúng mang năm trăm cờ lọng, tràng
phan bảo cái, một áo quan bằng vàng, một cái hòm bạc, và
những cây sa-la, tất cả được trưng bày dọc đường cái
để dự đám rước. Nhạc điếu tang được cử hành không
ngớt và không gian đầy những tiếng khóc bi thảm. Dân chúng
thủ đô và những người xung quanh cách 500 lý ước có hơn
một trăm ngàn đến đưa linh cữu. Mặc dù lễ tống táng
được chuẩn bị rất tráng lệ, quan tài của Pháp sư cũng
vẫn được mang đi trong một áo quan bằng tre theo lời ước
nguyện cuối cùng của Ngài. Những người bán lụa ở phía
Đông đã làm một cái áo quan niết bàn bằng ba ngàn cuộn
và kết hoa đẹp đẽ để đặt quan tài của Pháp sư trên
ấy, nhưng đồ đệ của Ngài không dùng đến vì sợ đi trái
với di chúc. Họ đặt ba bộ tăng phục của Pháp sư và một
bộ khác đáng giá một trăm đồng tiền vàng do triều đình
cúng lên trên áo quan lộng lẫy kia trong khi quan tài của Pháp
theo sau và được đặt trên áo quan bằng tre bện. Những người
chứng kiến đám rước ấy không cầm đươc nước mắt. Đêm
ấy hơn ba chục ngàn người ở lại nơi nghĩa địa.
Vào
ngày thứ 15 sau khi tống táng, một buổi lễ được cử hành
ở nghĩa địa trước khi mọi người ra về. Lúc ấy, trời
và đất đổi sắc, chim muông kêu tiếng bi ai. Cả muông thú
cũng còn động lòng huống nữa là người !
Chúng
thương khóc vì con thuyền từ đã chìm trong khi bể dục vọng
vẫn còn tràn ngập, ánh sáng trí tuệ đã tắt trong khi đêm
vô tận chìm trong bóng tối.
-
[HẾT]-
Đọc
Thêm:
Ðường
Tăng Thỉnh Kinh