VIII.
HUYỀN TRANG, NHÀ THẦN BÍ
Chúng
ta đã thấy Pháp sư là một học giả, một giảng sư, một
nhà hùng biện, một dịch giả và một tác giả. Sự học
rộng tài cao khiến Ngài thành một vị trí thức khổng lồ
giữa những người đồng thời. Nhưng điều kỳ lạ là ở
nơi Ngài có một tâm tư thần bí sâu đậm, một lòng tin nồng
nhiệt gần như cuồng tín, vượt ngoài mọi tưởng tượng.
Trong suốt đời sống của Ngài, chúng ta chứng kiến một
sự hỗ tương tác động giữa cầu khẩn, bói toán, thần
thông và mộng mị đến nỗi mọi sự kiện quan trọng trong
đời Ngài hình như được quyết định, không phải bởi những
suy nghĩ đắn đo dựa trên thực tại, mà chính bởi một vài
sức mạnh huyền bí mà Pháp sư hoàn toàn tin tưởng.
1.
Lòng tin nồng nhiệt
Lòng
tin nồng nhiệt của Pháp sư thật kỳ lạ và vô song. Trong
khi Ngài đi chiêm bái, lúc đến một tháp hay Phật tích nào
được xem là có tàng trữ xá lợi Phật, Pháp sư không bao
giờ quên đến chiêm ngưỡng và đảnh lễ một cách thành
tín.
Khi
Pháp sư đến xứ Nagarahara, Ngài đảnh lễ và đi nhiễu xung
quanh tháp do vua A-Dục lập lên tại chỗ Bồ tát Thích Ca trải
áo bằng da nai và tóc trên bùn để đức Phật Nhiên Đăng
bước qua. Một khi Pháp sư đến thành Phật Đảnh Cốt, Pháp
sư cho nghiền một ít hương bột thơm để in dấu sọ của
đức Phật và Ngài được hình ảnh một cây Bồ đề. Cũng
tại thành này, Pháp sư đảnh lễ mắt của Đức Phật. Y
Tăng già lê của đức Thế Tôn làm bằng vải rất mịn, tích
trượng với những vòng tròn bằng sắc trắng và cán bằng
gỗ trầm hương. Pháp sư cũng có cúng 50 đồng tiền vàng,
một ngàn đồng tiền bạc, bốn tràng phan [Lá cờ (BT)]
rất đẹp, hai cuộn lụa và hai bộ y.
Pháp
sư tự đi một mình đến thành phố Dipankara để đến thăm
động đá, tại đây đức Như Lai đã điều phục được
con rắn thần và để lại hình bóng của Ngài. Trên con đuờng
đi, Pháp sư gặp năm tên tướng cướp. Những tên này bị
nhiếp phục bởi tín tâm và tánh vô úy của Ngài nên cũng
đi theo để được chiêm bái bóng của đức Phật. Pháp sư
đi vào động đá một mình, mò đường khoảng năm mươi bước
và chạm vào bức tường phía đông, Ngài đứng lại, và với
một lòng chí thành, Ngài lễ hơn trăm lạy. Khi không thấy
gì hiện ra Ngài tự trách những bất tịnh nghiệp trong quá
khứ và khóc than ảo não. Đoạn Ngài thành khẩn tụng những
bài kệ tán Phật trong kinh Srimàla-devi-simhanada (Thắng Man)
và những kinh khác. Trong khi tụng, Ngài quỳ lạy và lạy đến
lần thứ 100 thì có một ánh sáng lớn bằng bát ăn hiện
ra trên tường rồi biến mất. Hình ảnh ấy khuyến khích
Pháp sư, và Ngài lễ thêm 200 lạy. Khi ấy cả động bừng
sáng và bóng Như Lai hiện rõ rệt, nhưng tòa sen không rõ lắm.
Bóng của các vị Bồ tát, La hán hầu quanh Phật cũng thấy
rõ. Trong số 6 người Ngài gọi vào xem bóng Phật, chỉ có
5 người thấy được. Bóng hiện ra rõ ràng chừng nửa thời
gian một bữa ăn, và biến mất sau khi Pháp sư cùng những
người khác đã chiêm bái dâng hương hoa. Người Bà-la-môn
dẫn đường vô cùng hân hoan bảo rằng bóng ấy chỉ hiện
bởi vì lòng tận tụy và ý định kiên trì của Pháp sư.
Pháp
sư rất tin tưởng vào thần lực của Quan Thế Âm Bồ tát
và Ngài chẳng bao giờ quên đảnh lễ mỗi khi đến gần một
hình tượng nào của Bồ tát. Trên đường đến Hiranyaparvata
(Hê-lô-sơn) Ngài đến chùa Kapota (Ca-bố-đức) trong ấy có
một tượng Bồ tát Quan Âm bằng gỗ. Những hương hoa cúng
dường đều được tung đến từ xa và người ta xem là điềm
lành nếu hoa đậu trên tay hay treo trên cánh tay tượng. Pháp
sư mang đến nhiều hoa và làm thành vài tràng. Ngài đến gần
tượng và thành tâm tụng niệm. Đoạn Ngài quỳ xuống khấn
nguyện như sau:
"Xin
cho hoa đậu trên tay Ngài nếu con được trở về Trung Quốc
bình an sau khi du học xong, xin cho hoa treo trên cánh tay Ngài
nếu con được tái sinh trên cõi trời Đâu Suất và phụng
sự Di Lặc Bồ tát nhờ công đức đã làm, xin cho những vòng
hoa sẽ đậu ở cổ nếu con có Phật tánh và sẽ thành Phật
trong tương lai."
Khấn
xong, Ngài tung hoa vào tượng và tất cả hoa đều đậu ở
ba nơi mà Ngài mong ước. Pháp sư xem đấy là điềm tốt và
những người có mặt ở đây đều ngạc nhiên trước hiện
tượng xảy ra.
2.
Tin vào sự cầu nguyện
Với
một tâm hồn chí thành như thế, thật không lạ khi Pháp sư
phần nhiều đều nương vào nguyện lực lúc gặp gian nguy.
Khi
Pháp sư đến Lưỡng Châu, Ngài phải đương đầu với một
hoàn cảnh rủi ro. Hai người đồng hành của Ngài, Đạo Chỉnh
và Huệ Lâm đã bỏ trốn vì sợ hành trình vất vả. Ngài
rất cần một người hướng đạo để đưa qua ải Ngọc
Môn. Bởi thế Pháp sư cầu nguyện trước tượng Đức Phật
Di Lặc trong ngôi chùa Ngài đang trú, để xin một người dẫn
đường. Lời cầu của Ngài được ứng nghiệm, và một người
lạ mặt đã xuất hiện, tình nguyện làm hướng dẫn viên.
Khi
Pháp sư đang ngủ sau khi qua sông Hu-lee, người dẫn đường
bỗng nhiên sấn tới Ngài, tay cầm kiếm tuốt trần. Pháp
sư ngồi dậy, tụng kinh và niệm danh hiệu Quan Âm Bồ tát,
sự cầu nguyện đã cứu Ngài thoát khỏi tên sát nhân.
Khi
Pháp sư ở Trung Quốc, một người bệnh Ngài săn sóc đã
dạy Ngài Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm kinh. Khi qua sa mạc Mạc-hạ-diên,
Ngài thường bị ma quỷ bao vây phá phách không ngừng, ngay
cả khi Ngài niệm danh hiệu Bồ tát Quan Âm. Nhưng chúng biến
vào không trung tức khắc khi Ngài đọc thần chú này.
Khi
ngã quỵ trên cát ở sa mạc Mạc-hạ-diên, thần chết như
lẩn khuất quanh Ngài. Mặc dù trong tình trạng tuyệt vọng,
Pháp sư vẫn cầu cứu lòng từ bi của Quan Âm Bồ tát và
cầu nguyện không dứt. Vào ngày thứ năm một cơn gió mát
thổi đến và Ngài thoát chết.
Khi
chạm trán kẻ cường đạo lần thứ ba, Pháp sư bị dẫn
đến một bàn thờ để thiêu sống tế thần Durga. Ngài van
xin bọn cướp tha mạng, nhưng vô hiệu. Đoạn Pháp sư tập
trung hết tư tưởng vào Di Lặc Bồ tát. Sức thiền định
sâu xa đến độ Ngài cảm thấy như đã được đưa đến
trời Đâu Suất và chiêm ngưỡng chính tôn dung Bồ tát Di
Lặc. Lúc ấy, một trận hắc cuồng phong bỗng nổi lên làm
bọn cướp kinh hoàng, chúng phải phóng thích Pháp sư và xin
Ngài tha tội. Thiên nhiên dường như đã hợp tác cùng những
thần linh để cứu Pháp sư thoát nạn.
3.
Vai trò của sự tiên đoán và phép mầu
Một
cuộc đời phi thường như thế và một niềm tin vững mạnh
vào nguyện lực đã xui khiến những lời tiên đoán và phép
mầu hiển hiện. Cuộc đời của Pháp sư đã chứng kiến
nhiều biểu tượng của lãnh vực vô hình.
Khi
sắp sửa cuộc Tây du chiêm bái, Ngài hỏi một phù thủy tên
Hà Hoằng Đạt thường nổi tiếng là có tài tiên đoán chính
xác, để biết về cuộc hành trình sắp đến của Ngài. Vị
phù thủy bảo Pháp sư có thể tiến hành cuộc hành trình
sắp đến của Ngài. Vị phù thủy bảo Pháp sư có tiến hành
cuộc Tây du phải cỡi một con ngựa gầy, già, mầu hung đỏ,
và sẽ có mảnh sắc hơi đỏ trước yên. Khi Pháp sư sắp
qua ải Ngọc Môn, có người xin đổi con ngựa của Ngài bằng
một con ngựa già gầy. Ban đầu Pháp sư không chịu vì ngựa
của Ngài trẻ mạnh hơn. Nhưng Ngài sực nhớ đến lời tiên
đoán của người phù thủy. Con ngựa già mang những dấu hiệu
như ông ta đã tả, vì vậy Pháp sư đổi con ngựa Ngài lấy
con ngựa ông già. Và con ngựa gầy mầu hung đỏ ấy không
những đã đưa Pháp sư qua sa mạc Mạc-hạ-diên mà còn cứu
sống Ngài bằng cách tìm và nhờ bản năng của nó, một đồng
cỏ xanh tốt ra một hồ nước ngọt. Khi Pháp sư hoàn tất
việc học ở Ấn Độ, Ngài hoang mang không biết nên trở
về Trung Hoa hay nên ở lại đất Ấn. Lúc ấy, một người
theo học phái Ni-kiền-đà tên là Kim Cương (Phạt-xà-la) đến
thăm Pháp sư và vì những người này nổi tiếng bói rất
hay, Pháp sư yêu cầu ông ta bói thử Ngài có thể về đến
đất Trung Hoa an ổn không, và điều gì Ngài nên làm hơn,
ở lại Ấn hay nên về Trung Hoa, và Ngài còn sống được
bao lâu nữa? Người tướng số xin mảnh đá trắng rồi gạch
vài hàng trên mặt đất để đoán. Đoạn ông ta bảo Pháp
sư rằng Ngài nên ở lại Ấn vì Ngài sẽ được mọi người
cả xuất gia lẫn cư sĩ của năm xứ Ấn Độ trọng đãi
nể vì. Về việc thọ yểu Pháp sư sẽ sống thêm mười năm
nữa, nhưng nếu nhờ làm nhiều công đức thì ông ta không
thể đoán Pháp sư sẽ sống thêm bao lâu. Khi Pháp sư tỏ vẻ
lo vì phải mang thêm một số lớn kinh tượng, thì thầy tướng
số khuyên chớ lo vì vua Giới Nhật và Cưu Ma La sẽ cho người
hộ vệ Ngài về nước an ổn. Lúc bấy giờ Pháp sư chưa
gặp hai vị vua ấy, nhưng những biến cố về sau chứng tỏ
lời tiên đoán rất chính xác.
Khi
về đến Trung Hoa, Ngài được Hoàng đế và dân chúng đón
rước linh đình nồng hậu. Một đám rước trọng thể được
tổ chức để cung nghinh những kinh tượng và xá lợi Phật
do Pháp sư mang về từ đường Châu Tước đến chùa Hoằng
Phuớc. Hàng ngàn dân chúng đứng dọc hai bên đường đốt
hương để chào mừng đám rước. Vào ngày ấy, một đám
mây ngũ sắc xuất hiện về phía bắc mặt trời và bay vòng
quanh trong một chu vi nhiều lý ở trên kinh và tượng Phật
như để chúc mừng. Đám mây biến mất khi đám rước đến
chùa Hoằng Phước. Lại một điềm khác lạ lùng nếu không
phải là kỳ bí đã xảy ra khi Pháp sư dịch xong bộ Đại
Bát-nhã Ba-la-mật-đa kinh. Khi dịch xong sáu trăm quyển kinh
này, Pháp sư rất đỗi vui mừng và Tịch Chiếu, vị Duy-na
[người giữ phép tắc trong chùa (BT)] ở Ngọc Hoa đã
tổ chức một buổi tiệc lớn để mừng kỳ công ấy. Khi
bộ kinh được cung nghinh trong đám rước, có một hào quang
kỳ diệu phát ra từ bộ kinh và chiếu sáng, đồng thời một
mùi hương lạ tỏa khắp không gian. Pháp sư rất vui mừng
trước hiện tượng này và đoán rằng kinh sẽ được các
vị vua, đình thần và quần chúng Phật tử che chở giữ gìn.
Cái
chết của Pháp sư đã được báo trước bằng nhiều điềm
lạ. Vào nửa đêm khi Pháp sư từ trần, Tỳ kheo Minh Huệ
đang đi kinh hành quanh điện Phật. Ông thấy bốn cầu vồng
trắng bắc ngang từ bắc đến nam và ngay trên nóc chùa Từ
Ân trong đó Pháp sư viên tịch. Trong buổi sáng ngày thứ chín,
những tin báo Pháp sư viên tịch đến kinh đô và ngày giờ
viên tịch của Ngài trùng hợp với đêm mà những ráng trời
đã xuất hiện. Tất cả những người biết đến hiện tượng
này đều ngạc nhiên kinh dị trước điềm lạ đã xảy ra.
4.
Những giấc chiêm bao trong đời Huyền Trang
Trong
đời Pháp sư, những giấc mộng đã đóng vai trò rất linh
động và quyết định, và tất cả những biến cố trong đời
Ngài đều được báo trước bằng những giấc mộng hoặc
dấu hiệu nào đó. Pháp sư rất có linh tính về những dấu
hiệu ấy, không bao giờ quên hướng dẫn hoạt động tương
lai của mình cho phù hợp với ngôn ngữ huyền bí của giấc
mộng.
Khi
Pháp sư ra đời, mẹ Ngài chiêm bao thấy Ngài mặc sắc phục
trắng đi về hướng tây. Bà hỏi Ngài: Ngươi là con ta, ngươi
muốn đi đâu?" Pháp sư trả lời: "Con đang đi tìmchánh pháp."
Như
thế cuộc hành hương của Pháp sư sang Tây vức đã được
tiên đoán ngay khi Ngài mới ra đời.
Vào
tháng Tám niên hiệu Trinh Quán thứ ba (629 Tây lịch), khi sẵn
sàng lên đường chiêm bái, Ngài cầu nguyện xin một điềm
lành. Đêm ấy, Ngài nằm mơ thấy đang leo ngọn núi Tu Di làm
bằng bốn thứ ngọc quý và ở ngay chính giữa biển. Sóng
triều lên rất cao, không thấy một con thuyền nào cả. Bỗng
chốc những hoa sen bằng đá nổi lên trên sóng và đưa Ngài
lên đến chân núi. Ở đấy những mỏm đá cheo leo quá đến
nỗi Ngài không tài nào leo lên được. Bỗng nhiên một cơn
gió nổi lên mang Ngài đến đỉnh núi. Với một điềm lành
như thế, Pháp sư lên đường chiêm bái.
Khi
đến Linh Châu, Ngài lo ngại vì không thể qua ải Ngọc Môn
mà khôngcó bạn đồng hành và người hướng đạo. Đêm ấy
một vị Tỳ kheo lạ cùng ở trong chùa ấy nằm mơ thấy Pháp
sư đi về phương tây ngồi trên một hoa sen. Ông kể lại
việc ấy và Pháp sư rất sung sướng vì giấc mộng đã tiên
đoán sự thành công của chuyến tây du.
Khi
qua sa mạc Mạc-hạ-diên, Ngài quá kiệt sức phải ngã quỵ
gần bất tỉnh vì đã bốn đêm không uống một giọt nước
nào. Vào nửa đêm ngày thứ năm, một ngọn gió mát thổi
đến làm Ngài lai tỉnh. Ngài mở mắt nhưng lại gục ngay
vì sức đã quá yếu. Trong giấc ngủ Ngài thấy một vị thần
khổng lồ giục Ngài tiến lên thay vì nằm ngủ ở đấy.
Pháp sư tỉnh dậy tiếp tục cuộc hành trình.
Khi
đến xứ Ca-thấp-di-la, Ngài ở lại ban đêm trong ngôi chùa
Hộ-sắc-ca-la. Đêm ấy tất cả tăng chúng đều chiêm bao
thấy có một vị thần đến báo tin sẽ có một vị tăng
từ Ma-ha-chi-na đến, và giục họ chớ ngủ một cách biếng
nhác mà phải suy tư thiền quán, bởi vì nhiều thiên thần
hộ vệ. Pháp sư cũng đang ở trong chùa. Nghe lời ấy toàn
thể tăng chúng đều thức dậy siêng năng tụng kinh điển.
Vào lúc bình minh họ kể lại giấc chiêm bao cho Pháp sư và
tỏ lòng kính trọng vô biên đối với Ngài.
Lại
nữa, việc Pháp sư đến Nalanda đã được tiên đoán ba năm
trước đó trong một giấc mộng của Ngài Giới Hiền. Khi
Pháp sư gặp Ngài Giới Hiền lần đầu tiên, Giới Hiền đã
hỏi Pháp sư từ đâu đến. Pháp sư trả lời rằng Ngài từ
Trung Quốc đến để học Du già Sư địa luận với Pháp sư
Giới Hiền. Giới Hiền khóc và bảo đồ đệ là Buddhabhadra
(Phật-đà bạt-đà-la) kể lại cơn bệnh của Ngài: ba năm
về trước Ngài Giới Hiền bị tê thấp đã 20 năm; trong ba
năm cuối, ngài không thể chịu đựng được nữa và muốn
tự vẫn bằng cách tuyệt thực. Một đêm kia Ngài nằm mộng
thấy ba vị thiên thần đẹp đẽ quang minh hiện đến trước
mặt Ngài, một vị có sắc vàng chói, một vị có sắc lục
và một vị bạch kim. Ba vị bảo Giới Hiền Pháp sư chớ
tự vẫn và khuyên Ngài hãy truyền bá chánh pháp, giảng Du-già
Sư-địa-luận và những kinh sách khác. Họ bảo Ngài hãy đợi
một vị sư Trung Hoa rất mong mỏi học chánh pháp và hãy dạy
cho vị sư ấy. Giới Hiền hứa sẽ theo lời khuyên của họ.
Đoạn ba vị Bồ tát biến mất và từ đó Ngài Giới Hiền
không còn đau nữa. Vì thời gian mà Pháp sư dùng để đến
Nàlandà phù hợp với lời bảo trong giấc mộng, nên Giới
Hiền đãi Pháp sư vô cùng cung kính và chuyên cần dạy giáo
pháp cho Ngài. Lại một giấc mộng khác cho ta thấy rõ ràng
tất cả những đi lại của Pháp sư đều đã được tiền
định. Khi trở về Nàlandà, Ngài yêu cầu Pháp sư Giới Hiền
giảng Du-già Sư-địa-luận cho Ngài và những người khác.
Buối thuyết pháp vừa bắt đầu thì một người Bà-la-môn
đến tu viện vừa cười vừa khóc. Khi hỏi vì sao lại làm
thế, ông ta trả lời rằng ông ta là một người dân xứ
Đông Ấn. Một ngày kia ông ta cầu nguyện trước tượng Quan
Âm Bồ tát trên núi Potalaka để xin được tái sinh làm một
vì vua. Bồ tát hiện ra trước ông và trách cứ ông về lòng
ham muốn để trở thành vua. Bồ tát khuyên ông hãy đi nghe
những buổi thuyết pháp của Giới Hiền Pháp sư giảng về
Du già Sư địa luận cho một vị sư Trung Hoa để ông có thể
thấy Phật. Bây giờ ông đã thấy Pháp sư nên biết rằng
giấc mộng đã thành sự thật. Bởi thế ông ta vừa ngạc
nhiên vừa sung sướng.
Đến
đây, chúng ta chỉ mới nói đến những giấc mộng báo hiệu
sự có mặt của Pháp sư trước khi Ngài đến thật, nhưng
một đôi khi giấc mộng cũng gợi cho Pháp sư nên hành động
như thế nào trong tương lai. Khi Pháp sư học xong, Ngài còn
phân vân chưa quyết định nên trở về nước hay ở lại
đất Ấn. Một đêm kia Ngài nằm mộng thấy chùa Nàlandà
bị hoang vắng, dơ bẩn, có một vài con trâu đi quanh quẩn
trong khu vực chùa. Ngài thấy ở tầng gác thứ tư một bức
tượng vàng có hào quang chiếu sáng cả gian phòng. Pháp sư
muốn đi lên đấy nhưng bị tượng ấy cản trở bảo rằng
ông là Văn Thù Bồ tát và Pháp sư không thể lên được vì
nghiệp lực nặng nề. Đoạn Bồ tát chỉ ra ngoài chùa, Pháp
sư nhìn theo thì thấy tất cả các khu làng và thành thị ở
ngoài tu viện đều bốc cháy. Tượng vàng khuyên Ngài nên
trở về Trung Quốc vì sau khi vua Giới Nhật băng hà, Ấn Độ
sẽ lâm vào nạn đói kém bất an và những người tâm địa
xấu có thể hại Ngài. Pháp sư hiểu được điềm báo và
lời khuyên trong giấc mộng ấy nên Ngài quyết định trở
về.
Khi
Ngài trở về Trung Quốc, những giấc mộng vẫn còn biểu
hiện để khuyên Ngài đi theo những phương thức hành động
tốt đẹp nhất. Vào ngày 1 tháng Giêng mùa Xuân năm thứ năm
(660 Tây lịch), Ngài khởi dịch bộ Đại Bát-nhã. Công việc
này quá vĩ đại đến nỗi Pháp sư suýt theo lời khuyên các
đồ đệ, dịch tóm tắt lại như Ngài Cưu-ma-la-thập đã
làm, bỏ đi những đoạn lập lại và những đoạn vô vị.
Nhưng đêm đến Ngài nằm mộng thấy bị thú dữ vây trong
khi đang cố leo một đỉnh núi hiểm trở. Ngài cố thoát khỏi
nanh vuốt của những con thú dữ. Pháp sư cho đó là điềm
báo không được dịch kinh vắn tắt lại. Bởi thế Ngài quyết
định dịch toàn bộ kinh y như nguyên bản Phạn ngữ, không
tóm tắt. Ngay đêm ấy nhiều đức Phật và Bồ tát hiện
ra trước mặt Ngài trong giấc mộng. Chư vị ấy tỏa hào
quang từ lông mày chiếu sáng cả người Ngài và Ngài cảm
thấy vô cùng dễ chịu hân hoan. Pháp sư cũng nằm mộng thấy
rằng Ngài dâng hoa và đèn cho chư Phật, giảng pháp cho dân
chúng và được họ tán thán ca ngợi, cúng dường hoa trái
thơm ngọt. Pháp sư tỉnh dậy sung sướng và quyết định
dịch toàn bộ Đại Bát nhã.
Sự
viên tịch của Pháp sư cũng được báo trước bằng những
giấc chiêm bao đầy ý nghĩa. Vào ngày 8-1 mùa Xuân niên hiệu
Lân Đức (664 Tây lịch), đồ đệ của Ngài là Huyền Giác,
một vị sư ở Cao Xương nằm mộng thấy một ngôi chùa cao
lớn vĩ đại bỗng nhiên sụp đổ. Pháp sư khi nghe về giấc
mộng hiểu ngay rằng ấy là điềm mình sắp chết. Vào ngày
16, Ngài thấy một đóa sen trắng rất lớn tinh khiết và đẹp
đẽ hiện ra trước mắt. Vào ngày 17, Ngài nằm mộng thấy
hàng trăm ngàn người cao lớn mặc lụa là đi đến trang hoàng
phòng ngủ và tu viện của Ngài bằng những gấm vóc, hoa và
châu ngọc.
Âm
nhạc trỗi lên trong không gian. Những đồi núi và rừng ở
sau tu viện được trang hoàng bằng cờ ngũ sắc và lọng.
Nhiều xe quý chở đầy thức ăn mỹ vị và trái ngon ngọt
dừng lại trước cổng tu viện. Tất cả thức ăn ấy được
mang đến cúng dường Pháp sư. Mặc dầu Ngài từ chối, phẩm
vật được đưa đến dâng cúng không ngừng. Khi tỉnh dậy,
Ngài cảm thấy rất sảng khoái và bảo thầy trụ trì Huệ
Đức của tu viện rằng tất cả hành động tốt đẹp trong
đời Ngài đã không phải là vô hiệu quả, như vậy chứng
tỏ rằng luật nhân quả của Phật giáo không sai. Vị trụ
trì cũng nằm mộng thấy rằng 1.000 vị thần sắc vàng đến
tu viện từ hướng Đông với nhiều hoa thơm rải khắp không
trung.
Ngày
Pháp sư ra đời, những giấc mơ đã báo trước sứ mạng
của Ngài ở trong đời và sự thành công mỹ mãn. Bây giờ,
lúc lâm chung, những giấc mơ lại hiện ra để báo trước
ngài sắp từ trần.
Sự
thần bí rõ rệt này trong đời Pháp sư đã khiến nhiều học
giả phê bình. S.J. Barthelemy Saint Hilaire chẳng hạn, trong cuốn
sách nhan đề là "Huyền Trang ở Ấn" viết: "Nhưng về sự
sùng bái và những giáo phái khác nhau, Pháp sư thường cho
nhiều chi tiết làm cho chúng ta rất chú ý, mặc dầu sự ngây
ngô của chúng một đôi khi có thể làm cho ta khinh thường."
Nói
về Huyền Trang đến viếng đô thị Phật Đảnh Cốt, và
việc Ngài đã xay bột hương để in hình xương sọ Phật,
Saint Hilaire có những nhận xét sau đây: "Chúng ta có thể giả
thuyết rằng trong cuộc phiêu lưu đầu tiên này, Huyền Trang
đã bị một vố lừa bịp nào đó, nhưng hành động sau thì
lại càng phức tạp và phi thường hơn."
Và
khi Saint Hilaire kể xong chuyện Huyền Trang đến viếng bóng
đức Phật, ông ta không khỏi thêm những giòng sau đây: "Về
tất cả những sự hiển hiện ấy, nhà chêm bái một lần
nữa lại bị một tên bịp bợm nào đó lường gạt, và có
lẽ chính ông đã tự đánh lừa mình...."
Điều
phê phán này theo tôi nghĩ dường như rất bất công đối
với Pháp sư và đã tỏ ra thiếu đi sâu vào nhân cách cùng
tâm lý của Ngài.
Trước
hết, Pháp sư sẵn có một lòng tin tiềm tàng ở tính bản
thiện và chất phác của con người, nếu không, Ngài không
bao giờ mơ đến một cuộc hành trình chiêm bái phiêu lưu
như thế. Bởi vì, nếu có một nghi ngờ nào ẩn náu trong
tâm tư, Ngài sẽ bị hoài nghi và bất an vây phủ, như thế
sẽ nguy hại đến lòng nhiệt thành và nghị lực của Ngài.
Hơn nữa với lòng tin tưởng ở bản tính thiện của loài
người, Huyền Trang không bao giờ gán cho một người nào Ngài
gặp là có động lực xấu xa. Kẻ cướp, kẻ lừa bịp bất
lương trước mắt Ngài cũng chỉ là người, và đã là người
thì họ không thể bị ngược đãi như là những tội nhân.
Trên đường đi đến đãnh lễ bóng của đức Phật, Pháp
sư đã bị những tên cướp lại gần hỏi Ngài có sợ chúng
không, Pháp sư đáp: "Kẻ cướp cũng là người vậy. Nay vì
đi chiêm bái Phật dù có thú dữ đầy đường ta cũng không
sợ, huống nữa là các người, hỡi các môn đồ vì các ngươi
rốt cuộc cũng chỉ là người." Một tư cách như thế sẽ
làm cho chúng ta kính phục hơn là khinh thị.
Chúng
ta cũng nên hiểu rằng ta không thể phê phán một thiên tài
như Huyền Trang với khả năng hạn hữu của chúng ta. Người
ta có lừa bịp và dối trá đối với Ngài, nhưng không có
hiệu quả. Trái lại sự chân thành, nghị lực và sức mạnh
tâm linh của Ngài có thể biến sự dối trá thành sự thật
và biến đổi ảo tưởng thành ra sự thật. Chúng ta cũng
nên nhắc lại ở đây câu chuyện thí dụ tả những khí giới
mà ma vương đã ném đến đức Phật dưới cội Bồ đề.
Tất cả khí giới nguy hiểm ấy đã biến thành hoa và bay
xuống quanh đức Phật một cách vô hại. như vậy ta cũng
không lạ khi thấy nhiều biến cố mà Pháp sư đã gặp phải
xuất hiện như những phép mầu hay những "trò bịp bợm" đối
với một vài người, tuy nhiên đối với pháp sư chúng lại
hoàn toàn tự nhiên và thực hữu. Một điều nữa chúng ta
nên nhớ là sự chân thành và trung thực của Pháp sư thì
vô địch mà về vấn đề này thì không ai chối cãi.
Đọc
Thêm:
Ðường
Tăng Thỉnh Kinh