VII.
HUYỀN TRANG, NHÀ TRƯỚC TÁC
Về
phương diện trước tác, Pháp sư không để lại nhiều tác
phẩm, vì Ngài quá bận với việc dịch thuật. Ngoài ra, Ngài
cũng còn nhiều việc làm khác để làm.
Khi
còn ở Ấn Độ, để dung hòa hai phái Đại thừa, Trung quán
và Du già, Pháp sư đã viết bản Hội tông luận, "về sự
dung hòa hai phái", gồm 3.000 đoạn. Tác phẩm này viết bằng
Phạn ngữ. Đưa cho Giới Hiền Pháp sư xem, Ngài ca tụng nhiệt
liệt và khuyên tất cả nên tìm đọc. Để bác những lời
chỉ trích của các pháp sư tiểu thừa, như Prajnagupta (Bát-nhã-cúc-đa)
đã viết một bản văn gồm 700 đoạn đã kích Đại thừa,
Pháp sư viết cuốn "Chế ác luận" gồm 1.600 đoạn để bác
bỏ cuốn sách trên bằng giáo lý đại thừa.
Thật
vô cùng đáng tiếc vì 2 bản văn viết bằng Phạn ngữ này
đã mất và đến cả bản dịch cũng không còn, vì chúng ta
muốn biết Pháp sư làm sao để dung hòa hai học phái Trung
quán, Du già và Ngài đã bác bẻ lý thuyết tiểu thừa ra sao
để lập Đại thừa giáo. Tương truyền Ngài khởi dịch cuốn
Đạo đức kinh ra Phạn ngữ theo lời yêu cầu của vua Kamarupa
nhưng trong cuốn "Đời Ngài Huyền Trang" của Tỳ kheo Huệ
Lập không nói đến tác phẩm này.
Khi
Pháp sư trở về Trung Quốc, thể theo lời Hoàng đế Trung
Hoa, Ngài viết Tây Vức ký, ghi lại cuộc du lịch Tây Vức
bằng tiếng Trung Hoa. Tác phẩm này được tàng trữ trong tạng
kinh Trung Hoa, mang số 1503, bản Thư tịch về Tam tạng Trung
Hoa của Nanjio hợp tác với Biện Cơ. Chúng ta có thể chắc
chắn rằng tất cả các tài liệu đều do Pháp sư cung cấp,
còn lời văn, sự chọn chữ và câu thì do Biện Cơ đảm nhiệm,
và cả hai cùng bàn về các đoạn mạch và sườn cốt của
cuốn sách.
Trong
tác phẩm này, Pháp sư nói đến những xứ Ngài đã viếng
thăm hay nghe nói, và tả chúng một cách tỉ mỉ dựa theo một
dàn bài vạch sẵn. Những xứ quan trọng Ngài đã viếng thăm
và nói đến gồm 138 xứ, kể theo thứ tự sau đây theo Tây
du ký.
a-
Tên xứ sở:
Cuốn
1:
1.
A-kỳ-ni
2.
Khuất-chi
3.
Bát-lộc-ca
4.
Nô-xích-kiến
5.
Giả-thời
6.
Bố-hãn-quốc
7.
Tốt-đổ-lỵ-sắc-na
8.
Táp-mạt-kiến
9.
Nhị-mạt-hạ
10.
Kiếp-bố-đát-na
11.
Khuất-xương-nhĩ-ca
12.
Hát-hãn
13.
Bổ-hát
14.
Phát-địa
15.
Hóa-lỵ-tập-di-già
16.
Yết-sương-na
17.
Đát-mật
18.
Xích-ngạc diễn-na
19.
Hốt-lộ-ma
20.
Dũ-mạn
21.
Cúc-hòa diễn-na
22.
Hoạch-sa
23.
Kha-đốt-la
24.
Câu-mế-đà
25.
Dược-già-lãng
26.
Hất-lô tất-manh-kiên
27.
Hốt-lẫm
28.
Phược-hát
29.
Nhuệ-mạt
30.
Hồ-thiệt-kiện
31.
Đạt-thích-kiện
32.
Yết-chức
33.
Phạm-diễn-na
34.
Ca-tất-thí
Cuốn
2
35.
Lam-ba
36.
Na-yết la-hạt
37.
Kiện-đà-la
Cuốn
3
38.
Ô-trượng-na
39.
Bạt-lộ-na
40.
Đát-hựu thỉ-la
41.
Tăng-ha bổ-la
42.
Ô-lặc-thi
43.
Ca-thấp di-la
44.
Bán-nô-ta
45.
Yết-la-xà bổ-la
Cuốn
4
46.
Kiệt-ca
47.
Chí-na bộc-để
48.
Xà-lạn đạt-la
49.
Khuất-lộ-đa
50.
Thiết-đa-đồ-lô
51.
Ba-lý-dạ-đát-la
52.
Mạt-thố-la
53.
Tát-tha-nê-thấp-phạt-la
54.
Tốt-lộc-cần-na
55.
Mạt-để bổ-la
56.
Bàn-la-hấp-ma-bổ-la
57.
Cụ-tỳ-sương-na
58.
Á-bê-chế-đát-la
59.
Tỳ-la-san-nỏa
60.
Kiếp-tỷ-tha
Cuốn
5
61.
Yết-nhã cúc-xà
62.
A-du-đà
63.
A-da-mục-khê
64.
Bát-lã-da-già
65.
Kiều-thưởng-di
66.
Bệ-sách-ca
Cuốn
6
67.
Thất-la-phạt-thất-để
68.
Kiếp-tỷ-la-phạt-tốt-đổ
69.
La-ma
70.
Câu-thi-na yết-la
Cuốn
7
71.
Bàn-la-niết-tư
72.
Chiến-chủ
73.
Phệ-xá-ly
74.
Phất-lật-thị
75.
Ni-ba-la
Cuốn
8 và 9
76.
Ma-kiệt-đà
Cuốn
10
77.
Y-lạn-nỏa-bát-phát-đa
78.
Chiêm-ba
79.
Yết-châu-ôn-kỳ-la
80.
Bôn-na-phạt-đàn-na
81.
Ca-ma-lũ-ba
82.
Tam-ma-đát-tra
83.
Đam-ma-lật-để
84.
Kiết-na-nỏa-tô-phạt-lặc-na
85.
Ô-đà
86.
Cung-ngự-đà
87.
Yết-lăng-già
88.
Kiều-tát-la
89.
Án-đạt-la
90.
Đà-na-yết-kiệt-ca
91.
Chây-lỵ-da
92.
Đạt-la-tỳ-đà
93.
Lâm-la-cư-tra
Cuốn
11
94.
Tăng-già-la
95.
Cung-kiến-na-bổ-la
96.
Ma-ha-lặc-đà
97.
Bạt-lộc yết-liệp-bàn
98.
Ma-ha-lạp-bàn
99.
A-tra-li
100.
Khế-tra
101.
Phạt-lạp-tỳ
102.
A-nan-đà-bổ-la
103.
Tô-lặc-đà
104.
Cụ-chiết-la
105.
Ô-xà-diễn-na
106.
Trịch-chỉ-đà
107.
Ma-hê-thấp-phạt-la-bổ-la
108.
Tín-độ
109.
Mậu-la-tam-bộ-lô
110.
Bát-phạt-đa
111.
A-điểm-bà-súy-la
112.
Lang-yết-la
113.
Ba-lặc-tư
114.
Tí-đa-thế-la
115.
A-phản-trà
116.
Phạt-lặc-nỏa
Cuốn
12
117.
Tào-cử-tra
118.
Phất-lật-thị-tác-đảng-na
119.
An-đát-la-phược
120.
Khoát-tất-đa
121.
Hoạt-quốc
122.
Măng-kiện
123.
A-lị-ni
124.
Yết-lã-hồ
125.
Ngật-lật-sắc-ma
126.
Bát-lị-hạt
127.
Hê-ma-đạt-la
128.
Bát-đạt-sáng-na
129.
Dâm-bạc-kiện
130.
Khuất-lãng-nỏa
131.
Đạt-ma-tất-thiết-đế
132.
Thi-khí-ni
133.
Thương-di
134.
Kiếp-bàn-đà
135.
Ô-sái
136.
Khê-sa
137.
Chiếc-cú-ca
138.
Cú-tát-đát-na
b.-
Hoàn cảnh địa lý
Khi
tả về xứ nào, Pháp sư đề cập đến địa dư trước hết.
Nhờ thế mà chúng ta biết rằng kinh đô Kucha (Khuất-chi) chẳng
hạn, dài chừng 1.000 lý từ đông sang tây và 600 lý từ trung
tâm đến phía bắc. Kinh đô Kosala dài chừng 1.000 lý vây quanh
là núi. Rừng dày trùng điệp và chu vi của thủ đô ước
chừng 40 lý. Kinh đô Ma-kiệt-đà chu vi chừng 5.000 lý.
c.
Đất đai và nông nghiệp
Sau
khi tả hoàn cảnh địa lý, Pháp sư đề cập đến đất đai
và nông nghiệp. Xứ Kashmir chẳng hạn, rất thuận lợi cho
nghề trồng trọt và sản xuất hoa quả dồi dào. Xứ Udyana
không được phì nhiêu và sản phẩm của đất đai không được
dồi dào, mặc dù người ta gieo tất cả loại hạt giống.
Xứ này sản xuất rất nhiều nho nhưng ít mía. Đất có nhiều
vàng và sắt lợi cho việc trồng cây củ nghệ. Những khu
rừng tăng trưởng rất mạnh và hoa quả dồi dào. Và xứ
Ma-kiệt-đà, đất đai rất phì nhiêu, mùa màng xanh tốt. Lúa
trồng rất nhiều hạt lớn và có vị ngon ngọt. Lúa này có
màu sắc sang chói và thường được cho là loại lúa của
những bậc vương giả dùng.
d.
Khí hậu
Sau
đó Ngài tả về khí hậu. Xứ Mathùra (Mạt-thố-la) chẳng
hạn, có một khí hậu nóng trong khi xứ Samarkand (Táp-mạt-kiên)
khí hậu ôn hoà. Xứ Udyana mùa hạ và đông điều độ, gió
mưa đúng thời. Xứ Ca-thấp-di-la thời tiết băng giá, tuyết
rất nhiều nhưng gió không dữ dội lắm.
e.
Tánh tình và phong tục
Kế
đến Pháp sư đề cập đến tánh tình và tập quán của người
dân chẳng hạn những người ở Urasa (Ô-lắc-thi) không biết
đến công lý hay lễ lạc gì, họ có bản chất bạo động
và hung dữ, ưa lừa dối lường gạt. Họ không tin Phật giáo.
Người xứ Vaisali (Phệ-xá-li) trái lại, thật thà hiền lương,
họ kính đạo đức, trọng học vấn. Họ cũng có người
tà đạo và người theo chính pháp. Người xứ Varanasi thì
lễ độ ôn hoà, kính trọng những người hiếu học. Phần
đông tin theo tà thuyết, trừ một số ít tin theo Phật giáo.
Người xứ Ma-kiệt-đà tính tình giản dị trung thực. Những
người này kính trọng người ham học và rất tôn sùng Phật
pháp.
f.
Những chùa thờ Phật và Đền thờ Thần
Kế
đến Pháp sư nói đến số lượng chùa và đền Ngài thấy
ở trong xứ. Ở Kiều chưởng di chẳng hạn có chừng 12 chùa
suy sụp và hầu như hoang vu. Có tất cả chừng 500 vị sư
ở trong những chùa ấy học giáo lý tiểu thừa. Có chừng
50 đền thờ thần và số người tà giáo rất đông. Ở Xá-Vệ,
có hàng trăm ngôi chùa phần đông đổ nát, ở đấy một
số ít sư họ giáo lý của pháp Chánh lượng bộ. Ở Ma-Kiệt-Đà,
có chừng 50 chùa chứa 10.000 vị tăng học Đại thừa giáo.
Có nhiều đền thờ thần và người tà giáo rất đông.
g.
Những tháp thờ Phật tích
Pháp
sư không bao giờ quên tả chi tiết những bảo tháp và chùa
chiền chứa Xá lợi Phật hay có liên quan đến một vị học
giả Ấn Độ danh tiếng nào. Chẳng hạn trong Vương quốc
Ba-Lợi-Ca, có một ngôi chùa mới. Trong chùa này, ở giữa
phòng thờ tượng Phật về phía Nam có một cái chậu Đức
Phật thường dùng để tắm rửa, chứa chừng một "thốn"
nước. Có nhiều màu chói mắt, nhưng thật khó nói được
chậu ấy làm bằng thứ kim loại hay đá gì. Ngoài ra còn có
một cái răng Phật dài chừng 2 phân, rộng 1 phân, màu trắng
ngà và chất sáng trong. Lại có môt chiếc cán chổi của Phật
làm bằng thứ cỏ Kusa dài chừng 5 tấc, chu vi hơn 1 tấc.
Cán nạm ngọc quý.
Tại
xứ Vàrànasi, về phía đông bắc thủ đô, phía tây sông Vàrànasi,
có một bảo tháp do vua A-Dục xây, cao hơn 24 thước, phía
trong dựng một trụ đá màu xanh nhạt, bóng như gương. Mặt
trụ sáng loáng rõ ràng, và thường thường có thể thấy
hình của Như Lai. Về phía tây nam chùa Lộc Uyển, có một
bảo tháp bằng đá cũng do vua A-Dục xây. Mặc dù nền tháp
đã suy sụp, tháp vẫn còn cao chừng hơn 24 thước. Trước
tháp có một trụ đá cao gần 20 thước, đá bóng sáng. Những
người thành tâm đến khấn vái có thể thấy được nhiều
hình ảnh khác nhau tùy điềm xấu tốt, và có nhiều người
thấy thật. Đấy là nơi Như Lai đã chuyển Pháp luân sau khi
chứng ngộ.
h.
Chùa liên quan đến những đệ tử Phật
Suốt
cuộc Tây du, Pháp sư tả tỉ mỉ tất cả những ngôi chùa
có liên hệ đến những đại đệ tử Phật. Khi Ngài đến
xứ Mathurà (Mạt-thố-la), Ngài thấy những bảo tháp chứa
di tích những đệ tử Phật danh tiếng nhất như Ngài Xá-Lợi-Phất,
Mục-Kiền-Liên, Phú-Lâu-Na Di Đà-La-Ni-Tử, Ưu-Ba-Li, A-Nan,
La-Hầu-La, Văn-Thù và nhiều Bồ tát khác. Hàng năm suốt ba
tháng ăn chay (tam nguyệt trai: tháng Giêng, tháng Năm, tháng
Tám Âm lịch) và 6 ngày chay (lục trai) trong tháng, những tín
đồ tranh nhau để lễ bái, dâng cúng phẩm vật cho những
tháp ấy. Tháp ngài Xá Lợi Phất thường được những người
học giáo lý A-tỳ-đàm cúng bái, tháp Mục-Kiền-Liên do những
người học tham thiền, tháp Mantaniputra do những người tụng
kinh, tháp Ưu-Bà-Li do những vị ni sư, tháp La-Hầu-La do những
người chưa thọ đại giới và tháp những Bồ tát do những
người đại thừa.
Ở
thủ đô A-du-đà có một ngôi chùa cổ, ở đấy Thế thân
Bồ tát trú trong 10 năm; trong thời gian ấy Ngài viết nhiều
luận tiểu thừa và đại thừa. Gần đấy có một ngôi chùa
cũng xưa là nơi Bồ tát Thế Thân giảng pháp cho những vị
vua nhiều xứ, cho những ẩn sĩ và Bà la môn từ bốn phương.
Về phía bắc bảo tháp chứa tóc và ngón tay, có những di
tích một ngôi chùa cổ. Ngài luận sư Thắng Thọ phái Kinh
bộ soạn bộ Tỳ-bà-sa luận ở đấy. Cách chừng 5 hay 6 lý
về phía tây nam của thủ đô, ở giữa rừng cây Yêm-một-la,
có một ngôi chùa cổ, ở đấy Bồ tát Vô Trước nghiên cứu
học hỏi và hướng dẫn những người xuất gia, cư sĩ. Bồ
tát Vô Trước lên Linh Đài để học Di Lặc Bồ tát về Du
già Sư-địa-luận, Trang nghiêm Đại thừa kinh luận, Trung
biên Phân biệt luận v.v... và giảng giáo pháp vi diệu cho
Đại chúng. Về phía tây bắc ngôi giảng đường cũ ấy người
ta thấy một ngôi chùa cổ gần sông Hằng về phía bắc. Ở
giữa ngôi chùa ấy, có một bảo tháp cao hơn 25 thước, đây
là nơi Thế Thân Bồ tát lần đầu tiên khát khao giáo lý
đại thừa. Ở A-gia mục khư (khư: có nghĩa là gò đất hay
khoảng đất bỏ hoang [BT]) có một ngôi chùa hơn 200 vị tăng.
Đấy là nơi ngày xưa luận sư Giác Sứ soạn bộ Luận Đại-Tỳ-bà-sa.
Lại ở ca Thấp Di La, có một ngôi chùa 30 vị tăng, nơi ấy
ngày xưa Tăng già Bạt-Đà-La soạn bộ Thuận chánh lý luận.
i.
Những câu chuyện
Pháp
sư không bao giờ quên kể những chuyện liên quan đến xứ
sở hay nơi mà Ngài đến viếng. Nhờ vậy sự tường thuật
của Ngài thêm linh động với những câu chuyện hứng thú
lượm lặt từ khẩu truyền. Khi Pháp sư đến A-du-đà, Ngài
kể chuyện Bồ tát Thế Thân theo Đại thừa như sau:
"Ở
trong một ngôi chùa cũ có một tháp gạch cao chừng 25 thước.
Đấy là nơi Thế Thân lần đầu tiên khao khát Đại thừa
giáo. Ngài Thế Thân đến từ Bắc Ấn. Lúc ấy Ngài Vô Trước
sai một môn đệ ra gặp ngài Thế Thân. Người môn đệ đứng
ngoài cửa sổ và khi đêm đã quá khuya, ông bắt đầu tụng
kinh Thập địa, Thế Thân cảm thấy tâm bừng sáng và hối
hận vô cùng vì đã không nghe được giáo lý vi diệu thậm
thâm. Ngài quy mọi sự luống dối cho cái lưỡi, và dùng một
con dao toan cắt lưỡi mình để sám hối khẩu nghiệp quá
khứ. Nhưng Ngài Vô Trước liền đứng trước mặt tán dương
Ngài như sau:
"Giáo
lý đại thừa chứa những nguyên lý vi diệu của chân lý,
chư Phật đều tán thán Đại thừa và thánh hiền thờ kính.
Bây giờ tôi muốn nói, đã đến lúc ông nên tự mình nhận
thức. Không gì công đức bằng. Theo lời dạy cao cả của
chư Phật, cắt lưỡi không phải là sám hối. Ngày xưa, lưỡi
ông dùng để phí báng Đại thừa, thì nay ông nên dùng lưỡi
sửa lỗi mình và tự đổi mới, đấy là điều hay nhất.
Nếu ông ngậm miệng không còn thốt lời nào thì phỏng có
ích lợi gì?"
Nói xong
Vô Trước biến mất. Thế Thân vâng lời, không cắt lưỡi
nữa. Sáng hôm sau, Ngài đến lạy VôTrước, và được nghe
giảng Đại Thừa. Từ đấy Thế Thân ngày đêm học hỏi,
tư tưởng cao rộng. Ngài viết chừng 100 bộ luận về Đại
thừa được rất nhiều người đọc và bàn đến."
Khi
Pháp sư đến Xá-vệ, Ngài kể chuyện quy y của Chỉ-Man theo
Phật giáo, chuyện ông Cấp Cô Độc mua Kỳ Viên, chuyện vua
Lưu Ly tàn sát dòng họ Thích Ca.
Khi
tả về thành Ca-Tỳ-La-Vệ, Pháp sư còn tả tỉ mỉ chuyện
Tiên A-Tư-Đà đoán vận mệnh thái tử và những giai đoạn
trong đời Cù Đàm từ lúc ở nhà tại kinh đô Ca-Tỳ-La-Vệ.
Khi kể về Câu-Thi-Na, Pháp sư kể rành mạch chuyện đức
Phật nhập Niết bàn và chuyện ba lần Ngài đã ra khỏi quan
tài. Lần đầu tiên Ngài đưa ra hai cánh tay và hỏi A-Nan xem
ca Diếp đã đến chưa. Lần thứ hai, Ngài ngồi dậy giảng
pháp cho thân mẫu. Lần thứ ba Ngài đưa chân ra cho Ma-Ha-Ca-Diếp.
Tại Ba-La-Nại, Pháp sư kể chuyện Bồ tát sinh làm nai chúa
và đã tình nguyện hy sinh mình để cứu sống một nai mẹ.
Ngài cũng kể tường tận về lần thuyết pháp đầu tiên
của đức Phật ở Phệ-xá-ly. Ngài kể chuyện người con
gái có chân nai và sinh 1.000 con trai. Ở Ma-Kiệt-Đà, Pháp sư
kể chuyện địa ngục do vua A-Dục xây, chuyện thành phố
Ba-tra-ly-Phật, chuyện A-Pháp A-Ma-Lặc, sự quy y của A-Dục,
và cuộc tranh luận giữa những Phật tử và người ngoại
đạo.
j.
Hoàn cảnh địa dư của Ấn Độ
Ngoài
sự tường thuật các xứ sở Ngài đã đi qua, Pháp sư còn
nhận xét tổng quát về địa dư xứ Ấn, khí hậu, phép đo
lường, thiên văn, lịch pháp, các thành phố, lâu đài, chỗ
ngồi, cách ăn mặc, áo quần, tập tục, sự sạch sẽ và
hay tắm của dân chúng, chữ viết, ngôn ngữ, sách, sự nghiên
cứu Phệ-đà, những tông pháp Phật học, những giai cấp,
hôn nhân, hoàng gia, thuốc, v.v... Sự miêu tả này rất quan
trọng vì nó trình bày một hình ảnh rõ ràng của xứ Ấn
Độ vào thế kỷ thứ 7 cùng với phong tục tập quán của
dân chúng, sự giáo dục, chính thể v.v...
Trước
hết, Pháp sư giảng tên của Ấn Độ như sau:
Danh
từ Thiên Trúc có nhiều cách giảng khác nhau và rất mơ hồ.
Ngày xưa Tàu âm là Thân độc hay Hiền đậu, ngày nay được
trở thành Ấn Độ theo Hoa ngữ có nghĩa là mặt trăng. Mặt
trăng có nhiều danh từ chỉ và Ấn Độ là một. Vì trong
xứ này những thánh hiền thường hướng dẫn thế sự như
mặt trăng chiếu khắp. Do đó mà có tên Ấn Độ.
Đoạn
Pháp sư tả chu vi của 5 xứ Ấn là hơn 90.000 lý. Ba bề là
biển. Về phía Bắc có núi tuyết chắn ngang, rộng về phía
bắc hẹp về phía nam, có hình bán nguyệt. Toàn diện tích
đất chia thành 70 xứ. Các mùa nóng nực và đất có nhiều
nước. Đất trồng trọt đựơc dẫn thủy dồi dào nên rất
phì nhiêu. Miền nam có nhiều rừng, nhiểu cỏ và xanh tốt.
Miền tây đất chai sạn và không hoa mầu.
k.
Tinh thần, bản sắc dân Ấn
Pháp
sư có những nhận xét sau đây về tính tình, tinh thần người
Ấn.
Mặc
dù họ có bản tính rụt rè hấp tấp, họ tỏ ra rất lương
thiện và trực tính. Về tài sản họ không làm giầu phi pháp.
Về các nhiệm vụ công dân, họ cho phép nhiều dễ dãi. Họ
sợ hình phạt đời sau và khinh thường nghề nghiệp sinh lợi.
Họ không ưa dối trá lường gạt, và dùng sự thề thốt
để tôn trọng giao ước. Nền hành chính của họ rất mực
công bình chính trực, phong tục tập quán rất thanh bình hòa
nhã. Những tội nhân phản loạn vượt luật triều đình hoặc
âm mưu phản chủ thường bị cầm tù khi việc ác bại lộ.
Nhưng họ không bị hình phạt thể xác. Họ được tự do
sống chết mặc họ, nhưng không được kể làm người nữa.
Nếu có phạm vào thuần phong mỹ tục hay công lý, không trung
hiếu, thì bị cắt mũi, tai hoặc chân hay đày biệt xứ hoặc
đến biên địa hoang vu. Về những tội khác, có thể nộp
tiền để chuộc tội. Các tội nhân không bị tra tấn để
ép thú tội. Nếu một tội nhân thành thật thú tội thì chỉ
bị phạt xứng với tội lỗi. Nếu tội nhân cố che giấu
bào chữa, sẽ bị thử thách bằng 3 thứ: nước, lửa, thuốc
độc để biết sự thật và trị tội. (Nếu quả thật vô
tội, thì nhờ các thần linh, ba thứ ấy sẽ không làm hại
được người bị thử thách theo lòng tin thời bấy giờ.
Lời chú của dịch giả).
l.
Sự sạch sẽ:
Pháp
sư tỏ ra có nhận xét sắc bén khi Ngài kể về những đặc
điểm sau đây của người Ấn, về sự sạch sẽ của họ,
về sự tắm rửa trước sau khi ăn, sự tắm bằng nước thơm:
"Họ
hết sức tôn trọng sự sạch sẽ. Không mãnh lực gì đổi
được ý định của họ về phương diện này. Trước khi
ăn họ tắm rửa. Họ không bao giờ ăn thức ăn thừa. Chén
bát ăn không được chuyền quanh. Những chén bát gỗ và đất
mỗi khi dùng là bỏ. Chén bát bằng vàng, bạc, đồng, sắt
thì được chùi đánh bóng. Sau khi ăn, họ dùng cành liễu
để xỉa răng, đoạn rửa tay, súc miệng. Trước khi tắm
rửa, họ không động chạm nhau. Sau khi tiểu tiện họ cũng
rửa sạch. Thân thể họ thoa nhiều thứ hương khác nhau gọi
là phấn trầm hương và mạt hương. Khi những vị vua tắm
thì có nhạc công đánh trống đàn hát. Trước khi dâng lễ
hay cầu nguyện họ cũng tắm rửa rất kỹ càng."
m.
Giáo dục:
Pháp
sư có vài nhận xét đúng đắn về giáo dục ở Ấn. Những
trẻ vỡ lòng học cuốn sách 12 chương gọi là Tất-đàm.
Sau khi lên bảy họ lần lượt học các bộ luận sau đây:
1.
Thanh minh: Khoa học về âm thanh, danh từ, ngôn ngữ, nguồn
gốc và những chữ cùng gốc.
2.
Công xảo minh: khoa học về các nghệ thuật, tiểu xảo, máy
móc, âm dương, lịch v.v...
3.
Y phương minh: Khoa học về y lý, bao gồm những câu thần chú,
bí thuật, đá trị bệnh, thuật châm cứu v.v...
4.
Nhân minh: Khoa học về những vấn đề nội tại, xét về
ngũ luân, những nguyên lý vi tế về nhân quả.
Những
người Bà-la-môn học bốn quyển Vệ-đà.
1.
Thọ (Ayurveda): Dạy sự dưỡng sanh tính tình nhân cách.
2.
Trì (Yajurveda): Nói về tế lễ, cầu nguyện.
3.
Bình (Sàmaveda): Nói về lễ nghi, bói toán, chiến lược, binh,
chiến hành.
4.
Chú (Atharvaveda): Khoa học về thần bí như niệm chú, thuốc.
n.
Sự đo lường:
Pháp
sư tả sơ qua về đơn vị chiều dài của người Ấn thời
bấy giờ. Đơn vị căn bản là do tuần bằng một ngày quân
hành, theo truyền thống các vị thánh vương xưa để lại.
Tính theo thời xưa 1 do tuần bằng 40 lý. Ở Ấn thường dân
tính nó bằng 30 lý và trong các thánh giáo, nó bằng 16 lý.
Một do tuần bằng 8 Câu-lô-xá (Kroshas). Một Câu-lô-xá là
khoảng cách từ đấy 1 tiếng bò rống to có thể nghe. Câu-lô-xá
(Kroshas) gồm có 500 cung (dhanu). Một cung (dhanu) chia thành 4
khuỷu tay (hastas). Một khuỷu tay (hasta) gồm 24 đốt (angulis).
Một đốt tay (anguli) gồm 7 hạt lúa (yavas) v.v... cho đến
1 con chấy (yuka), con rận (liksha), một hạt bụi trong ánh nắng
xuyên qua khe cửa, một sợi lông bò, 1 lông cừu, 1 lông thỏ
v.v... mỗi thứ chia thành 7 phần đến 1 anu (vi tế). Hạt bụi
nhỏ xíu này chia ra 7 phần thành một hạt vô cùng nhỏ, không
thể chia được nữa mà không trở thành hư vô, và được
gọi là cực vi.
Pháp
sư lại nói đến sự phân chia thời gian ngắn nhất gọi là
sát-na (kshana), 120 sát-na làm thành một đát sát-na (takshana),
60 đát-sát-na bằng 1 lạp-phược (lava), 30 lạp phược bằng
1 mâu-hô-lật-đa (muhurta), 5 mâu-hô-lật-đa thành một thời
(kala), 6 thời (kàlas) thành một ngày đêm (ahoratra). Nhưng thường
người ta chia ngày đêm thành 8 kàlas (8 thời). Khoảng thời
gian từ trăng khuyết cho tới trăng tròn gọi là suklapaksha
(bạch-phần). Khoảng thời gian từ trăng thượng tuần cho
đến khi tối hoàn toàn gọi là krishnapaksha (hắc-phần). Khoảng
này dài 14 hay 15 ngày vì có tháng thiếu, tháng đủ. Hắc phần
và bạch phần tiếp theo làm thành một tháng, 6 tháng là 1
hành (ayana). Khi mặt trời di chuyển bên ngoài thì gọi là
Bắc hành, khi di chuyển bên trong thì gọi là Nam hành. Hai thời
kỳ này họp thành một năm (vatsara). Một năm lại chia thành
6 mùa. Từ ngày 16 tháng giêng đến rằm tháng 3, thời tiết
dần dần nóng nực. Từ 16 tháng 5 đến rằm tháng 7 là mùa
mưa, từ 16 tháng 7 đến rằm tháng 9 là mùa tăng trưởng mãnh
liệt, từ 16 tháng 9 đến rằm tháng 11 là mùa dần dần lạnh,
từ 16 tháng 11 đến rằm tháng 12 là mùa rất lạnh.
Theo
thánh giáo của Như Lai, một năm chia ra 3 mùa. Từ ngày 16 tháng
giêng đến rằm tháng 5, đây là mùa nóng, từ 16 tháng 5 đến
rằm tháng 9 là mùa mưa. Từ 16 tháng 9 đến rằm tháng giêng
là mùa rét. Hoặc năm chia làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Ba tháng mùa xuân gọi là Chế-tát-la (chaitra), Phệ-xá-thư
(vaisakha), Thệ-sắt-ha (jyeshtha), theo trung Hoa là từ ngày 16
tháng giêng đến rằm tháng 4. Ba tháng mùa hạ là An-sa-đà
(Ashadha), Thất-phiệt-nỏa (Sravan), Bàn-đát-la-bát-đà (Bhadrapada)
từ ngày 16 tháng 4 đến rằm tháng 7. Ba tháng mùa thu là A-thấp-phược-khố-xà
(Asvina), Ca-lặc-để-ca (Karttika), Mạt-già-thủy-ra (Màrgasirsha)
từ ngày 16 tháng 7 đến rằm tháng 10. Ba tháng mùa đông là
Báo-sa (Pushya), Ma-khư (Bàgha), Phá-lặc-lũ-noa (Phalguna), từ
ngày 16 tháng 10 đến rằm tháng giêng. Theo cách phân chia này,
những vị tăng theo lời dạy của Phật, thường giữ hai mùa
an cư, hoặc là ba tháng đầu hay ba tháng sau. Ba tháng đầu
theo Trung Hoa từ 16 tháng 5 đến rằm tháng 8. Ba tháng sau từ
16 tháng 6 đến rằm tháng 9. Những vị dịch kinh và luận
ngày xưa nói mùa kiết hạ kiết đông. Đấy là vì ở biên
địa không hiểu cách đọc của miền Trung Quốc cho đúng,
hoặc họ dịch kinh trước khi nắm vững thổ ngữ địa phương,
nên có lầm lẫn.
o.
Dinh thự nhà cửa
Pháp
sư cũng chú ý tả rất rành mạch về những thành phố, dinh
thự, nhà cửa: "Làng xóm đều có cổng hình vuông, rộng và
cao. Những con đường lớn, đường nhỏ thì ngoằn ngoèo,
không bằng phẳng, có nhiều ụ đất tường và cổng dơ dáy.
Sạp, cửa tiệm có những bảng tên và nằm hai bên đường.
Đồ tể, ngư ông, ca sĩ, kịch sĩ, đao phủ, người quét đường,
đều có nhà ở ngoài khu vực làng. Đi đường thì họ đi
bên trái. Nhà họ có thành bao quanh. Đất thấp và ẩm, những
thành quách có nhiều lớp gạch. Tường làm bằng tre đan và
gỗ. Nhà có hành lang và những lần gỗ có mái phẳng tô vôi
và lợp ngói. Những tòa lầu đều làm theo một kiểu như
ở Trung Hoa. Tranh, cói cỏ, ngói hay bảng gỗ đều được
dùng làm đồ lợp. Vôi hồ để tô tường. Nền nhà được
rắc phân bò cho hợp vệ sinh. Thỉnh thoảng cũng rắc hoa.
Những tu viện thì được xây cất khác thường, có gác chuông
ở bốn góc và những gian trại có tầng. Kèo cột đòn tay
đều có chạm trổ công phu. Cổng, cửa sổ, thành lũy đều
được vẽ nhiều hình để trang hoàng. Những nhà ở của
thường dân thì sặc sỡ ở bên trong và giản dị ở bên
ngoài. Chỗ danh dự là chỗ giữa nhà, cao rộng và đặc biệt.
Những gian phòng có nhiều tầng và những nhà hai tầng đều
theo những kiểu mẫu khác nhau. Cửa mở về phương đông.
Ngai vua cũng hướng đông."
p.
Chỗ ngồi, cách ăn mặc
"Để
ngồi và nghỉ ngơi, họ dùng giường bằng dây bện lại.
Những người trong Hoàng gia, những người tai mắt, học giả,
công chức, người giầu trang sức khác nhau, không theo cùng
một kiểu. Ngôi vua thì cao, rộng và cẩn nhiều ngọc, gọi
là ngai sư tử, bọc nhiều vải quý. Chỗ vua để chân được
trang hoàng bằng ngọc. Phần đông dân chúng và công chức
dùng những ghế ngồi chạm trổ đẹp đẽ và trang hoàng sặc
sỡ tùy thích."
Pháp
sư tả quần áo của họ không được may cắt, họ thích phục
sức giản dị mầu trắng và khinh thường những mầu sắc
hỗn độn lòe loẹt. Đàn ông mặc những tấm vải quấn quanh
thắt lưng, vắt qua vai và thòng xuống dọc thân thể về bên
phải. Áo đàn bà cũng quấn ngang thắt lưng và phủ xuống,
hai vai đều che kín. Trên đỉnh đầu họ có một búi tóc,
tóc còn lại bỏ xõa xuống, Một số người cắt râu mép
và có những tập tục kỳ dị. Họ mang tràng hoa quanh đầu,
thân thể trang sức bằng vàng ngọc và đeo kiềng cổ. Áo
của họ gồm có Kiều-xa-la (Kausheya) là lụa dệt bằng tơ
tằm hoang, Xô-ma (Kshauma) làm bằng vải kép, Kiêm-bát-la (Kambala)
dệt bằng lông dê mịn và có thể xoắn lại, được xem là
vải mặc rất quý. Ở Bắc Ấn, thời tiết cực lạnh, dân
chúng mặc áo quần chật và ngắn, trông như những người
rợ Hồ. Áo quần và cách trang sức của những người tà
giáo có nhiều kiểu pha trộn và nhiều màu. Họ mang lông công
và đuôi công, hoặc trang sức bằng sọ người (kapaladharinas)
và kiềng cổ, hay đi trần truồng. Họ mặc áo bằng lá hay
vỏ cây, nhổ tóc râu hoặc để tóc rất dài ở hai bên thái
dương, còn tóc trên đỉnh đầu thì bện lại. Áo quần thường
nhật thì không đồng nhất, có màu đỏ hoặc trắng.
Những
vị tăng có ba y, ba y ấy có nhiều kiểu tùy theo tông phái,
đường viền rộng hoặc hẹp, những mảnh vá (điệp) hoặc
nhỏ hoặc lớn. Áo tăng-khư-vĩ phủ vai trái che hai nách, hở
bên trái và kín bên phải, được cắt dài quá thắt lưng.
Áo Nê-phúa-ta-na không có thắt lưng, khi mặc thì xếp thành
những nẹp và buộc lại bằng dây. Màu áo thay đổi tùy tông
phái, hoặc vàng hoặc đỏ không giống nhau. Những người
giai cấp Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn trong sạch giản dị, sống
đạm bạc cần kiệm. Những vị vua, đại thần có áo quần
và đồ trang sức đẹp đẽ nhiều màu. Họ trang điểm đầu
bằng vòng hoa và mũ nạm ngọc, mang nhẫn, vòng, kiềng. Có
những thương gia giàu có chỉ chuyên bán đồ trang sức. Phần
đông đi chân trần, một số mang giày dép. Họ nhuộm răng,
đen hoặc đỏ, sửa soạn tóc, xâu tai, trang điểm mũi và
có mắt lớn. Đấy là vẻ bên ngoài của họ.
q.
Mẫu tự
"Về
mẫu tự thì do Brahmadeva (Phạm Thiên) sáng chế và truyền
lại cho đến nay. Có tất cả 47 chữ, phối hợp tùy đối
tượng và dùng tùy trường hợp. Mẫu tự này truyền bá sâu
rộng và lập thành nhiều ngành. Tùy địa phương và dân chúng
có ít thay đổi, nhưng kể chung các từ ngữ không khác nguyên
trạng bao nhiêu. Trung Ấn còn giữ sự chính xác của thần
thánh. Cách phát âm rất trong sáng và đáng làm mẫu mực.
Những người ở biên địa và vài vùng khác thì lại có nhiều
cách đọc sai lầm, thiên về sự thô hóa ngữ và không kể
đến sự duy trì bản sắc uyên nguyên. Về các ký sự, có
một viên chức ghi chép và giữ gìn. Những sử gia gọi là
Nilapita (Ni-la-bê-tra) ghi lại các biến cố lành dữ, các tai
ách và các việc may mắn đã xảy ra."
Như
vậy cuốn Tây Vực Ký ngày nay thật là quan trọng, vì đó
là cuốn sách độc nhất miêu tả một cách chính xác và linh
động xứ Ấn Độ vào thế kỷ thứ 7, với quang cảnh địa
lý, khí hậu, thảo mộc, nông nghiệp, với bản sắc dân tộc,
những nơi Phật tích. Cunningham viết sách về cổ Ấn với
cuốn Tây Vực Ký bên cạnh, ông ta định xứ các nước ngày
xưa và dò tên của chúng theo những chi tiết mà Pháp sư đã
viết trong sách Ngài. Hầu hết những Phât tích đều được
tìm ra và tên những tháp được xác nhận nhờ cuốn Tây du
của Ngài. Nhiều học giả Nhật đưa ý kiến làm lại cuộc
Tây du của Ngài Huyền Trang theo hết đường đi của Ngài
đến Ấn Độ, hy vọng sẽ có nhiều khám phá mới lạ quan
trọng trong phạm vi Phật học. Hơn nữa, trong cuốn sách này
Ngài cũng đã cho nhiều chi tiết về lịch sử Phật giáo,
sẽ làm sáng tỏ sự thành lập các chi phái Phật học và
nêu rõ vai trò của những luận sư quan trọng trong sự lập
thành các thuyết phái mới. Quyển Tây Vực ký của Pháp sư
thật dã đóng góp rất nhiều trong địa hạt lịch sử và
địa dư Ấn Độ, cũng như địa hạt Phật học.
Để
thấy phần nào tính tình cao thượng, học thức uyên bác và
văn chương điêu luyện của Ngài, chúng ta tạm dịch ra đây
toàn bức thư của ngài gửi cho Prajna-prabha (Trí Quang), một
vị Tỳ kheo Ấn ở Nalanda. Qua bức thư này, chúng ta cũng có
thể thấy được sự kính trọng của ngài đối với Pháp
sư Giới Hiển.
"Tỳ
kheo Huyền Trang triều Đường, xin cung kính gởi bức thư này
đến Tam tạng Trí Quang ở Ma- Kiệt-Đà, Trung Ấn. Kể từ
khi pháp đệ bái biệt Ngài, hơn 10 năm đã trôi qua. Vì đường
sá cách trở cho đến nay đệ vẫn chưa được tin tức gì
của Ngài và với thời gian hoài niệm của đệ về Ngài càng
ngày càng sâu đậm.
Nay
có Tỳ kheo Pháp Trưởng (Dharmarudha) đến cho hay Ngài vẫn
được khang an, đệ thực vui mừng như chính mắt được chiêm
ngưỡng tôn nhan, nỗi mừng không tả xiết. Nay tiết trời
có thay đổi ngày càng nóng nực, chẳng hay Ngài thấy pháp
thể thế nào.
Năm
qua, tin lại cho hay rằng luật vô thường đã mang đi vị pháp
sư cao cả của chúng ta, Ngài Giới Hiền. Nghe tin đệ thật
bàng hoàng như sét đánh ngang tai. Ôi! Con thuyền trên bể khổ
đã chìm và đôi mắt của trời và người đã khuất dạng.
Có ngờ đâu nỗi sinh ly đã giáng xuống chúng ta quá sớm.
Vị
hộ trì chánh pháp thật đã trồng những hạt giống lành
và vun xới cây công đức từ vô lượng kiếp, cho nên ngày
nay vóc mạo Ngài thì uy nghi, thiên tư thì xuất chúng. Ngài
đã thừa hưởng đức hạnh của ngài Thanh Thiên và vinh quang
của Ngài Long Thọ. Ngài đã đốt lại bó đuốc Tuệ và treo
cao ngọc chánh pháp. Ngài đã dập tắt ngọn lửa nồng trong
núi rừng tà kiến khắc phục cơn đại hồng thủy của biển
ngụy thuyết. Ngài đã cổ võ những người biếng nhác, khiến
họ tiến lên đường đến đất châu ngọc và đã chỉ đường
cho những kẻ lạc lầm. Vĩ đại thay, cao cả thay, cột trụ
lớn của cánh cửa Pháp mà Ngài là tượng trưng ấy.
Hơn
nữa, giáo lý tam thừa, nhị giáo, tất cả những đề tài
về thuyết trường tồn và hủy diệt của các tà phái Ngài
đều thông suốt tường tận. Ngài hiểu rõ nghĩa trong câu
uẩn khúc nhất và hiểu nghĩa tất cả những thuyết bí ẩn.
Những Phật tử và người khác đạo đều tìm đến Ngài
và Ngài trở thành vị lãnh đạo tâm linh của Ấn Độ. Những
lời dạy của Ngài chân thành và chính xác, Ngài dạy suốt
ngày đêm chẳng nề mỏi mệt. Lời dạy của Ngài làm lợi
lạc cho cả mọi người, biến đổi tùy theo nhu cầu và khả
năng của họ, và dòng kiến văn của Ngài không bao giờ cạn.
Ngay khi đệ đi tìm chánh pháp, đệ đã có may mắn được
dự các buổi thuyết pháp của Ngài và nghe những lời vàng
ngọc. Mặc dù còn ngu muội kém hèn, đệ cũng đã lãnh hội
được rất nhiều qua những lời Ngài chỉ giáo. Khi đệ trở
về xứ, Ngài đã không nề hà ban cho những lời dạy quý
hóa và ân cần nhắn nhủ. Ngay giờ đây, đệ vẫn còn như
vẳng bên tai tiếng Pháp âm huyền diệu. Chúng ta những tưởng
Ngài còn trường thọ để chúng ta được noi theo gương mẫu
cao vời của Ngài. Thế mà ngờ đâu, luật vô thường một
sớm đã gọi Ngài đi vào vô tận. Nghĩ đến sự Ngài khuất
bóng mà không trở lại, đệ thật muôn vàn cảm thán.
Pháp
huynh đã từ lâu thụ giáo với Ngài và hầu cận bên Ngài
từ thơ ấu, có lẽ pháp huynh khó lòng cưu mang nỗi biệt
ly đau đớn thế này. Nhưng chúng ta làm được gì bây giờ?
Mọi pháp đều phải chịu sanh diệt, luật vô thường khắt
khe dường ấy! Xin cầu mong pháp huynh chóng qua cơn tang thương
này mà không quá ưu tư.
Ngày
xưa, khi Đức Thế Tôn qua đời, Ca Diếp tôn giả can đảm
gánh trọng trách cao quý của Ngài và sau khi Thương Na Hoa Tu
từ trần, Ưu-ba-cúc-đa đã truyền bá chánh pháp sâu xa. Ngày
nay, Pháp sư đã khuất bóng, thiết nghĩ pháp huynh hãy tiếp
tục sứ mạng của Ngài. Cầu mong pháp âm huyền diệu của
huynh sẽ tuôn chảy như nước non cao. Trong các kinh điển mang
về, đệ đã dịch được bộ Du-già Sư-địa và những bộ
khác, tính cả hơn 30 quyển. Bản dịch Câu-xá và Thuận-chính-lý
vẫn chưa xong và đệ hy vọng hoàn tất năm nay.
Thiên
Tử Đường triều vẫn được khang an, giang sơn vững chắc,
với lòng từ bi của ngôi Thiên đế, Ngài đã đóng góp nhiều
trong công việc truyền bá giáo lý của đấng Pháp vương.
Ngài đã đề tựa cho tất cả những sách mới dịch. Ngài
ra lệnh cho đình thần sao chép các bản dịch và cho lưu hành
khắp xứ cũng như trong các nước lân bang. Mặc dù chúng ta
đang ở khoảng cuối của thời tượng pháp, giáo pháp cũng
vẫn còn chói ngời quang minh không khác thời mà Thế Tôn thuyết
trong vườn Thệ-đa, xứ Thất-la-phiệt.
Đây
là những tin tức đệ xin chuyển đến. Khi qua Tín-độ-hà,
đệ đã đánh mất một ngựa chở đầy kinh sách, đệ xin
viết lại đây những cuốn đã rơi mất. Kính mong tôn huynh
gởi lại cho đệ khi nào có dịp. Cùng với thư này, đệ
có kèm theo ít lễ vật cúng dường, xin tôn huynh hoan hỷ.
Đường dài trắc trở, khó thể gửi nhiều, dám mong tôn huynh
đừng chê trách.
Đệ
xin kính bái."
Đọc
Thêm:
Ðường
Tăng Thỉnh Kinh